Nước sạch Nông thôn
 
Để đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân tại ấp 7, xã Suối Dây; ấp 1 và ấp Trảng Ba Chân, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, UBND tỉnh Tây Ninh quyết định đầu tư xây dựng Công trình cấp nước ngã ba Bổ Túc (công trình) và giao Ban Quản lý dự án Đầu tư Xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT Tây Ninh làm chủ đầu tư. Công trình được xây dựng và đưa vào hoạt động tháng 5 năm 2018, có công suất thiết kế 480 m3/ngày.đêm, 545 hộ được đấu nối đồng hồ nước sử dụng. Sau khi công trình đi vào hoạt động chỉ có khoảng 100 hộ sử dụng. Trước những khó khăn trên, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cử cán bộ phối hợp với UBND xã Suối Dây và UBND xã Suối Ngô vận động người dân sử dụng. Đến tháng 10/2019, Công trình đã hoạt động với công suất thực tế 168m3/ngày.đêm (đạt 35% so với công suất thiết kế), cấp nước cho 607 hộ dân (vượt 10,36% công suất thiết kế). Công trình đảm bảo hoạt động ổn định, thời gian hoạt động cấp nước từ 5 giờ sáng đến 21 giờ tối, chất lượng nước đạt QCVN 02:2009/BYT.
 
Thực hiện kế hoạch nhiệm vụ trọng tâm công tác nước sạch nông thôn giai đoạn 2020-2025 được phê duyệt tại Quyết định số 4019/QĐ-BNN-TCTL ngày 23 tháng 10 năm 2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 25 và 26 tháng 11 năm 2019, Phó Giám đốc Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn - Ông Nguyễn Sơn Tùng làm trưởng đoàn khảo sát, đánh giá hiện trạng cung cấp nước hộ gia đình và cơ chế, chính sách hỗ trợ của địa phương để khuyến khích phát triển cấp nước nông thôn trên địa tỉnh Tây Ninh tại Quyết định số 05/2018-QĐ-UBND ngày 21 tháng 03 năm 2018 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020
 
Nước sạch là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất trong đời sống con người, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, góp phần duy trì và phát triển an sinh xã hội. Vì vậy, tiếp cận nguồn nước an toàn là nền tảng cho sức khỏe - điều này rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, tại một số vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, tình trạng thiếu nước thường xuyên xảy ra, gây tác động bất lợi đến đời sống, hoạt động sinh hoạt hàng ngày, nhu cầu phát triển của cộng đồng, nhất là phụ nữ và trẻ em.
 
Hiện nay, dân số trong khu vực xã Tân Hà ngày càng gia tăng, nhu cầu sử dụng nước sạch cũng tăng lên, tuy nhiên, khu vực này chưa có hệ thống cấp nước sạch phục vụ cho người dân địa phương, toàn bộ nước sinh hoạt đều thông qua hệ thống giếng khoan gia đình. Mặt khác, chất lượng nguồn nước ngầm hiện nay tại khu vực xã Tân Hà đang bị nhiễm phèn nặng, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt và sức khỏe của người dân.
 
Hiện nay, trên địa bàn xã Ninh Điền, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước tập trung ấp: Bến Cừ và Gò Nổi cung cấp nước khoảng 268 hộ dân, trong đó: công trình cấp nước ấp Bến Cừ: 147 hộ dân; Gò Nổi: 121 hộ dân. Tổng công suất thiết kế hai công trình cấp nước: 100m3/ng.đ (50m3/ng.đ/01 CTCN), công suất hiện tại hai công trình cấp nước thực tế vận hành: 94m3/ng.đ;
 
Thực hiện Kế hoạch số 1165/KH-UBND ngày 07/6/2019 của UBND tỉnh về việc thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh năm 2019; Kế hoạch số 471/KH-TTNS ngày 10/9/2019 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch đối với các xã xây dựng nông thôn mới năm 2019; Ngày 7/11/2019 tại UBND xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với Phòng Nông nghiệp Hòa Thành, tổ chức kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch. Tại cuộc họp Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trình bày theo quy định xã đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98% và tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT đạt 65%. Ngoài ra phải đáp ứng các tiêu chí 5 điều kiện công trình cấp nước bền vững;
 
Thực hiện Kế hoạch số 1093/KH-SNN, ngày 03/5/2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT triển khai Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh ban hành Quy định chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020; Công văn số 627/SNN-CCTL ngày 18/3/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2019; Năm 2019, huyện Tân Châu được Sở Nông nghiệp và PTNT giao kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện, tổng kinh phí: 3.542.000.000 đồng. Ngay từ đầu năm, Lãnh đạo UBND huyện Tân Châu chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, rà soát các hộ dân thuộc đối tượng hộ gia đình được hưởng chính sách theo quy định tại Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh; đồng thời xem xét chọn doanh nghiệp cung cấp hệ thống lọc nước hộ gia đình, phải đảm bảo uy tín chất lượng, chế độ bảo hành sản phẩm trong hợp đồng giữa doanh nghiệp với hộ dân (Công ty TNHH Kỹ thuật môi trường Sài Gòn Xanh). Để khách quan trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm nước sau khi gắn hệ thống xử lý nước hộ gia đình, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tân Châu đề nghị UBND xã Tân Hà trực tiếp lấy mẫu nước gửi về Sở Y tế xét nghiệm kết quả để làm cơ sở nghiệm thu theo quy chuẩn QCVN 02: 2009/BYT;
 
Ngày 8/10/2019, tại Hà Nội Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK, tổ chức Hội thảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) Ngành nước Citywork AI; Đến dự Hội thảo: Lãnh đạo Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK, đại diện các tỉnh, thành phố tham dự: Công ty Cổ phần cấp nước đô thị; Trung tâm Nước sạch Vệ sinh môi trường nông thôn và các doanh nghiệp, cá nhân ngành cấp nước; Nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động ngành nước trong thời gian tới, Công ty Cổ phần Công nghệ thông tin địa lý EK, nghiên cứu, phát triển và cung cấp các giải pháp ứng dụng công nghệ di động, công nghệ bản đồ số (GIS), công nghệ điện toán đám mây cho các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp; giới thiệu giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0 và báo cáo tham luận, ý kiến chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động cấp nước của các tỉnh, thành phố.
 
Ngày 07 tháng 06 năm 2019, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1165/KH-UBND về việc thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2019. Là 01 trong 06 xã trọng điểm đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019, chính quyền xã Thạnh Tân rất quan tâm đến việc xây dựng nông thôn mới, cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và nước sạch là yếu tố được quan tâm hàng đầu nhằm nâng chất lượng sinh hoạt, đời sống tinh thần và an sinh xã hội cho người dân.
 
Hiện nay, việc khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch do các đơn vị nhà nước quản lý nằm trong danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần theo Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg ngày 17 tháng 07 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg). Trình tự thực hiện Cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22 tháng 06 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Khảo sát, lắp đặt đồng hồ, đấu nối sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc cho các hộ dân ấp 7, xã Suối DâyNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKhảo sát, lắp đặt đồng hồ, đấu nối sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc cho các hộ dân ấp 7, xã Suối Dây/PublishingImages/2019-11/TTNS_Công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây, huyện Tân Châu.jpg
Để đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân tại ấp 7, xã Suối Dây; ấp 1 và ấp Trảng Ba Chân, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, UBND tỉnh Tây Ninh quyết định đầu tư xây dựng Công trình cấp nước ngã ba Bổ Túc (công trình) và giao Ban Quản lý dự án Đầu tư Xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT Tây Ninh làm chủ đầu tư. Công trình được xây dựng và đưa vào hoạt động tháng 5 năm 2018, có công suất thiết kế 480 m3/ngày.đêm, 545 hộ được đấu nối đồng hồ nước sử dụng.

Sau khi công trình đi vào hoạt động chỉ có khoảng 100 hộ sử dụng. Trước những khó khăn trên, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cử cán bộ phối hợp với UBND xã Suối Dây và UBND xã Suối Ngô vận động người dân sử dụng. Đến tháng 10/2019, Công trình đã hoạt động với công suất thực tế 168m3/ngày.đêm (đạt 35% so với công suất thiết kế), cấp nước cho 607 hộ dân (vượt 10,36% công suất thiết kế). Công trình đảm bảo hoạt động ổn định, thời gian hoạt động cấp nước từ 5 giờ sáng đến 21 giờ tối, chất lượng nước đạt QCVN 02:2009/BYT.
12/19/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

Khảo sát, lắp đặt đồng hồ, đấu nối sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc cho các hộ dân ấp 7, xã Suối Dây

 

Để đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân tại ấp 7, xã Suối Dây; ấp 1 và ấp Trảng Ba Chân, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, UBND tỉnh Tây Ninh quyết định đầu tư xây dựng Công trình cấp nước ngã ba Bổ Túc (công trình) và giao Ban Quản lý dự án Đầu tư Xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT Tây Ninh làm chủ đầu tư. Công trình được xây dựng và đưa vào hoạt động tháng 5 năm 2018, có công suất thiết kế 480 m3/ngày.đêm, 545 hộ được đấu nối đồng hồ nước sử dụng.

Sau khi công trình đi vào hoạt động chỉ có khoảng 100 hộ sử dụng. Trước những khó khăn trên, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cử cán bộ phối hợp với UBND xã Suối Dây và UBND xã Suối Ngô vận động người dân sử dụng. Đến tháng 10/2019, Công trình đã hoạt động với công suất thực tế 168m3/ngày.đêm (đạt 35% so với công suất thiết kế), cấp nước cho 607 hộ dân (vượt 10,36% công suất thiết kế). Công trình đảm bảo hoạt động ổn định, thời gian hoạt động cấp nước từ 5 giờ sáng đến 21 giờ tối, chất lượng nước đạt QCVN 02:2009/BYT.


Hình 1. Công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây, huyện Tân Châu

Qua quá trình hoạt động của công trình và thực hiện tốt công tác truyên truyền nên ý thức sử dụng nước sạch của người dân được nâng cao, hiện có 290 hộ dân tại ấp 7, xã Suối Dây có nhu cầu sử dụng nước sạch. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tổ chức, phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tân Châu, UBND xã Suối Dây khảo sát và đưa ra phương án, giải pháp hỗ trợ cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân tại đây. Kết quả điều tra có khoảng 156 hộ nằm trên  tuyến ống hiện hữu. Đối với các hộ dân này, có nhu cầu sử dụng nước, liên hệ nhân viên quản lý, vận hành Công trình để được hướng dẫn thủ tục đăng ký lắp đặt đồng hồ nước, các phụ kiện kèm theo và chịu chi phí đấu nối khoảng 01 triệu đồng/hộ.

Nếu các hộ dân này nằm xa tuyến ống cấp nước sạch, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiến hành xây dựng bảng dự toán chi phí thi công thêm tuyến ống cấp nước và phải chịu toàn bộ chi phí này.

Hiện tại, Công trình vẫn còn có khả năng cung cấp thêm nước sạch cho các hộ dân mà vẫn đảm bảo công suất hoạt động, UBND xã Suối Dây tiếp tục thống kê số hộ có nhu cầu sử dụng nước sạch và đăng ký để Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện thi công đường ống và lắp đặt đồng hồ nước.

Ngoài ra, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thường xuyên tổ chức rà soát tuyến ống, nâng cấp, sửa chữa công trình đảm bảo chất lượng và nhu cầu nước sạch phục vụ đời sống nhân dân, nâng cao sức khỏe cộng đồng./.

Tổng cục Thủy lợi khảo sát chính sách hỗ trợ của địa phương để khuyến khích phát triển cấp nước nông thôn tại tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTổng cục Thủy lợi khảo sát chính sách hỗ trợ của địa phương để khuyến khích phát triển cấp nước nông thôn tại tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2019-11/TTNS_Công trình cấp nước tập trung Khu dân cư Chàng Riệc.png
Thực hiện kế hoạch nhiệm vụ trọng tâm công tác nước sạch nông thôn giai đoạn 2020-2025 được phê duyệt tại Quyết định số 4019/QĐ-BNN-TCTL ngày 23 tháng 10 năm 2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 25 và 26 tháng 11 năm 2019, Phó Giám đốc Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ  sinh môi trường nông thôn - Ông Nguyễn Sơn Tùng làm trưởng đoàn khảo sát, đánh giá hiện trạng cung cấp nước hộ gia đình và cơ chế, chính sách hỗ trợ của địa phương để khuyến khích phát triển cấp nước nông thôn trên địa tỉnh Tây Ninh tại Quyết định số 05/2018-QĐ-UBND ngày 21 tháng 03 năm 2018 của UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020
12/19/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã báo cáo Đoàn Công tác các thông tin, số liệu về hiện trạng cấp nước hộ gia đình: mô hình, công nghệ; cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh; tình hình triển khai hỗ trợ cấp nước quy mô hộ gia đình, cấp nước nông thôn trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới năm 2019 và giai đoạn 2020-2025.

Đoàn công tác đã khảo sát mô hình cấp nước hộ gia đình tại vùng biên giới, khu vực khan hiếm nước, thiếu nước sinh hoạt nông thôn, công trình cấp nước tập trung ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây và công trình cấp nước tập trung khu dân cư Chàng Riệc, xã Tân Lập, huyện Tân Biên.


Hình 1. Công trình cấp nước tập trung Khu dân cư Chàng Riệc, xã Tân Lập, huyện Tân Biên

Qua quá trình làm việc, khảo sát, Đoàn công tác đánh giá cao sự quan tâm xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ cấp nước quy mô hộ gia đình của tỉnh; ý thức sử dụng, bảo vệ nguồn nước, công trình cấp nước và công tác quản lý, vận hành ổn định công trình cấp nước tập trung, đảm bảo cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và đời sống của người dân.

 

Hình 2, 3. Hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên

Đoàn công tác cũng đánh giá cao việc Tây Ninh là tỉnh đầu tiên trong cả nước, đi tiên phong trong việc ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ để giải quyết nhu cầu  nước sạch. Đoàn công tác mong muốn tỉnh tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực nước sạch, là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển. Đồng thời, Đoàn công tác cũng sẽ tham khảo, xem đây là thực tiễn để xây dựng chính sách hỗ trợ cấp nước quy mô hộ gia đình cho cả nước./.

Chương trình Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nướcNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTChương trình Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước/PublishingImages/2019-11/TTNS_Khuôn viên Công trình cấp nước tập trung KDC Chàng Riệc 1.png
Nước sạch là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất trong đời sống con người, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, góp phần duy trì và phát triển an sinh xã hội. Vì vậy, tiếp cận nguồn nước an toàn là nền tảng cho sức khỏe - điều này rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, tại một số vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, tình trạng thiếu nước thường xuyên xảy ra, gây tác động bất lợi đến đời sống, hoạt động sinh hoạt hàng ngày, nhu cầu phát triển của cộng đồng, nhất là phụ nữ và trẻ em.
11/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Chính vì vậy, để tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngày 08 tháng 11 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1553/QĐ-TTg Phê duyệt điều chỉnh chương trình điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước.

Chương trình Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước do Bộ Tài nguyên và Môi trường trực tiếp quản lý được thực hiện trên địa bàn 41 tỉnh với 325 vùng được điều tra, đánh giá với 3 mục tiêu cụ thể:

- Tìm kiếm các nguồn nước dưới đất có trữ lượng, chất lượng phù hợp, đáp ứng yêu cầu cung cấp nước phục vụ sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước.

- Đề xuất được các giải pháp khoa học, công nghệ và chính sách nhằm quản lý, bảo vệ nguồn nước dưới đất, xử lý và cấp nước sạch thích ứng với điều kiện vùng núi cao, vùng khan hiếm nước.

- Xây dựng được các công trình cấp nước phù hợp với điều kiện ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt bền vững, an toàn cho nhân dân.

Tây Ninh là một trong 10 tỉnh Khu vực Nam Bộ nằm trong Dự án "Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước".

Dự kiến, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Nam sẽ tiến hành 07 lỗ khoan tại những khu vực núi cao, vùng khan hiếm nước, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Những lỗ khoan này nằm trong phạm vi cấp nước của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thuộc các xã: Phước Lưu, Bình Thạnh (Trảng Bàng); Tân Lập, Tân Phong, Tân Bình (Tân Biên); Tân Hội (Tân Châu); An Thạnh (Bến Cầu).

 

Hình 1, 2. Khuôn viên Công trình cấp nước tập trung KDC Chàng Riệc – Nơi đặt 01 trong 07 mũi khoan thuộc dự án "Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước"

Đồng thời, trong quá trình thi công dự án "Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước", Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với các ngành chức năng, tạo điều kiện cho Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam thực hiện điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất./.

Xây mới công trình cấp nước tập trung ấp Tân Lâm, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTXây mới công trình cấp nước tập trung ấp Tân Lâm, xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2019-11/TTNS_Công trình cấp nước tập trung ấp Tân Lâm, xã Tân Hà, huyện Tân Châu.png
Hiện nay, dân số trong khu vực xã Tân Hà ngày càng gia tăng, nhu cầu sử dụng nước sạch cũng tăng lên, tuy nhiên, khu vực này chưa có hệ thống cấp nước sạch phục vụ cho người dân địa phương, toàn bộ nước sinh hoạt đều thông qua hệ thống giếng khoan gia đình. Mặt khác, chất lượng nguồn nước ngầm hiện nay tại khu vực xã Tân Hà đang bị nhiễm phèn nặng, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt và sức khỏe của người dân.
11/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Để giải quyết nhu cầu nước sạch, đồng thời thực hiện những hướng dẫn trong chương trình Mục tiêu Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đầu tư xây mới công trình cấp nước tập trung ấp Tân Lâm – một trong những công trình cơ sở hạ tầng quan trọng đảm bảo chất lượng và nguồn nước phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người dân địa phương.

Khu dân cư ấp Tân Lâm gồm 3 cụm dân cư với diện tích 48,23 ha, 176 ha đất sản xuất và 8,76 ha đất dự phòng. Công trình cấp nước được đầu tư, xây dựng năm 2017 có công suất thiết kế 300 m3/ng.đ cấp nước sạch cho 332 hộ dân, được xây dựng trên khu đất quy hoạch cấp nước, thửa số 6, cụm dân cư số 2. Tổng mức vốn đầu tư là 6.441.355.303 đồng, nguồn vốn ngân sách tỉnh Tây Ninh.

 

Hình 1, 2.. Công trình cấp nước tập trung ấp Tân Lâm, xã Tân Hà, huyện Tân Châu

Các hạng mục công trình cấp nước gồm:

Giếng khai thác và bơm giếng: 2 giếng công nghiệp, công suất khai thác tối đa 25 m3/h. Lắp đặt 2 bơm chìm cho giếng, Q = 20 m3/h, H = 45m.

Tháp oxy hóa: 1 bộ gồm 2 tháp, vật liệu inox, kích thước D x H = 0,4 x 0,8m, dày 4mm.

Bồn lắng: 1 bồn bằng inox, D x H = 1,7 x 3,2m, dày 5mm.

Bồn lọc nhanh: 2 bồn bằng inox, D x H = 1,7 x 2,8m, dày 5mm.

Bể chứa nước sạch: 1 bể kết cấu bê tông cốt thép đá 1x2 M300, dung tích 150m3 , nửa chìm nửa nổi, có kích thước L x B x H = 8x7x3,5m.

Hồ lắng bùn: 1 hồ kết cấu bê tông đá 1x2 M150 dày 100, đáy bê tông đá 1x2 M250 dày 100, kích thước L x B x H = 7x11x1,5m.

Trạm bơm cấp II – nhà hóa chất – nhà quản lý điều hành: Trạm bơm cấp II có kích thước L x B = 4,9x4,2m, móng cột, đà bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch, mái lợp tole. Lắp mới 3 bơm ly tâm trục ngang có Q = 15 m3/h, H = 25m, N = 2,2 kWh cấp nước ra mạng lưới. Lắp mới hệ thống thiết bị nhà hóa chất bao gồm 2 bơm định lượng Q = 0 – 30 lít/h, H = 2,1 bar và 1 bồn nhựa hòa trộn Clo, kích thước D x H = 0,5x1m. Nhà quản lý diện tích 4x4,2m, móng cột, đà bằng bê tông cốt thép, tường gạch, mái lợp tole. Nhà vệ sinh kích thước 2x4,2m móng cột, đà bằng bê tông cốt thép, tường gạch, mái lợp tole.

Đường ống kỹ thuật: Sử dụng ống inox đối với ống nổi trên mặt đất, ống chìm dưới đất sử dụng ống uPVC. Các phụ tùng nối với ống inox bằng mặt bích thép, nối với ống uPVC bằng mặt bích nhựa.

Hệ thống điện: Điện nguồn từ đường ĐT793 đến công trình có chiều dài 2,315km. Lắp đặt trạm biến áp 25kVA. Lắp đặt 1 tủ điện trung tâm điều khiển 2 bơm giếng khoan, 3 bơm cấp II, 2 bơm định lượng châm Clo.

Sân nền, cổng rào: Móng, cột đà bằng bê tông cốt thép, xây tường chắn đất gạch thẻ dày 200, cao theo địa hình thực tế. Lắp hàng rào bằng lưới thép B40 kẽm gai cao 1,8m; giằng đầu tường bằng bê tông cốt thép, lắp dựng chông thép. Láng sân đường nội bộ bằng bê tông M150, dày 10cm.

Quy trình xử lý nước: Nước được bơm bằng 2 bơm chìm từ 2 giếng công nghiệp đến tháp oxy hóa. Tại 2 tháp oxy hóa, phản ứng oxy hóa xảy ra, chuyển hóa Fe2+ thành Fe3+. Sau đó, nước tiếp tục chảy vào bồn lắng để đảm bảo đủ thời gian phản ứng Fe2+ thành Fe3+, khử NH4+ và tạo bông cặn. Nước sau bồn lắng được đưa vào 2 bồn lọc nhanh chứa vật liệu lọc là cát, toàn bộ cặn được giữ lại. Nước sau lọc là nước sạch đưa vào bể chứa nước sạch và tiến hành châm Clo để khử trùng loại bỏ E.coli và Coliforms. Từ đây, nước sạch được trạm bơm cấp II bơm vào mạng lưới phân phối cung cấp đến các hộ tiêu thụ. Nước sạch sau xử lý cung cấp cho người dân sử dụng đạt QCVN 02: 2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Không thể phủ nhận, nước sạch là một nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày của con người và đang trở nên quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, cải thiện đời sống sinh hoạt cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công trình cấp nước ấp Tân Lâm, xã Tân Hà sau khi đưa vào hoạt động sẽ giải quyết nhu cầu về nước sạch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, an sinh xã hội của người dân./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành, bàn biện pháp  vận động người dân sử dụng nước sạch, đáp ứng chỉ tiêu 17.1  đối với xã xây dựng nông thôn mới năm 2019Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành, bàn biện pháp  vận động người dân sử dụng nước sạch, đáp ứng chỉ tiêu 17.1  đối với xã xây dựng nông thôn mới năm 2019/PublishingImages/2019-11/TTNS_UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành.png
Hiện nay, trên địa bàn xã Ninh Điền, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước tập trung ấp: Bến Cừ và Gò Nổi cung cấp nước khoảng 268 hộ dân, trong đó: công trình cấp nước ấp Bến Cừ: 147 hộ dân; Gò Nổi: 121 hộ dân. Tổng công suất thiết kế hai công trình cấp nước: 100m3/ng.đ (50m3/ng.đ/01 CTCN), công suất hiện tại hai công trình cấp nước thực tế vận hành: 94m3/ng.đ;
11/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Đến nay, 02 công trình cấp nước đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước nước ít, doanh thu tiền nước thấp, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế; đồng thời công trình cấp nước ấp Gò Nổi doanh thu không đủ chi phí hoạt động cấp nước. Do vậy, công trình cấp nước ấp Gò Nổi chưa đảm bảo 5 điều kiện công trình cấp nước bền vững đối với xã xây dựng nông thôn mới năm 2019;

Nhằm khắc phục những tồn tại khó khăn trong hoạt động cấp nước và đáp ứng điều kiện công trình cấp nước bền vững. Ngày 22/10/2019, Trung tâm Nước sạch đã phối hợp với UBND xã Ninh Điền, tổ chức họp bàn biện pháp mở rộng tuyến ống nước, vận động người dân sử dụng nước mới và những hộ dân trước đây sử dụng nước nay ngưng sử dụng. Hiện nay Công trình cấp nước ấp Bến Cừ đang nâng cấp, cải tạo: Cụm liên ấp Công trình cấp nước xã Ninh Điền (Bến Cừ - Gò Nổi), sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng, đáp ứng công suất thiết kế cung cấp nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn Bộ Y tế quy định, đảm bảo cấp nước ổn định, liên tục cho người dân sử dụng nước sạch trên địa bàn 2 ấp Bến Cừ và Gò Nổi hoạt động hiệu quả.

Hình ảnh: UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành

Tham dự họp có đại diện Lãnh đạo: Trung tâm Nước sạch, UBND xã Ninh Điền, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Châu Thành, Trưởng 2 ấp: Gò Nổi và Bến Cừ, người lao động quản lý vận hành công trình cấp nước. Trung tâm Nước sạch đã trao đổi tình hình quản lý, vận hành cấp nước và những tồn tại khó khăn trong thời gian qua tại 2 công trình cấp nước Gò Nổi và Bến Cừ, đề xuất giải pháp tăng số hộ dân sử dụng nước sạch đáp ứng điều kiện công trình cấp nước bền vững, cụ thể:

- Khảo sát thực tế các hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sạch, mở rộng tuyến ống mới, tăng hộ dân sử dụng nước sạch, tăng doanh thu tiền nước, đảm bảo kinh phí duy trì hoạt động cấp nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu 17.1 về nước sạch đối với xã xây dựng nông thôn mới;

- Xây dựng dự toán chi phí lắp đặt mới nơi chưa có đường ống nước, hỗ trợ kỹ thuật, kinh phí mở rộng tuyến ống mới, tạo điều kiện người dân được sử dụng nước sạch từ hai công trình cấp nước;

- Rà soát những hộ dân trước đây đã sử dụng nước, nay ngưng sử dụng nước, vận động tiếp tục sử dụng nước, nếu đống hồ bị hư thì gắn miễn phí;

- Trưởng ấp tổ chức họp hộ dân tại 2 công trình cấp nước tuyên truyền, vận động hộ dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch và mỗi hộ sử dụng tối thiểu 5m3 nước/tháng, để có kinh phí tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước;

          Qua buổi làm việc giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Ninh Điền, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Châu Thành đã trao đổi giải quyết những tồn tại, khó khăn trong thời gian qua. Đặc biệt biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, khai thác công trình cấp nước trên địa bàn xã, tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước, nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người dân xã biên giới. Tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch, nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người dân xã biên giới, đảm bảo số lượng và chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng điều kiện công trình cấp nước hoạt động bền vững đối với xã xây dựng nông thôn mới năm 2019 về chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định./.

Kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ sử dụng nước  hợp vệ sinh và nước sạch xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành năm 2019  ​ ​Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ sử dụng nước  hợp vệ sinh và nước sạch xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành năm 2019  ​ ​/PublishingImages/2019-11/TTNS_Ủy ban nhân dân xã Trường Hòa.png
Thực hiện Kế hoạch số 1165/KH-UBND ngày 07/6/2019 của UBND tỉnh về việc thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh năm 2019; Kế hoạch số 471/KH-TTNS ngày 10/9/2019 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch đối với các xã xây dựng nông thôn mới năm 2019;

 Ngày 7/11/2019 tại UBND xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với Phòng Nông nghiệp Hòa Thành, tổ chức kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch. Tại cuộc họp Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trình bày theo quy định xã đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98% và tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT đạt 65%. Ngoài ra phải đáp ứng các tiêu chí 5 điều kiện công trình cấp nước bền vững;
11/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Kết quả kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch trên địa xã Trường Hòa, cụ thể:

* Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh:

Theo số liệu thẩm tra của UBND huyện Hòa Thành tại Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 28/10/2019 và kết quả kiểm tra thực tế tại một số hộ dân trên địa bàn xã,  tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh tại xã Trường Hòa là (2.884 hộ/2.928 hộ) đạt tỷ lệ 98,5% > 98%. Đạt Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh.

* Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt":

- Năm 2019, Trung tâm Nước sạch tổ chức lấy: 48 mẫu nước các hộ dân sử dụng nước từ giếng khoan, giếng đào thuộc 02 ấp (Trường Xuân, Trường Cửu) thuộc xã Trường Hòa. Kết quả xét nghiệm: 31/48 mẫu đạt QCVN 02:2009/BYT"Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt", chiếm tỷ lệ: 64,58%, tương ứng: 1.891 hộ dân xã Trường Hòa. Số hộ gia đình sử dụng nước từ giếng khoan, giếng đào, đạt QCVN 02:2009/BYT: 64,58% x 2.928 = 1.891 hộ;

          - Trên địa bàn xã Trường Hòa có 53 hộ dân đang sử dụng nước từ hệ thống lọc nước hộ gia đình theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh. Do đó, xã Trường Hòa có số hộ dân sử dụng nước đạt QCVN 02:2009/BYT là (1.944 hộ/2.928 hộ) đạt tỷ lệ 66,4% > 65%. Đạt Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt", đối với xã xây dựng nông thôn mới;

Hình ảnh: Ủy ban nhân dân xã Trường Hòa

Đến nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã thẩm định hồ sơ của UBND huyện Hòa Thành và tham mưu Sở Nông nghiệp và PTNT ký Công văn số 3289/SNN-TTNS ngày 18/11/2019 xác nhận kết quả thực hiện chỉ tiêu 17.1 thuộc tiêu chí 17 của xã Trường Hòa năm 2019;

Để duy trì và nâng cao tỷ lệ nước sạch, nước hợp vệ sinh, đề nghị UBND xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành tiếp tục tổ chức tuyên truyền, vận động người dân: Sử dụng nước đun sôi, nước lọc, nước bình trong ăn uống; chọn vị trí đặt giếng cách xa nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm ít nhất 10m. Thành giếng cao tối thiểu 0,6 m, xây bằng gạch, đá và thả ống buy sâu ít nhất 3m kể từ mặt đất. Sân giếng làm bằng bê tông hoặc lát gạch đá, không bị nứt nẻ; thường xuyên vệ sinh phương tiện trữ nước; phương tiện trữ nước phải có nắp đậy. Tiếp tục hỗ trợ lắp đặt hệ thống xử lý lọc nước hộ gia đình cho các hộ dân có nhu cầu sử dụng theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh.\.

 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ  HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN  Huyện Tân Châu - Năm 2019  ​ ​Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNT KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ  HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN  Huyện Tân Châu - Năm 2019  ​ ​/PublishingImages/2019-11/TTNS_Hộ dân được hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Tân Châu 1.png
Thực hiện Kế hoạch số 1093/KH-SNN, ngày 03/5/2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT triển khai Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh ban hành Quy định chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020; Công văn số 627/SNN-CCTL ngày 18/3/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2019; Năm 2019, huyện Tân Châu được Sở Nông nghiệp và PTNT giao kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện, tổng kinh phí: 3.542.000.000 đồng. Ngay từ đầu năm, Lãnh đạo UBND huyện Tân Châu chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, rà soát các hộ dân thuộc đối tượng hộ gia đình được hưởng chính sách theo quy định tại Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh; đồng thời xem xét chọn doanh nghiệp cung cấp hệ thống lọc nước hộ gia đình, phải đảm bảo uy tín chất lượng, chế độ bảo hành sản phẩm trong hợp đồng giữa doanh nghiệp với hộ dân (Công ty TNHH Kỹ thuật môi trường Sài Gòn Xanh). Để khách quan trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm nước sau khi gắn hệ thống xử lý nước hộ gia đình, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tân Châu đề nghị UBND xã Tân Hà trực tiếp lấy mẫu nước gửi về Sở Y tế xét nghiệm kết quả để làm cơ sở nghiệm thu theo quy chuẩn QCVN 02: 2009/BYT;
11/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

 Đến nay, UBND huyện Tân Châu đã tổ chức triển khai lắp đặt hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện, kinh phí được giao năm 2019: 3.542.000.000 đồng và kinh phí dư năm 2018: 59.400.000 đồng. Tổng kinh phí lắp đặt hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn năm 2019: 3.549.600.000 đồng/614 hộ. Trong đó:

- Hộ có công với cách mạng: 381 hộ;

- Hộ nghèo: 176 hộ;

- Hộ cận nghèo: 38 hộ;

- Hộ có mức sống trung bình: 02 hộ;

- Hộ nông thôn khác: 17 hộ.​

 

Hình ảnh: Hộ dân được hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Tân Châu

* Những khó khăn thực hiện chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn huyện Tân Châu:

Qua quá trình triển khai thực hiện Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh. Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện tham mưu UBND huyện Tân Châu căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Quyết định số 05/QĐ-UBND, để triển khai áp dụng hộ dân lập hồ sơ lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình có công với cách mạng trên địa bàn xã Tân Hà từ tháng 9/2018. Theo hướng dẫn tại Công văn số 2682/SLĐTBXH-NCC ngày 05/12/2018 của Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh thì "Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế bao gồm: Huân chương Kháng chiến hoặc Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến hoặc Huy chương Chiến thắng". Do đó, có một số hộ đã xác lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ nhưng không đúng đối tượng theo hướng dẫn tại Công văn số 2682/SLĐTBXH-NCC ngày 05/12/2018 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh;

Nhằm tạo điều kiện những hộ dân thuộc các đối tượng: Hộ có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình tiếp tục được hưởng chính sách sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn, đây là chủ chương lớn của tỉnh Tây Ninh, để đền ơn đáp nghĩa những gia đình có công với cách mạng và những hộ gia đình nghèo vùng nông thôn, biên giới không có kinh phí lắp đặt hệ thống lọc nước, giúp người dân được sử dụng nguồn nước sạch, đảm bảo sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh./.

       

                                                                                   

                                                                                                                                                                                                                                                                                                        

                                                                                                                                            

Hội thảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)  Ngành nước CITYWORK AINước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTHội thảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)  Ngành nước CITYWORK AI/PublishingImages/2019-11/TTNS_Toàn cảnh Hội thảo giới thiệu giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0.png
Ngày 8/10/2019, tại Hà Nội Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK, tổ chức Hội thảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) Ngành nước Citywork AI;

          Đến dự Hội thảo: Lãnh đạo Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK, đại diện các tỉnh, thành phố tham dự: Công ty Cổ phần cấp nước đô thị; Trung tâm Nước sạch Vệ sinh môi trường nông thôn và các doanh nghiệp, cá nhân ngành cấp nước;

Nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động ngành nước trong thời gian tới, Công ty Cổ phần Công nghệ thông tin địa lý EK, nghiên cứu, phát triển và cung cấp các giải pháp ứng dụng công nghệ di động, công nghệ bản đồ số (GIS), công nghệ điện toán đám mây cho các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp; giới thiệu giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0 và báo cáo tham luận, ý kiến chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động cấp nước của các tỉnh, thành phố.
11/29/2019 4:00 PMNoĐã ban hành


Ngày 8/10/2019, tại Hà Nội Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK, tổ chức Hội thảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) Ngành nước Citywork AI;

 Đến dự Hội thảo: Lãnh đạo Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK, đại diện các tỉnh, thành phố tham dự: Công ty Cổ phần cấp nước đô thị; Trung tâm Nước sạch Vệ sinh môi trường nông thôn và các doanh nghiệp, cá nhân ngành cấp nước;

Nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động ngành nước trong thời gian tới, Công ty Cổ phần Công nghệ thông tin địa lý EK, nghiên cứu, phát triển và cung cấp các giải pháp ứng dụng công nghệ di động, công nghệ bản đồ số (GIS), công nghệ điện toán đám mây cho các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp; giới thiệu giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0 và báo cáo tham luận, ý kiến chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động cấp nước của các tỉnh, thành phố.

Hình ảnh: Toàn cảnh Hội thảo giới thiệu giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0

Hiện nay, hoạt động cấp nước nói chung gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý: Kỹ thuật, vận hành, khai thác, tài sản, sự cố, sửa chữa, bảo trì, kinh doanh, dịch vụ chăm sóc khách hàng…Một số ứng dụng giải pháp CITYWORK cấp nước 4.0 giúp giám sát, đánh giá, phân loại, xử lý kết quả qua ảnh chụp, đảm bảo số liệu chính xác, nhanh, kịp thời phát hiện những sai sót trong công tác quản lý, giảm các chi phí đầu ra, tăng doanh thu tiền nước, cụ thể:

* Giải pháp quản lý các công trình cấp nước:

- Quản lý vận hành; mạng lưới; quản lý tài sản; quản lý sự cố, sửa chữa, bảo trì; kho vật tư; quản lý khách hàng và chăm sóc khách hàng;

- Dashboard-Bộ chỉ số doanh nghiệp; quản lý kho hồ sơ; chatbot chăm sóc khách hàng; ứng dụng BigData phân tích mạng;

- Đọc chỉ số và đánh giá tình trạng đồng hồ bằng AI và thị giác máy.

* Giải pháp Aichi3 số và tình trạng đồng hồ nước từ ảnh chụp:

-Tổng quan về trí tuệ nhân tạo và thị giác máy tính;

- Giải pháp đọc chỉ số đồng hồ từ ảnh chụp;

- Ứng dụng giải pháp trong CITYWORK;

* Ứng dụng Chatbot chăm sóc khách hàng cấp nước CITYWORK 4.0:

- Mô hình; Chatbot chăm sóc khách hàng cấp nước;

- Lợi ích khách hàng cấp nước; triển khai; tích hợp hệ thống;

* Giải pháp Big data phân tích dữ liệu lưu lượng, áp lực:

- Big data; lợi ích phân tích dữ liệu big data;

- Dữ liệu SCADA của mạng lưới cấp nước;

- Mục tiêu phân tích và ứng dụng;

- Các chức năng mới sẽ có trong Citywork 2020.

​Hình ảnh: Đại biểu dự Hội thảo giới thiệu giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0

Sau khi Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin Địa lý EK tổ chức Hội thảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) Ngành nước Citywork AI; báo cáo tham luận, chia sẻ kinh nghiệm của một số Công ty Cổ phần cấp nước sạch các tỉnh, thành phố dự Hội thảo. Để nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước trong thời gian tới thì các đơn vị cấp nước đô thị (Công ty Cổ phần cấp nước sạch các tỉnh, thành phố) và các đơn vị cấp nước nông thôn (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn), việc ứng dụng giải pháp CITYWORK cấp nước CITYWORK 4.0 là rất cần thiết. Hiệu quả mang lại giúp các đơn vị quản lý chặt chẽ, kịp thời, chính xác: Quản lý, vận hành, sửa chữa, sự cố, bảo trì tài sản, kỹ thuật, mạng lưới, quản lý tài sản, kho vật tư, quản lý khách hàng và chăm sóc khách hàng, danh sách các sự kiện, vấn đề trên mạng (chất lượng nước, công việc kiểm tra) …;

Qua hội thảo, để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, tạo tiền đề việc cung cấp nước sạch ngày càng phát triển bền vững, duy trì thời gian cung cấp nước liên tục, đảm bảo chất lượng nguồn nước sạch và số lượng người sử dụng nước, không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ cấp nước khu vực đô thị và nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân; góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng nông thôn mới./. 

Mở rộng đường ống, tạo điều kiện sử dụng nước sạch cho các hộ dân khu vực ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân, TP Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTMở rộng đường ống, tạo điều kiện sử dụng nước sạch cho các hộ dân khu vực ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân, TP Tây Ninh/PublishingImages/2019-11/TTNS_Công trình cấp nước tập trung ấp Thạnh Trung.png
Ngày 07 tháng 06 năm 2019, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1165/KH-UBND về việc thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2019. Là 01 trong 06 xã trọng điểm đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019, chính quyền xã Thạnh Tân rất quan tâm đến việc xây dựng nông thôn mới, cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và nước sạch là yếu tố được quan tâm hàng đầu nhằm nâng chất lượng sinh hoạt, đời sống tinh thần và an sinh xã hội cho người dân.
11/29/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Theo Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 31 tháng 05 năm của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành Quy định Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016 – 2020, tỷ lệ hộ dân xã Nông thôn mới sử dụng nước sạch theo Tiêu chuẩn Quốc gia phải đạt từ 65% trở lên. Đồng thời, tỷ lệ hộ dân xã Thạnh Tân được sử dụng nước sạch theo quy định phải đạt 100% theo Quyết định số 192/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2019 của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành Quy định Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2019 – 2020.

Theo Quyết định số 4826/QĐ-BNN-TCTL ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành bộ chỉ số theo dõi - đánh giá nước sạch nông thôn nông thôn và tài liệu hướng dẫn triển khai, đối với công trình cấp nước tập trung có trên địa bàn xã tại thời điểm đánh giá, phải có ít nhất 60% hộ gia đình đấu nối và sử dụng nước theo thiết kế được duyệt. Vì vậy, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã phối hợp với UBND xã tiến hành khảo sát, rà soát và vận động 50 hộ dân tại khu vực chợ Thạnh Tân đấu nối và tham gia sử dụng nước sạch. Các hộ dân này hiện đang sử dụng nước giếng khoan chưa đạt Tiêu chuẩn Quốc gia QCVN 02: 2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Trên địa bàn xã Thạnh Tân có 02 công trình cấp nước tập trung đang hoạt động ổn định. Công trình cấp nước tập trung ấp Thạnh Đông chủ yếu cung cấp nước cho đồng bào dân tộc và công trình cấp nước tập trung ấp Thạnh Trung.

Công trình cấp nước ấp Thạnh Trung khởi công xây dựng năm 2007 và được đưa vào hoạt động năm 2009 với công suất thiết kế 100 m3/ng.đ và cung cấp nước cho 470 hộ dân. Tính đến thời điểm hiện tại (tháng 11/2019), công trình hoạt động và cấp nước cho 117 hộ dân (đạt 24,89% công suất thiết kế) với công suất thực tế 59 m3/ng.đ (đạt 59% công suất thiết kế).


Hình 1. Công trình cấp nước tập trung ấp Thạnh Trung

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã cho cán bộ kỹ thuật phối hợp với UBND xã tiến hành khảo sát, rà soát tuyến ống chính cấp nước sạch và nhận thấy vị trí của các hộ dân không có tuyến ống chính đi qua. Để các hộ dân có thể sử dụng nước sạch, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành đầu tư, đào đất, thi công thực hiện khoảng 160 mét ống cấp nước sạch. Đồng thời, UBND xã Thạnh Trung cũng có chính sách hỗ trợ toàn bộ chi phí lắp đặt đồng hồ và đấu nối sử dụng nước sạch cho các hộ dân. Tổng kinh phí ước tính gần 100 triệu đồng.

 TTNS_Đào đất, thi công tuyến ống cấp nước sạch cho hộ dân.png

Hình 2, 3. Đào đất, thi công tuyến ống cấp nước sạch cho hộ dân

Sau khi hoàn thiện, các hộ dân được sử dụng nước sạch, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiến hành nâng cấp, sửa chữa, đảm bảo công trình cấp nước hoạt động ổn định và tích cực phối hợp với chính quyền địa phương cùng nhau nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác, xử lý, cung cấp nước và chất lượng nguồn nước. Ngoài ra, thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc sử dụng tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước và công trình cấp nước vì sức khỏe, lợi ích của bản thân và cộng đồng./.

Những khó khăn trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNhững khó khăn trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn/PublishingImages/2019-11/TTNS_Trung tâm Nước sạch và VSMTNT.png
Hiện nay, việc khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch do các đơn vị nhà nước quản lý nằm trong danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần theo Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg ngày 17 tháng 07 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định về tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg). Trình tự thực hiện Cổ phần hóa  đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22 tháng 06 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.
11/29/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thuộc nhóm đối tượng thực hiện cổ phần hóa theo khoản 2, điều 1, Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg. Tuy nhiên, tại điều 2, Quyết định này quy định:

"Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển thành công ty cổ phần khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:

1. Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi.

2. Thuộc danh mục chuyển thành công ty cổ phần theo quy định tại Điều 3 Quyết định này.

3. Có phương án tiếp tục cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt."

Theo Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2019 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc ban hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh quy định giá nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn của các hộ dân cư: 5.500 đồng/m3 (đã bao gồm thuế VAT). Tuy nhiên chi phí cho hoạt động sản xuất và cung cấp nước sạch lên đến 9.445 đồng/m3. Vì vậy, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn chưa tự đảm bảo được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên. Hàng năm, ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ giá nước sạch cung cấp cho người dân. Đồng thời, để được thực hiện cổ phần hóa, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phải nằm trong danh mục đơn vị cổ phần hóa được Chính phủ phê duyệt.

  

         Hình 1.  Trung tâm Nước sạch                                                                                                   Hình 2. CTCN KDC Cầu Sài Gòn 2

                             và Vệ sinh môi trường nông thôn

Hiện nay, tất cả các Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trên cả nước đều chưa được thực hiện cổ phần hóa. Mặt khác, ngày 10 tháng 10 năm 2018, Cục Quản lý công sản có Công văn số 102/QLCS-TSHT trả lời Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh như sau: "Trước mắt đề nghị địa phương chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị tạm thời giữ nguyên hiện trạng quản lý, sử dụng, vận hành, khai thác, bảo trì công trình; không thực hiện giao, điều chỉnh hình thức khai thác, các hình thức xử lý (điều chuyển, cho thuê quyền khai thác, chuyển nhượng, thanh lý công trình) theo Quy định tại Thông tư số 54/2013/TT-BTC và Thông tư số 76/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính cho đến khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ".

Dự kiến đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khoảng 62% dân số sử dụng nước sạch theo Tiêu chuẩn Quốc gia QCVN 02: 2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, trong đó, chỉ có khoảng 9,8% dân số sử dụng nước sạch được cấp từ các công trình cấp nước tập trung. Theo Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 31 tháng 05 năm của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành Quy định Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016 – 2020, tỷ lệ hộ dân xã Nông thôn mới sử dụng nước sạch theo Tiêu chuẩn Quốc gia phải đạt từ 65% trở lên. Đồng thời, theo Quyết định số 192/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2019 của UBND tỉnh Tây Ninh Ban hành Quy định Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2019 - 2020, tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch theo quy định đạt 100%.

Hiện tại, mật độ hộ dân cư tại khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh khá thưa thớt (các hộ cách nhau khoảng 40 – 50m), chi phí đầu tư các công trình cấp nước tập trung cao, chưa có doanh nghiệp tham gia đầu tư. Trước những vấn đề trên, việc thực hiện cổ phần hóa gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, khi sự cố nguồn nước xảy ra, Nhà nước và các cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ chậm trễ trong việc kiểm tra, xử lý. Chính vì những khó khăn như đã đề cập, hiện tại, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiếp tục phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nước, chất lượng dịch vụ, phục vụ cho đời sống, sinh hoạt và nhu cầu an sinh của nhân dân, xây dựng một nền tảng vững chắc và ổn định, làm tiền đề cho việc thực hiện quá trình cổ phần hóa trong thời gian tới.

Những khó khăn trong quá trình hoạt động của Công trình cấp nước  Khu dân cư Chàng RiệcNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNhững khó khăn trong quá trình hoạt động của Công trình cấp nước  Khu dân cư Chàng Riệc/PublishingImages/2019-11/TTNS_Công trình cấp nước tập trung Khu dân cư Chàng Riệc.png
Khu dân cư Chàng Riệc được xây dựng vào cuối năm 2010, trên khu đất rộng gần 650ha với quy mô khoảng 500 căn nhà. Hiện tại, có khoảng 377 hộ đã ổn định cuộc sống. Đối tượng được ưu tiên phần lớn là những hộ không có đất sản xuất, không có nhà ở, các gia đình chính sách, đồng bào dân tộc nghèo.
11/29/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Nhằm tạo điều kiện cho người dân ổn định cuộc sống, mỗi hộ dân sinh sống tại Khu dân cư Chàng Riệc được cấp 1 căn nhà trị giá 70 triệu đồng trên diện tích 1 ha đất ở và 1 ha đất sản xuất. Tỉnh cũng đầu tư xây dựng hệ thống điện, trường học, chợ và nhất là xây dựng công trình cấp nước sạch phục vụ cho người dân tại khu vực khô hạn, khan hiếm nước như ở đây.

Công trình cấp nước tập trung Khu dân cư Chàng Riệc, xã Tân Lập, huyện tân Biên được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2013 với công suất thiết kế là 318 m3/ngày.đêm (tương ứng 80 lít/người/ngày.đêm), cung cấp nước cho 500 hộ sử dụng.

Nguồn nước tại đây được lấy từ 02 giếng khoan có chiều sâu trung bình là 80m, công suất mỗi giếng 14-20m3/h. Nước bơm từ giếng khoan, được đưa qua 02 tháp oxy hóa D600mm; h = 1,5m rồi tự chảy vào bể lọc tự rửa D1200mm; h = 4,5m. Sau đó, nước được đưa đến bể chứa nước sạch có kết cấu bê tông cốt thép, dung tích W = 50m3, kích thước: 4,0 x 4,0 x 3,45m. Ngoài ra, công trình còn có bể thu hồi nước rửa lọc, diện tích bề mặt 4,7 x 15,8m và trạm biến áp 3 pha 3x15kVA. Nước sạch sau xử lý được đưa đến cho các hộ dân sử dụng thông qua 02 bơm ly tâm trục ngang. Thời gian cấp nước của công trình từ 5h đến 21h hàng ngày và nước sau xử lý đạt QCVN 02: 2009/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

 

Hình 1, 2. Công trình cấp nước tập trung Khu dân cư Chàng Riệc

Hiện tại, công trình cấp nước đang hoạt động khá ổn định. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn như:

- Vào mùa khô, mực nước ngầm hạ thấp, lưu lượng nước giếng khoan giảm 15-20%.

- Tình trạng thất thoát, thất thu nước sạch vẫn xảy ra trên mạng lưới đường ống.

- Nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân có sự biến đổi lớn theo mùa vì hộ sinh sống trên diện tích khoảng 1000m2, tuy nhiên khu vực này khan hiếm nguồn nước dưới đất; khoan giếng hiếm có nước nên các hộ dân ngoài hoạt động sinh hoạt còn sử dụng nước từ Công trình cấp nước cho hoạt động tưới cây xung quanh nhà.

- Hoạt động thu tiền nước còn khó khăn, do một số hộ dân thường xuyên đi làm vắng nhà, hoặc cho thuê lại nhà.

- Trong thời gian tới, khu dân cư tiến hành mở rộng quy mô thêm khoảng 83 căn nhà (đã xây dựng khoảng 75 căn nhà và dự kiến xây thêm khoảng 8 căn nhà) nên nhu cầu sử dụng nước sạch cho mục đích sinh hoạt và các mục đích khác sẽ tăng, tương ứng công suất xử lý nước (lưu lượng nước qua bể lọc) tăng. Do đó, cụm xử lý hiện hữu không đáp ứng khả năng xử lý nước.

Trước những khó khăn trên, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thường xuyên rà soát, kiểm tra quá trình hoạt động và đề xuất nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước khu dân cư Chàng Riệc để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch phục vụ sinh hoạt và đời sống của người dân tại đây, nhất là vào mùa khô./.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN CHO NHÂN VIÊN QUẢN LÝ, VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚCNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN CHO NHÂN VIÊN QUẢN LÝ, VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC/PublishingImages/2019-10/TTNS_NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN CHO NHÂN VIÊN QUẢN LÝ, VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC.jpeg
Ngày 12-14/10/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với Trung tâm Đào tạo Ngành nước Miền Nam thuộc Trường Cao đẳng Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khóa đào tạo nhân viên quản lý, vận hành Công trình cấp nước hiệu quả.
11/19/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 12-14/10/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với Trung tâm Đào tạo Ngành nước Miền Nam thuộc Trường Cao đẳng Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khóa đào tạo nhân viên quản lý, vận hành Công trình cấp nước hiệu quả. 


Hình 1: Ông Đinh Hùng Danh – Giám đốc Trung tâm Nươc sạch và VSMTNT phát biểu khai giảng lớp đào đạo.

Báo cáo tại lớp đào tạo, giảng viên Vương Đức Hải, Giám đốc Trung tâm Đào tạo Ngành nước Miền Nam thuộc Trường Cao đẳng Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh dự án đã cung cấp, bồi dưỡng, củng cố hệ thống hóa kiến thức chuyên môn cho học viên về: Hệ thống cấp nước; kỹ thuật xử lý nước cấp; vận hành, bảo dưỡng trạm xử lý nước cấp; an toàn lao động trong vận hành; quản lý lượng nước thất thoát. Hướng dẫn học viên thực hành quy trình vận hành và bảo dưỡng bơm và các thiết bị trong trạm xử lý và trên mạng phân phối.

Hình 2: Giảng viên Vương Đức Hải, Giám đốc Trung tâm Đào tạo Ngành nước Miền Nam báo cáo tại lớp đào tạo.

  Ngoài thời gian học lý thuyết trên lớp, học viên còn được đi thực tế tại Công trình cấp nước ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân, Tp. Tây Ninh, được hướng dẫn xử lý thành thạo vận hành và bảo dưỡng bơm, xử lý trên mạng phân phối, kiểm tra liều lượng sử dụng hóa chất, vận hành rửa lọc, kiểm tra hệ thống điện, kiểm tra rò rỉ trên đường ống, đồng hồ tổng, đồng hồ hộ dân sử dụng nước và các thiết bị liên quan đến hoạt động cấp nước; thực hiện quy trình vận hành, bảo dưỡng đúng kỹ thuật chuyên môn, đảm bảo hệ thống cấp nước vận hành liên tục, máy móc thiết bị có tuổi thọ lâu dài, hạn chế tối đa thất thoát nước, sử dụng tiết kiệm điện.

TTNS_NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN CHO NHÂN VIÊN QUẢN LÝ, VẬN HÀNH CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC.JPG

Hình 3: Học viên đi thực tế tại Công trình cấp nước ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân, Tp. Tây Ninh

Thông qua khóa học bồi dưỡng này, học viên tích lũy, củng cố kiến thức và hoàn thiện kỹ năng thực hành nghề nghiệp của mình nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả trong quản lý kỹ thuật trạm cấp nước nông thôn./. 

NÂNG CẤP CỤM LIÊN ẤP CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC BẾN CỪ- GÒ NỔI,  XÃ NINH ĐIỀN, HUYỆN CHÂU THÀNHNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNÂNG CẤP CỤM LIÊN ẤP CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC BẾN CỪ- GÒ NỔI,  XÃ NINH ĐIỀN, HUYỆN CHÂU THÀNH/PublishingImages/2019-11/TTNS_CỤM LIÊN ẤP CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC BẾN CỪ - GÒ NỔI _Key_19112019160734.JPG
Hiện nay, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành đã có 02 công trình cấp nước tập trung ấp: Bến Cừ và Gò Nổi cung cấp nước khoảng 268 hộ dân, nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân, đặc biệt vào mùa khô. Ngoài ra, Công trình cấp nước ấp: Bến Cừ, Gò Nổi, hiện nay đã xuống cấp, một số hạng mục chính của 02 công trình cấp nước bị hư hỏng, vì vậy công suất hoạt động bị hạn chế; đồng thời công trình cấp nước ấp Gò Nổi thấp hơn mặt đường, nên vào mùa mưa bị ngập nước, khó khăn khăn trong công tác vận hành;
11/19/2019 4:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành đã có 02 công trình cấp nước tập trung ấp: Bến Cừ và Gò Nổi cung cấp nước khoảng 268 hộ dân, nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân, đặc biệt vào mùa khô. Ngoài ra, Công trình cấp nước ấp: Bến Cừ, Gò Nổi, hiện nay đã xuống cấp, một số hạng mục chính của 02 công trình cấp nước bị hư hỏng, vì vậy công suất hoạt động bị hạn chế; đồng thời công trình cấp nước ấp Gò Nổi thấp hơn mặt đường, nên vào mùa mưa bị ngập nước, khó khăn khăn trong công tác vận hành;

Hiện trạng, hoạt động hai công trình cấp nước tập trung ấp: Bến Cừ, Gò Nổi, tổng công suất thiết kế hai công trình cấp nước: 100 m3/ng.đ (50m3/ng.đ/01 CTCN), công suất hiện tại hai công trình cấp nước thực tế vận hành: 94 m3/ng.đ. Hộ dân đăng ký sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước ấp: Bến Cừ là 147 hộ dân; Gò Nổi: 121 hộ dân, tổng số hộ đăng ký 02 công trình cấp nước: 268 hộ dân;

Vì vậy việc đầu tư nâng cấp, cải tạo công trình cấp nước ấp Bến Cừ cung cấp nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn Bộ Y tế quy định, đảm bảo cung cấp nước ổn định, liên tục cho người dân đang sử dụng nước trong ấp là rất cần thiết; đồng thời mở rộng tuyến ống cấp nước các khu vực dân cư sinh sống tập trung có nhu cầu sử dụng nước.

 Mục tiêu của dự án nâng cấp:

- Tổng mức đầu tư dự án: Cụm liên ấp Công trình cấp nước xã Ninh Điền (Bến Cừ - Gò Nổi): 3.987.529.000 đồng;

- Các hạng mục hiện hữu được cải tạo, sửa chữa gồm: Cụm xử lý thành bể chứa nước sạch; bể chứa nước rửa lọc; đài nước; nhà điều hành; nhà vệ sinh; sân, đường - cổng tường rào;

- Các hạng mục xây mới: Giếng khoan, trạm bơm giếng, cụm xử lý, bể chứa 40m3, nhà trạm bơm cấp II-hóa chất, cổng ngõ, hố tự thấm, hệ thống điện, mạng lưới cấp nước.


Hình ảnh: Cụm liên ấp Công trình cấp nước xã Ninh Điền (Bến Cừ-Gò Nổi) đang thi công

* Hiệu quả của dự án: Cụm liên ấp Công trình cấp nước xã Ninh Điền (Bến Cừ - Gò Nổi:

Để thực hiện có hiệu quả từ công trình nước sạch nông thôn, Ban quản lý Dự án Đầu tư và Xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tây Ninh đã phối hợp với UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành khảo sát điều kiện tự nhiên, nhu cầu sử dụng nước của người dân địa phương, để lựa chọn loại hình công trình cấp nước phù hợp. Trên cơ sở đó, dự án nâng cấp, sửa chữa: Cụm liên ấp Công trình cấp nước xã Ninh Điền (Bến Cừ - Gò Nổi) với công suất thiết kế: 20m3/h, bảo đảm cung cấp nước ổn định, liên tục trên 300 hộ dân trên địa bàn xã;

Sau khi dự án nâng cấp, sửa chữa: Cụm liên ấp Công trình cấp nước xã Ninh Điền (Bến Cừ - Gò Nổi) hoàn thành đưa vào sử dụng, Trung tâm Nước sạch tích cực phối hợp với chính quyền địa phương, nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước, giảm thất thoát nước, chất lượng nước cấp đến các hộ dân, thời gian cung cấp nước 24 giờ/ngày, việc sử dụng nước thuận tiện chỉ cần mở van là có nước.

Đáng nói là, với sự đầu tư nguồn lực nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước sạch nông thôn, đã góp phần làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vùng nông thôn, biên giới, tạo tiền đề dân trí phát triển, từng bước xây dựng cụm xã ngày càng văn minh, hiện đại; 

 

Hình ảnh: Hộ gia đình trên địa bàn xã Ninh Điền đang sử dụng nước sạch

từ công trình cấp nước.

Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công trong thực hiện chương trình nước sạch nông thôn, trước khi xây dựng công trình phải điều tra, khảo sát nhu cầu sử dụng nước của người dân; trong đó, đặc biệt chú trọng lấy quyền lợi nhân dân làm trọng tâm. Mặt khác, công trình cấp nước sạch được khai thác, sử dụng hợp lý với chất lượng nước bảo đảm. Hiện nay, mô hình cấp nước sạch có sự quản lý, hỗ trợ kinh phí của ngân sách nhà nước, nên giá nước ổn định, tạo điều kiện người dân nghèo nông thôn, biên giới có thu nhập thấp được sử dụng nước sạch, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Hiệu quả từ chương trình mang lại. Góp phần thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Tây Ninh chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh ./.

Giới thiệu Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND về chế độ tiếp khách nước ngoài  làm việc tại Tây Ninh, chế độ tổ chức hội nghị quốc tế tại Tây Ninh  và chế độ tiếp khách trong nước trên địa bàn tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTGiới thiệu Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND về chế độ tiếp khách nước ngoài  làm việc tại Tây Ninh, chế độ tổ chức hội nghị quốc tế tại Tây Ninh  và chế độ tiếp khách trong nước trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 04/9/2019 UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND, quy định chế độ tiếp khách nước ngoài làm việc tại Tây Ninh, chế độ chi tổ chức hội nghị quốc tế tại Tây Ninh và chế độ tiếp khách trong nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước hỗ trợ (cơ quan, đơn vị);
11/19/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 04/9/2019 UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND, quy định chế độ tiếp khách nước ngoài làm việc tại Tây Ninh, chế độ chi tổ chức hội nghị quốc tế tại Tây Ninh và chế độ tiếp khách trong nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước hỗ trợ (cơ quan, đơn vị);

Các cơ quan, đơn vị đón tiếp khách và tổ chức hội nghị trong nước và quốc tế cần tận dụng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất có sẵn để phục phụ khách; trường hợp thiếu hoặc không đáp ứng được yêu cầu phải thuê dịch vụ bên ngoài thì cơ quan, đơn vị phải thực hiện theo đúng quy định. Các cơ quan, đơn vị phải tiết kiệm việc tiếp khách và tổ chức hội nghị, không phô trương, thành phần tham gia chỉ những người liên quan trực tiếp. Không được sử dụng nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước hỗ trợ mua quà tặng, Mọi khoản chi tiêu tiếp khách phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định; phải công khai, minh bạch và phải được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan, đơn vị.

Trên cơ sở quy định tại Quyết định số 36/2019/QĐ-UBND ngày 04/09/2019, các cơ quan, đơn vị thực hiện các chế độ, cụ thể như sau.

1. Chế độ tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Tây Ninh

a) Tiếp khách đối với các đoàn khách nước ngoài vào làm việc tại Tây Ninh do kinh phí tỉnh đài thọ toàn bộ chi phí ăn, ở, đi lại trong tỉnh.

b) Tiếp khách đối với các đoàn khách nước ngoài vào làm việc tại Tây Ninh do khách tự túc ăn, ở; đơn vị chi các khoản đón tiếp đối ngoại khác.

c) Tiếp khách đối với các đoàn khách nước ngoài vào làm việc tại Tây Ninh, do khách tự túc mọi chi phí.

d) Tiếp khách đối với các đoàn khách nước ngoài vào làm việc tại Tây Ninh, khi tổ chức họp định kỳ, hội nghị giao ban về biên giới.

2.     Chế độ tổ chức hội nghị quốc tế tại Tây Ninh.

a) Chi tổ chức hội nghị quốc tế tại Tây Ninh.

b) Chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức tham gia đón, tiếp khách quốc tế, phục vụ các hội nghị quốc tế; tham gia các đoàn đàm phán.

3.     Chế độ chi tiếp khách trong nước

Các cơ quan, đơn vị được thực hiện mức chi theo quy định tại Quyết định này là mức chi đã bao gồm các khoản: Thuế, phí dịch vụ (nếu có) theo quy định của pháp luật. Đa số các mức chi đều tăng so với Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND ngày 14/14/2010 của UBND tỉnh, cụ thể:

- Mức chi nước uống tối đa đối với khách đến làm việc tại cơ quan, đơn vị tăng từ 20.000 đồng/người/ngày lên 30.000 đồng/người/buổi (nửa ngày)/người;

- Mức chi tối đa mời cơm khách trong tỉnh (đối với khách cấp tỉnh) tăng từ 150.000 đồng/người lên 250.000 đồng/người.

4.     Tổ chức thực hiện

Những khoản chi tiếp khách không đúng Quy định, khi kiểm tra phát hiện thì cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính các cấp có quyền xuất toán và yêu cầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm hoàn trả nguồn kinh phí đã chi hoặc thu hồi nộp ngân sách nhà nước nếu chi từ nguồn ngân sách nhà nước.

Khi kết thúc công việc, đơn vị được giao quản lý các khoản huy động, đóng góp, ủng hộ, tài trợ phải báo cáo cơ quan chủ quản số thu, chi theo chế độ, số tiền còn lại (nếu có) nộp vào ngân sách nhà nước; báo cáo thu, sử dụng bằng hiện vật./.​

Triển khai hướng dẫn thực hiện chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ sử dụng  nước hợp vệ sinh và nước sạch các xã xây dựng nông thôn mới  Năm 2019Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTriển khai hướng dẫn thực hiện chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ sử dụng  nước hợp vệ sinh và nước sạch các xã xây dựng nông thôn mới  Năm 2019/PublishingImages/2019-10/TTNS_Họp triển khai hướng dẫn, đánh giá chỉ tiêu 17.1.jpg
Thực hiện Kế hoạch số 1165/KH-UBND ngày 07/6/2019 của UBND tỉnh về việc thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2019. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) xây dựng và triển khai Kế hoạch số 471/KH-TTNS ngày 10/9/2019 hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch đối với các xã xây dựng nông thôn mới năm 2019;

11/19/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

​ Ngày 18/9/2019, Trung tâm Nước sạch tổ chức họp hướng dẫn, đánh giá chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch, tham dự họp có đại diện Lãnh đạo: Trung tâm Nước sạch, Phòng kinh tế Thành phố Tây Ninh, phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện và UBND 06 xã xây dựng nông thôn mới năm 2019 (xã Thạnh Tân, TP.Tây Ninh; xã Suối Ngô, huyện Tân Châu; xã Ninh Điền, huyện Châu Thành; xã Hiệp Tân, xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành; xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu); 


Hình ảnh: Buổi họp triển khai hướng dẫn, đánh giá chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch các xã xây dựng nông thôn mới năm 2019

Tại cuộc họp, Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch đã thông qua nội dung hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 và các biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98% và tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT đạt 65%; thống nhất hồ sơ đánh giá, thẩm định, xác nhận đảm bảo trình tự thủ tục, biểu mẫu đối với các xã xây dựng nông thôn mới;

Theo quy định các xã đạt chuẩn nông thôn mới phải đảm bảo tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt từ 98% trở lên và tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT đạt từ 65% trở lên. Ngoài ra phải đáp ứng các tiêu chí chung đối với xã chưa có công trình cấp nước tập trung, tất cả công trình cấp nước tập trung hiện có trên địa bàn xã tại thời điểm đánh giá phải đáp ứng đủ 5 điều kiện công trình cấp nước bền vững;

Trung tâm Nước sạch đã tổng hợp số liệu hoạt động các công trình cấp nước 9 tháng đầu năm 2019; theo quy định nêu trên, hiện nay còn 02 công trình cấp nước chưa đủ điều kiện công trình cấp nước bền vững: Dưới 60% hộ gia đình đấu nối và sử dụng nước theo thiết kế được duyệt và tiền nước chưa đảm bảo đủ chi phí quản lý, vận hành, sửa chữa nhỏ, cụ thể: Công trình cấp nước ấp Gò Nổi (xã Ninh Điền) và công trình cấp nước ấp Thạnh Trung (xã Thạnh Tân). Do vậy, Trung tâm Nước sạch phối hợp với UBND xã Ninh Điền, xã Thạnh Tân tuyên truyền, vận động, hỗ trợ kinh phí lắp đặt mới, tạo điều kiện các hộ dân sử dụng nước sạch, đảm bảo đủ điều kiện công trình cấp nước bền vững;

Qua buổi họp, Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch đề nghị Phòng Kinh tế thành phố, Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện và UBND các xã, trên cơ sở thực trạng thực hiện chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch, xây dựng giải pháp thực hiện, chỉ đạo phòng chuyên môn, phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân việc sử dụng nước sạch, đảm bảo sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và các quy định liên quan đến chỉ tiêu 17.1, đáp ứng yêu cầu xã đạt chuẩn nông thôn mới./.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Người lao động trực tiếp quản lý, vận hành  các công trình cấp nướcNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Người lao động trực tiếp quản lý, vận hành  các công trình cấp nước/PublishingImages/2019-09/TTNS_Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019.jpg
Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT.
Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019.
10/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT;

Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019;

          

Toàn cảnh: Cuộc họp triển khai nhiệm vụ năm 2019

             Hiện nay, Trung tâm Nước sạch trực tiếp quản lý 68 công trình cấp nước tập trung trên địa bàn các huyện, thành phố, chủ yếu tại các xã vùng nông thôn, biên giới. Với công suất thiết kế: 8.720 m3/ngày-đêm, cung cấp nước trên: 19.000 tổ chức, hộ dân sử dụng nước. Hoạt động này đã giúp người dân nghèo, đồng bào dân tộc ở vùng nông thôn, biên giới được sử dụng nguồn nước sạch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sức khỏa của người dân; đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông mới, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh. Để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao năm 2019, Trung tâm Nước sạch cần tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ, cụ thể như sau:

          - Nâng cao chất lượng, an toàn đối với các công trình cấp nước đạt tỷ lệ quy chuẩn 02:2009/BYT là: 62,33% toàn tỉnh, các xã nông thôn mới đạt thấp nhất: 65%. Kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1, Tiêu chí 17– Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019;

- Định kỳ 3 tháng tổ chức lấy mẫu xét nghiệm mẫu nước giám sát theo quy định tại các công trình cấp nước và xét nghiệm mẫu nước: 06 xã xây dựng nông thôn mới năm 2019, làm cơ sở nâng cao chất lượng nước nước sạch tại các công trình cấp nước tập trung đạt QCVN 02:2009/BYT;

          - Rà soát giảm số lượng công trình cấp nước yếu kém không bền vững, tăng số lượng công trình cấp nước bền vững. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhắc nhở người lao động công tác quản lý, vận hành, khai thác, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời hư hỏng các công trình cấp nước; giữ gìn bảo vệ tài sản, vệ sinh sạch sẽ;

  - Xây dựng quy chế phối hợp giữa Trung tâm Nước sạch và UBND các xã có công trình cấp nước, giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động cấp nước: Giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản, di dời tuyến ống nước, hỗ trợ cắt nước các hộ dân nợ tiền nước, giới thiệu người địa phương làm việc tại các công trình cấp nước, vận động người dân nâng cao ý thức trách nhiệm sử dụng nước sạch tiết kiệm, đúng mục đích, đóng tiền theo quy định;

          - Xây dựng kế hoạch sử dụng tiết kiệm điện, hạn chế thất thoát nước, triển khai trực tiếp người lao động quản lý, vận hành công trình cấp nước, giảm bơm nước trong giờ cao điểm, đối với công trình cấp nước số lượng người dân sử dụng nước ít giảm giờ bơm nước; sử dụng tiết kiệm điện, giảm tỷ lệ thất thoát nước dưới mức 25%;

          - Thường xuyên kiểm tra: Đường ống nước, đồng hồ nước các hộ dân, khắc phục kịp thời bể đường ống, hạn chế thất thoát nước, trộm nước sau đồng hồ. Rà roát các hộ dân đang sử dụng nước, đồng hồ bị mờ, hư lập danh sách thay mới; hạn chế tối đa thất thoát nước;

          Qua buổi triển khai thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2019, toàn thể viên chức và người lao động, nhận thức vai trò trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ được giao. Đặc biệt quan tâm chỉ đạo công tác quản lý, vận hành, khai thác, duy tu, bảo dưỡng, khắc phục sự cố các công trình cấp nước tập trung, đảm bảo chất lượng nước đạt quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT. Tăng cường phối hợp các cơ quan, đơn vị, UBND xã có công trình cấp nước, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động cấp nước, đáp ứng chỉ tiêu 17.1 xây dựng nông thôn mới và nhu cầu sử dụng nước của người dân trên địa bàn tỉnh, phấn đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu, nhiệm vụ được Sở Nông nghiệp và PTNT giao năm 2019./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Hòa Thạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, mở rộng tuyến ống nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước người dân trên địa bàn xãNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Hòa Thạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, mở rộng tuyến ống nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước người dân trên địa bàn xã/PublishingImages/2019-09/TTNS_LÀM VIỆC VỚI XÃ HÒA THẠNH.jpg
Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế.
10/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế,

Nhằm khắc phục những tồn tại khó khăn trong hoạt động cấp nước, hạn chế thất thoát nước. Ngày 12/6/2019 và ngày 11/7/2019, Trung tâm Nước sạch phối hợp với UBND xã Hòa Thạnh, tổ chức họp bàn biện pháp tiếp tục duy trì hoạt động tại 02 công trình cấp nước, để việc cung cấp nước sạch đối với các hộ dân trên địa bàn xã mang lại hiệu quả.


Toàn cảnh: Buổi làm việc tại UBND xã Hòa Thạnh

Dự họp có Đại diện Lãnh đạo UBND xã Hòa Thạnh, Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch, Trưởng ấp: Hiệp Phước và Hiệp Bình, người lao động quản lý vận hành 02 công trình cấp nước và các hộ dân đang sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước ấp Hiệp Phước và ấp Hiệp Bình. Trung tâm Nước sạch đã trao đổi tình hình vận hành cấp nước và những tồn tại khó khăn trong thời gian qua, đề xuất giải pháp mở rộng tuyến ống, vận động hộ dân sử dụng nước sạch, tăng doanh thu để tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước; đồng thời giải đáp những ý kiến của người dân. Qua buổi làm việc đã thống nhất giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Hòa Thạnh và các hộ dân đang sử dụng nước, cụ thể:

          * Ý kiến các hộ dân sử dụng nước:

          - Thời gian bơm nước chưa đảm bảo, nếu giảm giờ bơm nước và thời gian xúc phèn đơn vị phải có thông báo cụ thể thời gian để bà con chuẩn bị dụng cụ chứa nước, không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân;

- Giá nước từ 4000 đồng/1m3 nước tăng lên 5.500 đồng/m3 cao, ảnh hưởng đến chi phí của người dân;

- Cung cấp nước thời gian từ 9h-12 nước yếu, thỉnh thoảng nước bị đục, vàng, đề nghị đơn vị xem xét khắc phục cấp nước phải an toàn, sạch, chất lượng;

- Quản lý công trình cấp nước phải thường xuyên có mặt tại công trình cấp nước để kịp thời khắc phục sự cố hư hỏng và tiếp xúc gần gũi tạo mối quan hệ với người dân sử dụng nước;

- Một số đồng hồ nước các hộ dân sử dụng đã lâu, bị mờ, hỏng đề nghị thay mới. Các hộ dân không có nhu cầu sử dụng nước cắt nước từ đường ống chính, hạn chế trộm nước, sử dụng nước phải đóng tiền, đảm bảo công bằng.

* Ý kiến của Lãnh đạo UBND xã Hòa Thạnh:

- Số lượng các hộ dân hiện đang sinh sống tại ấp Hiệp Phước và ấp Hiệp Bình ít, đa số dân nghèo, người dân tộc, thu nhập thấp, không ổn định; do vậy thời gian tới Trung tâm Nước sạch cần phối hợp với UBND xã tuyên truyền vận động người dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch;

- Thông báo thời gian vận hành bơm nước, thời gian xúc phèn dán trước công trình cấp nước và UBND xã, ấp để bà con được biết và chủ động dụng cụ chứa nước không ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Làm bảng ghi số điện thoại của Quản lý công trình cấp nước để người dân tiện liên hệ;

- Khảo sát thực tế các hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sạch, mở rộng tuyến ống mới, tăng hộ dân sử dụng nước sạch, có kinh phí tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu 17.1 về nước sạch đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới;

* Ý kiến kết luận của Trung tâm Nước sạch:

- UBND xã Hòa Thạnh, Trưởng 02 ấp: Hiệp Bình, Hiệp Phước tuyên truyền vận động người dân sử dụng nước sạch, ký hợp đồng sử dụng nước, bảo quản đồng hồ nước, không tự ý phá đồng hồ nước;

          - Tiến hành khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng nước của người dân, lập danh sách ký tên đồng ý sử dụng nước, xây dựng dự toán chi phí lắp đặt và trao đổi thống nhất các hộ dân;

          - Thông báo thời gian vận hành bơm nước và thời gian xúc phèn để người dân được biết và chủ động dụng cụ chứa nước, khắc phục tình trạng nước bị vàng (trong thời gian xúc phèn), đảm bảo chất lượng nước các hộ dân sử dụng nước theo quy định;

          - Kiểm tra trực tiếp các hộ dân đang sử dụng nước đồng hồ bị mờ, hư lập danh sách thay mới. Đối với những hộ không còn sử dụng nước tiến hành cắt nước từ đường ống chính, hạn chế thất thoát nước, trộm nước sau đồng hồ;

          - Giải đáp ý kiến thắc mắc các hộ dân giá nước từ 4000 đồng tăng lên 5.500 đồng và chính sách hỗ trợ giá nước của UBND tỉnh, Trung tâm Nước sạch đã có thông báo gửi UBND các xã có công trình cấp nước và người lao động quản lý vận hành công trình cấp nước thông báo trực tiếp đến người dân sử dụng nước.

          Qua buổi làm việc giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Hòa Thạnh và các hộ dân sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước, đã trao đổi giải quyết những tồn tại, khó khăn trong thời gian qua. Đặc biệt biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, khai thác công trình cấp nước trên địa bàn xã, nhằm duy trì hoạt động cấp nước, nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người dân xã biên giới. Tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch, đảm bảo số lượng và chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu xã xây dựng nông thôn mới năm 2020 về chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định. Đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh trong việc xây dựng nông mới trên địa bàn tỉnh./.

GIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚCNước sạch nông thônBài viếtGIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚC/PublishingImages/2019-09/TTNS_GIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚC.jpg
Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.
9/30/2019 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.

 

Toàn cảnh buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay

Nhằm hỗ trợ và mang lại tiện ích cho khách hàng trong việc thanh toán tiền nước hàng tháng, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã liên kết với Viettel Tây Ninh tiến hành triển khai thử nghiệm hình thức hỗ trợ thanh toán tiền nước bằng dịch vụ ViettelPay. Theo đó, các khách hàng đang sử dụng nước của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn có thể tiến hành thanh toán tiền nước hàng tháng tại các cửa hàng giao dịch của Viettel trên toàn tỉnh.

Ngoài ra, khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ ViettelPay của Viettel còn có thể thanh toán tiền nước qua điện thoại di động tại bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào, không giới hạn dòng điện thoại di động (ứng dụng ViettelPay trên Smartphone và USSD trên các dòng máy điện thoại bàn phím không cần internet),  không cần tài khoản ngân hàng….Giao dịch được thực hiện an toàn tuyệt đối ở bất cứ nơi nào có sóng Viettel với chính sách bảo mật 2 lớp gồm mã PIN và mã xác thực giao dịch dùng 1 lần (OTP).

Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.

 

Thanh toán tiền nước qua ứng dụng ViettelPay trên Smartphone

Kết thúc buổi giới thiệu dịch vụ mới, Lãnh đạo hai đơn vị thống nhất tiếp tục nỗ lực, sáng tạo để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, an toàn và tiết kiệm nhất.


Ban hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn  trên địa bàn tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTBan hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2019-06/20190126_152416.jpg
Ngày 09/7/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND  về việc Ban hành biểu giá nước sạch sinh hoạt tại đô thị, khu vực nông thôn và nước dùng cho cơ quan hành chính sự nghiệp, khu công nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND). Theo đó, giá nước sạch khu vực nông thôn như sau: hộ dân cư - 4.000 đồng/m3, cơ quan hành chính sự nghiệp - 6.000 đồng/m3, hoạt động sản xuất vật chất - 7.000 đồng/m3, kinh doanh dịch vụ - 8.000 đồng/m3.
6/28/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 09/7/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND  về việc Ban hành biểu giá nước sạch sinh hoạt tại đô thị, khu vực nông thôn và nước dùng cho cơ quan hành chính sự nghiệp, khu công nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND). Theo đó, giá nước sạch khu vực nông thôn như sau: hộ dân cư - 4.000 đồng/m3, cơ quan hành chính sự nghiệp - 6.000 đồng/m3, hoạt động sản xuất vật chất - 7.000 đồng/m3, kinh doanh dịch vụ - 8.000 đồng/m3.

Giá nước sạch nông thôn được cấu thành từ các chi phí gồm chi phí vật tư trực tiếp (điện, hóa chất), chi phí nhân công trực tiếp (lương, các khoản bảo hiểm: y tế, bảo hiểm xã hội, thất nghiệp), chi phí quản lý (quản lý khách hàng, các khoản chi phục vụ công tác thu), chi phí bán hàng (đấu nối, thay thế đồng hồ, hóa đơn), chi phí sản xuất chung (xét nghiệm mẫu nước, khấu hao, duy tu, sửa chữa), thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, phí dịch vụ môi trường rừng.

Tuy nhiên, sau 06 năm thực hiện Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND, giá nước sạch nông thôn chịu ảnh hưởng bởi các chi phí nhân công và vật tư trực tiếp tăng cao như:

+ Tăng lương cơ sở : 04 lần (Từ 01/07/2013 đến hết tháng 4/2016: 1.150.000 đồng; Từ 01/05/2016 đến hết tháng 6/2017: 1.210.000 đồng, Từ 01/07/2017 đến hết tháng 6/2018: 1.300.000 đồng, Từ 01/07/2018 đến hết tháng 6/2019: 1.390.000 đồng) ;

+ Tăng giá điện : 04 lần (Giá điện bình quân - Năm 2013: 1.508,58 đồng/Kwh, Năm 2015: 1.622,05 đồng/Kwh, Năm 2017: 1.720,65 đồng/Kwh; Năm 2019: 1.864,04 đồng/Kwh);

+ Tăng thuế tài nguyên nước: 02 lần (Đối với nước ngầm - Năm 2013: 180 đồng/m3, Năm 2015: 400 đồng/m3, Năm 2018: 400 đồng/m3);

+ Chi phí phát sinh: phí dịch vụ môi trường rừng tăng 02 lần (Năm 2013: 40 đồng/m3, Năm 2016 : 52 đồng/m3);

Các chi phí cấu thành giá nước sạch nông thôn tăng cao và phí dịch vụ môi trường rừng phát sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến biểu giá cấu thành nước sạch khu vực nông thôn, dẫn đến đơn vị cấp nước gặp nhiều khó khăn trong quá trình duy tu, bảo trì bảo dưỡng và nâng cấp, sữa chữa thường xuyên các thiết bị, hạng mục công trình.

Do đó, ngày 25/4/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND về việc ban hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thay thế Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND ngày 09/7/2013 và có hiệu lực từ ngày 06/5/2019. Theo đó, giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn của các hộ dân cư là 5.500 đồng/m3 (đã bao gồm thuế VAT).

Đồng thời, ngày 24/5/2019, trên cơ sở Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ra Quyết định số 211/QĐ-TTNS về việc điều chỉnh giá nước sạch cho các đối tượng khác (trừ hộ dân cư khu vực nông thôn). Theo đó, áp dụng từ kỳ hóa đơn tháng 6/2019 cho các đối tượng sử dụng nước sạch có giá lần lượt như sau: cơ quan hành chính sự nghiệp : 9.500 đồng/m3 (tăng 3.500 đồng/m3), hoạt động sản xuất vật chất : 10.000 đồng/m3 (tăng 3.000 đồng/m3), kinh doanh dịch vụ : 12.500 đồng/m3 (tăng 4.500 đồng/m3).

Giá nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn khi được tính đúng, tính đủ sẽ góp phần giúp đơn vị cung cấp nước sạch đảm bảo hoạt động cấp nước, duy tu sửa chữa, nâng cao chất lượng nước cấp và các hoạt động liên quan đến cấp nước an toàn./.

Kết quả thực hiện Chương trình Nước ngọt vùng biên năm 2018Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKết quả thực hiện Chương trình Nước ngọt vùng biên năm 2018/PublishingImages/2019-03/TTNS_KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC NGỌT VÙNG BIÊN 2018.png
4/4/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Năm 2018, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiếp nhận vốn hỗ trợ của Hội đồng quản lý quỹ "Vì biển đảo quê hương, vì tuyến đầu Tổ Quốc" Thành phố Hồ Chí Minh từ UBMTTQVN tỉnh Tây Ninh với tổng kinh phí: 931,8 triệu đồng, để thực hiện xây dựng công trình cấp nước sạch cho xã vùng biên giới, vùng rất khó khăn về nguồn nước (nguồn nước ngầm bị nhiễm phèn nên không thể sử dụng để ăn uống, sinh hoạt), bao gồm:

(1) Thực hiện đầu tư Công trình cấp nước sạch ấp Phước Hưng, Phước Chỉ, Trảng Bàng: 431,8 triệu đồng, gồm các hạng mục đầu tư xây dựng như tuyến ống cấp nước PVC D60mm dài 2.840 m, 150 đồng hồ đo nước D15mm và đường ống D27mm cấp nước đến từng hộ dân;

Bên cạnh đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đối ứng 35 triệu đồng để bổ sung bồn chứa 10 m3 và 150 m ống PVC D49mm, cấp nước thêm cho 29 hộ dân, nâng tổng số hộ dân được thụ hưởng cấp nước sạch từ công trình là 179 hộ dân.

(2) Thực hiện đầu tư Công trình cấp nước sạch ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành: 500.000.000 đồng, gồm các hạng mục đầu tư xây dựng: giếng khoan 10m3/h, cụm xử lý 10m3/h, nền móng, thiết bị bơm và 1.000 m ống nhựa PVC D60mm cung cấp nước cho 50 hộ dân. Sau 02 tháng thi công (bắt đầu từ ngày 25/10/2018) và dưới sự giám sát của cộng đồng, UBND xã Biên Giới, đến nay, Công trình cấp nước sạch ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành hoàn thành, đưa vào sử dụng cấp nước cho 34 hộ dân. Trong đó, có 15 hộ đồng bào dân tộc Khmer (Do các hộ dân sống rãi rác nên tuyến ống cấp nước dài 1.000m chỉ cung cấp được cho 34 hộ dân sử dụng nước sạch).

Đồng thời, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đối ứng bổ sung 70 triệu đồng, thực hiện: san nền đá mi diện tích 100 m2; lắp bộ biến tần 5,5KW và 220m ống PVC D60mm, cấp nước cho 10 hộ dân đồng bào dân tộc, nâng tổng số hộ dân được thu hưởng cấp nước sạch từ công trình là 44 hộ (Trong đó, 25/44 hộ là đồng bào dân tộc Khmer). Đồng thời, nâng tổng số hộ được cấp nước từ công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn xã Biên Giới là 246 hộ (chiếm 20,28 % dân số toàn xã).

Với nguồn kinh phí viện trợ xây dựng công trình cấp nước đã góp phần cung cấp nước sạch cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ biên phòng đóng quân tại địa bàn ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng và ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Trảng Bàng, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng và nâng cao tiêu chí nước sạch trong xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, nâng cao nhận thức sử dụng nước sạch của người dân vùng biên giới, đồng bào dân tộc và đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng vùng biên giới.

Một số hình ảnh tại Buổi lễ bàn giao Công trình nước ngọt vùng biên năm 2018 tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành.


Ông Đinh Hùng Danh - Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn báo cáo Kết quả thực hiện xây dựng Công trình cấp nước sạch ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành 

 

Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (Chủ tịch HĐND Tp HCM), ông Nguyễn Thành Tâm (Chủ tịch HĐND tỉnh Tây Ninh) và ông Nguyễn Văn Hợp (Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh Tây Ninh) cắt băng khánh thành Công trình "Nước ngọt vùng biên"


Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm - Chủ tịch HĐND Tp.HCM chia sẻ niềm vui, cảm súc đối với người dân xã Biên Giới và cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng Vàm Trảng Trâu.

Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (Chủ tịch HĐND Tp HCM), ông Nguyễn Văn Mấy (Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tây Ninh) và ông Đinh Hùng Danh (Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh) kiểm tra chất lượng nước sau xử lý của công trình "Nước ngọt vùng biên"
Ban hành Bộ chỉ số Đánh giá - Thẽo dõi Nước sạch nông thôn  và tài liệu hướng dẫn triển khaiNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTBan hành Bộ chỉ số Đánh giá - Thẽo dõi Nước sạch nông thôn  và tài liệu hướng dẫn triển khai/PublishingImages/2019-03/TTNS_Ban hành Bộ chỉ số.png
4/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 22/10/2012, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Quyết định 2570/QĐ-BNN-TCTL về việc phê duyệt điều chỉnh Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn nhằm mục đích theo dõi, đánh giá các kết quả đạt được so với mục tiêu của Chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn. Cuối năm 2015, CTMTQG Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn kết thúc; kể từ năm 2016 nội dung triển khai về nước sạch nông thôn là một trong những nhiệm vụ của CTMTQG về xây dựng Nông thôn mới.

Để kế thừa các kết quả của Bộ chỉ số theo Quyết định 2570/QĐ-BNN-TCTL. Đồng thời, để không gây lãng phí đối với toàn bộ kinh phí và số liệu điều tra Bộ chỉ số từ năm 2008 đến 2015 thì cần thiết phải rà soát, điều chỉnh và xây dựng một số chỉ số mới nhằm đảm bảo Bộ chỉ số là một công cụ để Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng như các địa phương tăng cường công tác quản lý giai đoạn 2016 -2020 và những năm tiếp theo trong lĩnh vực Nước sạch nông thôn.

Bên cạnh đó, đáp ứng nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước về chế độ báo cáo thống kê ngành Nông nghiệp; thực hiện công tác Theo dõi, giám sát và đánh giá CTMTQG xây dựng Nông thôn mới; trong đó tập trung vào các chỉ số để theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.


(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn 2018)

Do đó, ngày 07/12/2018, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành quyết định số 4826/QĐ-BNN-TCTL về việc ban hành Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn và tài liệu hướng dẫn triển khai thay thế Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL ngày 22/10/2012.

Theo đó, Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn có 05 chỉ số (Chỉ số 1: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh (%); Chỉ số 2: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước đạt Quy chuẩn Việt Nam (%); Chỉ số 3: Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh (%); Chỉ số 4: Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước đạt Quy chuẩn Việt Nam (%); Chỉ số 5: Tỷ lệ các công trình cấp nước tập trung hoạt động hiệu quả, bền vững (%), theo cấp độ: Bền vững, tương đối bền vững, kém bền vững và không hiệu quả), giảm 03 chỉ số so với Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn của Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL.

Hiện nay, Hướng dẫn triển khai Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn đã được Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức hướng dẫn, triển khai tại 03 địa điểm: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh./.

Quy định hạn chế khai thác nước dưới đấtNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTQuy định hạn chế khai thác nước dưới đất/PublishingImages/2019-03/TTNS_Quy định hạn chế khai thác nước dưới đất.png
4/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 26/12/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 167/2018/NĐ-CP về việc quy định hạn chế khai thác nước dưới đất. Nghị định bao gồm 3 Chương, 17 Điều, quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất ở các vùng chứa nước ngọt thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 10/02/2018.

Theo Nghị định số 167/2018/NĐ-CP có 05 vùng hạn chế khai thác nước dưới đất (vùng hạn chế 1, vùng hạn chế 2, vùng hạn chế 3, vùng hạn chế 4, vùng hạn chế hỗn hợp). Trong đó, nguyên tắc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất như sau:

- Bảo đảm yêu cầu bảo vệ nguồn nước dưới đất, đồng thời phải bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, bao gồm cả việc bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (nếu có) trong trường hợp bị thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật;

- Tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp hạn chế khai thác được áp dụng cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực hạn chế và thứ tự thực hiện đối với từng đối tượng, trường hợp theo quy định của Nghị định này. Không áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất khác với các biện pháp quy định tại Nghị định này;

- Ưu tiên cho việc cấp nước sinh hoạt, cấp nước phục vụ phòng, chống thiên tai;

- Thực hiện theo phương án, lộ trình phù hợp được phê duyệt, đảm bảo không gây gián đoạn việc cấp nước.

Hiện nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành và khai thác 70 công trình cấp nước (Trong đó, 69/70 công trình cấp nước khai thác nguồn nước dưới đất, 01/70 công trình cấp nước khai thác nguồn nước mặt) với công suất 8.728/9.662 m3/ngày.đêm, đạt 90% công suất thiết kế, cấp nước cho 18.385/21.315 hộ sử dụng, đạt 86,25% số hộ thiết kế. Vì vậy, để đảm bảo việc thực hiện theo đúng quy định về cấp phép khai thác nước và các quy định khác về tài nguyên nước, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã thực hiện thủ tục và được cấp phép khai thác nước dưới đất theo đúng quy định.

Theo Quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020 do Liên đoàn Điều tra, quy hoạch tài nguyên nước Miền Nam lập, nguồn nước dưới đất tỉnh Tây Ninh có 8 tầng chứa nước (Trong đó, có 5 tầng chứa nước lỗ hổng: qp2-3, qp1, n22, n21 và n13 có khả năng khai thác với quy mô lớn; Tầng chứa nước lỗ hổng qp3 và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt qp2 và ps-ms có khả năng khai thác nhỏ lẻ đến qui mô vừa) với tổng trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất của tỉnh là 5.099.887m3/ngày (Trong đó: trữ lượng tĩnh là 3.453.597 m3/ngày, trữ lượng động là 1.646.290 m3/ngày).

Mặt khác, tại một số vị trí quan trắc mực nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc Gia, (Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 11/2018 vùng Đông Nam Bộ) theo dõi, quan trắc, thì các tầng chứa nước qp3, qp2-3, qp1, n22, n21 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có xu thế mực nước dưới đất hạ vào tháng 01/2019.

Hình ảnh: Sơ đồ mực nước dưới đất tháng 11 tầng qp3 của tỉnh Tây Ninh.

(Dự báo: mực nước dưới đất có xu thế hạ)

Với trữ lượng khai thác nước dưới đất dồi dào nhưng công tác kiểm tra, giám sát, thẩm định khai thác, cấp phép khai thác nước dưới đất còn hạn chế, sẽ dẫn đến sự suy giảm mực nước (mực nước hạ) và biến đổi chất lượng nước dưới đất.

Do đó, việc quản lý khai thác, cấp phép khai thác và hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là vấn đề, yêu cầu cấp thiết và còn nhiều khó khăn đối với các cơ quan quản lý nhà nước./.

 

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạtNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/1/2019 8:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 14/12/2018, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 41/2018/TT-BYT "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt" bao gồm 99 chỉ tiêu (Trong đó, 08 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm A và 91 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm B), có hiệu lực từ ngày 15/6/2019. Quy chuẩn này thay thế Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01: 2009/BYT) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT).

Điểm mới của Quy chuẩn này là 08 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm A do Bộ Y tế ban hành, 91 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm B do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành (tùy từng địa phương) và phương pháp thử theo tiêu chuẩn quốc gia.

Khi Thông tư số 41/2018/TT-BYT có hiệu lực thì Thông tư số 50/2015/TT-BYT ngày 11/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt hết hiệu lực và Thông tư số 04/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT), Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT) tiếp tục có hiệu lực để áp dụng cho các đối tượng quy định tại Khoản 2, Điều 4, Thông tư số 41/2018/TT-BYT đến hết ngày 30/6/2021.

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong thời hạn quy định tại Khoản 3, Điều 3 thuộc Thông tư số 41/2018/TT-BYT, đơn vị cấp nước có thể áp dụng một trong hai trường hợp sau:

- Áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt ban hành kèm theo Thông tư số 41/2018/TT-BYT nhưng phải thử nghiệm toàn bộ các thông số chất lượng nước sạch trong danh mục quy định tại Điều 4 của Quy chuẩn (99 chỉ tiêu).

- Tiếp tục áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT) cho đến hết ngày 30/6/2021.

Ngoài ra, theo Thông tư số 41/2018/TT-BYT, các viện chuyên ngành thuộc Bộ Y tế có trách nhiệm báo cáo tình hình chất lượng nước sạch của các tỉnh trong địa bàn phụ trách theo định kỳ 6 tháng/lần; Sở Y tế các tỉnh chỉ đạo các đơn vị trực thuộc kiểm tra, giám sát chất lượng nước; Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh và Trung tâm Y tế huyện ngoại kiểm định kỳ, đột xuất chất lượng nước sạch của các đơn vị cấp nước sạch cho các hộ gia đình định kỳ theo quý, 6 tháng, năm.

Đồng thời, quy định trách nhiệm của UBND tỉnh như tổ chức và kiểm tra việc thực hiện Thông tư số 41/2018/TT-BYT tại địa phương; ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt bảo đảm có hiệu lực trước ngày 01/7/2021; bố trí ngân sách và chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch đột xuất hoặc định kỳ hằng năm; đầu tư nâng cấp trang thiết bị phòng thử nghiệm cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh để có đủ khả năng thực hiện thử nghiệm các thông số chất lượng nước sạch theo quy định của Thông tư số 41/2018/TT-BYT.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt được ban hành đã xóa bỏ sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn nước, tăng tính chủ động của các địa phương và vai trò, trách nhiệm của các cơ sở cung cấp nước trong hoạt động đảm bảo an toàn cấp nước.

BẢNG CHỈ TIÊU NHÓM A DO BỘ Y TẾ BAN HÀNH

TTTên thông sốĐơn vị tínhNgưỡng giới hạn chophép
Các thông số nhóm A
Thông số vi sinh vật
1.ColiformCFU/100 mL<3
2.E.Coli hoặc Conform chịu nhiệtCFU/100 mL<1
Thông số cảm quản và vô cơ
3.Arsenic (As)(*)mg/L0.01
4.Clo dư tự do(**)mg/LTrong khoảng 0,2 - 1,0
5.Độ đụcNTU2
6.Màu sắcTCU15
7.Mùi, vị-Không có mùi, vị lạ
8.pH-Trong khoảng 6,0-8,5

(*): Chỉ áp dụng cho các đơn vị cấp nước khai thác nước ngầm;

(**):Chỉ áp dụng cho các đơn vị cấp nước sử dụng Clo làm phương pháp khử trùng

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thực hiện chỉ tiêu 17.1 – Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy địnhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thực hiện chỉ tiêu 17.1 – Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định/PublishingImages/2018-11/TTNS_Hình Kiểm tra nguồn nước giếng khoan tại hộ dân ấp Long Thạnh, xã Long Chữ.jpg
Thực hiện Kế hoạch số 103/KH-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2018; Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh đã triển khai Kế hoạch số 432/KH-TTNS ngày 07/11/2018 về việc Kiểm tra, đánh giá các xã đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới năm 2018.
11/28/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Kế hoạch số 103/KH-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2018; Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh đã triển khai Kế hoạch số 432/KH-TTNS ngày 07/11/2018 về việc Kiểm tra, đánh giá các xã đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nướca sạch, nước hợp vệ sinh theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới năm 2018.

Ngày đầu tiên triển khai thực hiện Kế hoạch, Đoàn đã tiến hành kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu 17.1 tại xã Long Chữ, huyện Bến Cầu. Xã Long Chữ, huyện Bến Cầu là xã vùng nông thôn nằm trong Kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2018 với tổng số hộ dân trên địa bàn xã là 1.522 hộ với công trình cấp nước tập trung ấp Long Hòa 1 đang vận hành cung cấp nước cho 284 hộ dân trên địa bàn xã.

Qua một buổi làm việc với UBND xã Long Chữ đồng thời kết hợp kiểm tra thực tế tại một số hộ dân thuộc các ấp trên địa bàn xã. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đánh giá:

Đối với các hộ dân sử dụng nước tại công trình cấp nước tập trung người dân có mong muốn chính quyền tiếp tục duy trì việc cấp nước sạch phục vụ người dân, đồng thời tăng cao việc cấp nước liên tục trong các mùa nắng nóng.

Hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tại ấp Long Hòa, xã Long Chữ

Đối với các hộ dân chưa được tiếp cận với nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung chủ yếu khoan giếng tại gia đình để sử dụng trong sinh hoạt. Tuy nhiên, do chất lượng nguồn nước giếng khoan chưa đảm bảo theo quy chuẩn nước sạch nên các hộ dân này phải sử dụng nước bình thay thế trong ăn uống hàng ngày. Trong buổi tiếp xúc với đoàn kiểm tra, người dân đã bày tỏ nguyện vọng mong muốn nước sạch sẽ được phủ mạng lưới đường ống về tới gia đình mình để chất lượng cuộc sống được nâng cao, không còn phải hàng ngày mua nước bình dùng phục vụ sinh hoạt, ăn uống.

   

Kiểm tra nguồn nước giếng khoan tại hộ dân ấp Long Thạnh, xã Long Chữ

Kết thúc buổi làm việc, dựa trên các số liệu về số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh do UBND xã Long Chữ cung cấp và số liệu về kết quả xét nghiệm nước hộ gia đình đạt Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT kết hợp với việc kiểm tra thực tế tại một số hộ dân trên địa bàn xã. Đoàn kiểm tra kết luận xã Long Chữ, huyện Bến Cầu đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định trong đó Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh là 99,08% ( tương đương 1508 hộ/1522 hộ) theo quy định phải ≥ 98%; Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT là 74,84% (tương đương 1139 hộ/1522 hộ) theo quy định phải ≥ 65%; đồng thời đề nghị xã tiếp tục duy trì, nâng cao thực hiện chỉ tiêu 17.1 kết hợp với việc tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức về việc sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh trên địa bàn xã./.

Hội nghị về công tác quản lý nước sạch nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTHội nghị về công tác quản lý nước sạch nông thôn/PublishingImages/2018-11/TTNS_Ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì Hội nghị.png
11/28/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh, Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội nghị về công tác quản lý nước sạch nông thôn. Chủ trì Hội nghị Ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT và Ông Nguyễn Tiến Nhường - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh.

Tham dự Hội nghị có lãnh đạo UBND tỉnh Bình Định, Trà Vinh; đại diện các bộ: Nông nghiệp và PTNT, Tài chính , Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban dân tộc, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam; Hiệp hội cấp nước nông thôn Đồng bằng sông Cửu long; các tổ chức quốc tế, một số doanh nghiệp cáp nước, các nhà cung cấp công nghệ, thiết bị ngành nước; đại diện Sở Nông Nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy lợi, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT các tỉnh/thành phố tham gia.

       

Ảnh: Ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì Hội nghị (Ảnh trích nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh)

Sau khi nghe Tổng cục Thủy lợi báo cáo về công tác quản lý nước sạch nông thôn và báo cáo tham luận của các dơn vị: Trung tâm Quốc gia Nước sạch và VSMTNT, Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi - Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh Sơn La, Hiệp hội Cấp nước nông thôn Đồng Bằng Sông Cửu Long và ý kiến của các đại biểu Trung ương, địa phương, các tổ chức quốc tế, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng đánh giá cấp nước nông thôn đã đạt được mục tiêu đề ra, góp phần dạt được mục tiêu thiên niên kỷ mà Chính phủ đã cam kết với cộng đồng quốc tế (Theo báo cáo thực hiện Bộ chỉ số Theo dõi - Đánh giá (M&E) của các địa phương, tới nay, có khoảng 88,5% số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó gần 51% sử dụng nước đạt QC 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuạt quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt", với khoảng 44% dân số nông thôn (hơn 28,5 triệu người) được cấp nước từ công trình cấp nước tập trung, 56% dân số nông thôn (36,3 triệu người) còn lại sử dụng công trình cấp nước quy mô gia đình - nguồn: Tổng cục Thủy lợi), góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Tuy nhiên, công tác nước sạch nông thôn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và cơ hội.

Qua hội nghị, để đảm bảo phát triển bền vững thành quả đã đạt được, không ngừng cải thiện, nâng cao tỷ lệ cấp nước, chất lượng dịch vụ cấp nước nông thôn, Thứ trưởng kết luận, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị cần triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

1.  Đối với các cơ quan Trung ương

Tổng cục Thủy lợi tiếp tục phối hợp với các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT và các Bộ, ngành liên quan rà soát cơ chế chính sách về cấp nước sạch nông thôn; đề xuất điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các chính sách phù hợp, khả thi, tài liệu kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và cung cấp dịch vụ cấp nước.

Chỉ đạo việc lồng ghép các nguồn lực từ các Chương trình, dự án hiện có để đầu tư, sửa chữa, nâng cấp các công trình cấp nước nông thôn gắn với yêu cầu đầu ra về cấp nước bền vững và các tiêu chí về xã nông thôn mới. Chú trọng thúc đẩy các giải pháp cấp nước, xử lý, trữ nước hộ gia đình.

Phối hợp với Sở Nông Nghiệp và PTNT trong việc triển khai các hoạt động nâng cao năng lực cho các dơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nước sạch nông thôn ở địa phương, đặc biệt là Chi cục Thủy Lợi.

Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đầu tư, quản lý và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn tại các địa phương, đặc biệt lưu ý vấn đề bảo vệ chất lượng nguồn nước cấp, đảm bảo cấp nước an toàn.

Đẩy mạnh các chương trình đào tạo, tập huấn cho các địa phương về quản lý, vận hành công trình cấp nước; thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn. Áp dụng các giải pháp khoa học, công nghệ và tự động hóa trong quản lý rủi ro, kiểm soát chất lượng nước cấp.

Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ với chính quyền địa phương, các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong thu hút nguồn lực đầu tư, mô hình hợp tác doanh nghiệp - doanh nghiệp, giới thiệu các quỹ, mô hình liên kết đầu tư, thí điểm và chuyển giao các sản phẩm khoa học công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn.

Rà soát kế hoạch truyền thông về nước sạch nông thôn theo từng giai đoạn (5 năm) đảm bảo thúc đẩy các sáng kiến mới về truyền thông, thay đổi mục tiêu truyền thông từ truyền thông nâng cao nhận thức sang truyền thông thay đổi hành vi; đồng thời triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.

2.  Đối với các địa phương

Sở Nông nghiệp và PTNT chủ động tham mưu UBND tỉnh phương án kiện toàn tổ chức của Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đảm bảo hộ máy tinh gọn, hiệu quả, làm tốt nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nước sạch nông thôn.

Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về cấp nước nông thôn đối với Chi cục Thủy Lợi trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, bố trí cán bộ có chuyên môn và kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ.

Ưu tiên bố trí kinh phí từ các chương trình, dự án cho sửa chữa, nâng cấp, mở rộng các công trình cấp nước trên địa bàn. Gắn điều kiện đầu tư với điều kiện về tổ chức quản lý, khai thác và kết quả đầu ra.

Tăng cường phối hợp giữa các ngành: Nông nghiệp, Y tế và các sở, ngành liên quan trong tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động của các đơn vị cấp nước nông thôn trên địa bàn.

Bố trí kinh phí duy trì thực hiện Bộ chỉ số theo dõi, giám sát đánh giá về nước sạch nông thôn trên địa bàn.

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cấp nước nông thôn, tăng cường nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, chi trả tiền nước và sử dụng nước tiết kiệm./.

Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh vui đón tết cùng đồng bào dân tộc Khmer Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTCông trình cấp nước ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh vui đón tết cùng đồng bào dân tộc Khmer /PublishingImages/2018-11/Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh vui đón tết cùng đồng bào dân tộc Khmer.jpg
Hưởng ứng tết Sen-Đolta của đồng bào dân tộc Khmer, chung tay đón tết vui vẻ, an toàn Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn chỉ đạo quản lý công trình cấp nước tích cực chuẩn bị công tác bảo trì, sửa chữa đường ống cấp nước: bảo trì, bảo dưỡng máy bơm, thiết bị điện, sửa chữa, khắc phục kịp thời sự cố vỡ đường ống cấp nước, vệ sinh cụm xử lý, bể chứa tại Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông nhằm đảm bảo cấp nước ổn định, liên tục, chất lượng nước đảm bảo QCVN 02:2009/BYT “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt” góp phần đáp ứng nhu cầu nước sạch cho đồng bào dân tộc trong những ngày vui đón tết. Đồng thời, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc.
11/20/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Những ngày này, đồng bào Khmer ở Tây Ninh nói chung và ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây ninh nói riêng đang tất bật chuẩn bị đón tết Sen-Đolta (Lễ cúng ông bà) cùng với trang trí nhà cửa, mua sắm những vật dụng gia đình, đồng bào còn tranh thủ đến chùa dọn dẹp vệ sinh, trang trí để chùa thêm khang trang.

Theo phong tục của đồng bào Khmer, chùa không chỉ là nơi tu hành mà còn là nơi tập trung sinh hoạt lễ hội: tổ chức thi hát, múa.


Ảnh: Chùa Khedol tại ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Tp Tây Ninh

Trên địa bàn ấp Thạnh Đông, Thạnh Tân, Tp Tây Ninh có 558/2.492 hộ. Trong đó, đồng bào dân tộc Khmer: 193/558 hộ, chiếm tỷ lệ: 34,59%. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước, đời sống đồng bào dân tộc Khmer tại xã Thạnh Tân có nhiều khởi sắc như tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm dần qua từng năm từ 14 hộ (tỷ lệ: 0,57%) xuống còn 8 hộ (tỷ lệ: 0,32%), đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng lên, các chương trình hỗ trợ nhà ở, vay vốn, vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và các chính sách khác đã góp phần thay đổi đời sống của đồng bào.

Hưởng ứng tết Sen-Đolta của đồng bào dân tộc Khmer, chung tay đón tết vui vẻ, an toàn Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn chỉ đạo quản lý công trình cấp nước tích cực chuẩn bị công tác bảo trì, sửa chữa đường ống cấp nước: bảo trì, bảo dưỡng máy bơm, thiết bị điện, sửa chữa, khắc phục kịp thời sự cố vỡ đường ống cấp nước, vệ sinh cụm xử lý, bể chứa tại Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông nhằm đảm bảo cấp nước ổn định, liên tục, chất lượng nước đảm bảo QCVN 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt" góp phần đáp ứng nhu cầu nước sạch cho đồng bào dân tộc trong những ngày vui đón tết. Đồng thời, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc./.

Chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTChính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020/PublishingImages/2018-11/TTNS-trien khai QD 05.JPG
11/20/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 21/3/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước Hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020. Đối tượng được hỗ trợ là những hộ sống ở ngoài vùng cấp nước, ngoài vùng quy hoạch cấp nước của các công trình cấp nước tập trung; chưa tiếp cận với nguồn nước sạch theo QCVN 02:2009 Bộ Y tế, bao gồm gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và hộ nông thôn khác. Mức hỗ trợ đối với từng đối tượng hộ gia đình là khác nhau, trong đó hộ gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo... được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% giá trị của hệ thống xử lý nước; đối với hộ cận nghèo, ngân sách nhà nước hỗ trợ 75%; đối với hộ có mức sống trung bình, ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% và đối với hộ nông thôn khác, ngân sách nhà nước hỗ trợ 30%.

Đến nay, công tác hỗ trợ hệ thống xử lý nước Hộ gia đình được sở ban ngành phối hợp với chính quyền địa phương triển khai thực hiện tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói chung và huyện Hòa Thành nói riêng.

Xã Trường Đông nằm cuối huyện Hòa Thành, có tổng diện tích tự nhiên 2.286,55 ha, có 4.613 hộ và 17.884 nhân khẩu trong đó có 46 hộ nghèo, 97 hộ gia đình cận nghèo, 19 hộ mức sống trung bình (hộ nghèo tỉnh), 279 hộ gia đình chính sách. Được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo kịp thời của sở ban ngành và chính quyền địa phương, số hộ gia đình được hỗ trợ hệ thống xử lý nước theo Quyết định 05/2018/QĐ-UBND là 186 hộ.

Hình: hệ thống xử lý nước Hộ gia đình tại ấp Năm Trại, xã Trường Đông, huyện Hòa Thành.

Qua công tác kiểm tra, đánh giá xã đạt chỉ tiêu 17.1 -  Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch tại xã Trường Đông năm 2018 theo QCVN 02:2009/BYT đạt 66,67% (2.951/4.613 hộ). Tuy nhiên, tỷ lệ trên tăng lên thành 68% trong đó có 186 hộ sử dụng nước từ hệ thống lọc. Qua đó, cho thấy nhận thức và nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân ngày càng tăng, góp phần nâng tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT, hoàn thành chỉ tiêu 17.1 thuộc tiêu chí 17 về môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới tiến tới đạt mục tiêu đặt ra đến năm 2020 tỉnh Tây Ninh có 50/80 xã đạt chuẩn nông thôn mới./.

Nâng cao hiệu quả cung cấp nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung cho đồng bào dân tộc khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNâng cao hiệu quả cung cấp nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung cho đồng bào dân tộc khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh/PublishingImages/2018-11/TTNS_1.JPG
Ngày 25/10/2018, nhằm đánh giá hiệu quả cung cấp cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Tây Ninh thực hiện Chuyên mục: “Nâng cao hiệu quả cung cấp nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung cho đồng bào dân tộc khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh” (Chuyên mục nằm trong Kế hoạch số 326/KH-SNN ngày 06/02/2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT về kế hoạch thực hiện chuyên mục và tọa đàm Nông nghiệp Nông thôn Tây Ninh năm 2018). Theo đó, tiến hành khảo sát thực tế tại các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh cấp nước cho đồng bào dân tộc, cụ thể khảo sát thực địa: huyện Tân Châu, Châu Thành, Tân Biên.
11/20/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Theo kết quả Theo dõi - đánh giá Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh năm 2016 do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổng hợp từ UBND các huyện, Thành phố, theo đó: Tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh: 97,69%, tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt": 51,36%.

Ngày 25/10/2018, nhằm đánh giá hiệu quả cung cấp cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Tây Ninh thực hiện Chuyên mục: "Nâng cao hiệu quả cung cấp nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung cho đồng bào dân tộc khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh" (Chuyên mục nằm trong Kế hoạch số 326/KH-SNN ngày 06/02/2018 của Sở Nông nghiệp và PTNT về kế hoạch thực hiện chuyên mục và tọa đàm Nông nghiệp Nông thôn Tây Ninh năm 2018). Theo đó, tiến hành khảo sát thực tế tại các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh cấp nước cho đồng bào dân tộc, cụ thể khảo sát thực địa: huyện Tân Châu, Châu Thành, Tân Biên.

          

Ảnh: Hệ thống cấp nước Khu dân cư Chàng Riệc, Tân Lập, Tân Biên

Qua khảo sát, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn có 33/70 công trình cấp nước trên địa bàn 16 xã biên giới. Trong đó, có 13/33 công trình cấp nước, cung cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc với tổng số hộ: 1.330/18.015 hộ (chủ yếu là dân tộc: Khmer, Chăm, Thái), tăng 173 hộ so với năm 2017 (1.157 hộ), chiếm tỷ lệ: 7,38% trên tổng số hộ sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung nông thôn. Ngoài ra, đảm bảo thời gian cấp nước: từ 5 giờ đến 21 giờ; chất lượng nước đạt QCVN 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt". Qua đó, góp phần nâng cao tỷ lệ đồng bào dân tộc sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT trên địa bàn tỉnh, cũng như nâng cao tỷ lệ số dân nông thôn trên địa bàn tỉnh sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT.

Ngoài ra, đồng bào dân tộc cũng có thể tiếp cận nguồn nước sạch bằng cách sử dụng hệ thống xử lý nước hộ gia đình nếu đảm bảo các điều kiện tại Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước Hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020. Theo đó, quy định mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước đối với hộ gia đình nông thôn lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình và xét nghiệm chất lượng nước theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế như sau: đối với hộ có công với cách mạng, hộ nghèo: Mức hỗ trợ 100% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 6.000.000 đồng/hộ; đối với hộ cận nghèo: Mức hỗ trợ 75% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 4.500.000 đồng/hộ; đối với hộ có mức sống trung bình: Mức hỗ trợ 50% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 3.000.000 đồng/hộ; đối với hộ khác: Mức hỗ trợ 30% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 1.800.000 đồng/hộ./.

Lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời tại Công trình cấp nước ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTLắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời tại Công trình cấp nước ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2018-11/TTNS_Lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời tại CTCN ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.jpg
Ngày 02/11/2018, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Việt Đô lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời tại Công trình cấp nước ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Hệ thống điện năng lượng mặt trời bao gồm: 03 tấm Pin được mắc nối tiếp với nhau có cùng kích thước 1.016x1.686x40 (mm), công suất 330 Wp/tấm và 01 bộ chuyển đổi (inverter) để tạo thành hệ thống điện mặt trời có công suất 990 Wp, tương ứng 4,6 kW/ngày (4,6 kWh/m2/ngày x 990 Wp = 4554 Wh/ngày = 4,554 kW/ngày).
11/12/2018 6:00 PMNoĐã ban hành

Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng điện mặt trời không chỉ phổ biến trên thế giới mà còn lan rộng tại Việt Nam. Đặc biệt, với cơ chế khuyến khích sử dụng điện mặt trời theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2017 do Thủ tướng chính phủ ban hành, thực sự đã đưa điện năng lượng mặt trời trở thành một trong những nguồn năng lượng chính của Việt Nam trong tương lai gần. Có thể nói, đây là giải pháp năng lượng được ưu tiên và khuyến khích lựa chọn vì ưu điểm tiết kiệm điện năng cũng như mang đến những ảnh hưởng tích cực đến môi trường. Theo Quyết định số 940/QĐ-UBND ngày 20 tháng 4 năm 2016 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành nhằm nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân về sử năng lượng tiết kiệm, tạo chuyển biến từ nhận thức sang hành động cụ thể nhằm đạt được một số chỉ tiêu về tổng mức tiết kiệm năng lượng mang lại lợi ích kinh tế - xã hội. Đồng thời, góp phần bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng, thực hiện phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trên cơ sở đó, Trung Tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiến hành lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời tại Công trình cấp nước ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Tây Ninh là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm có số giờ nắng cao và thời gian chiếu sáng dài. Số giờ nắng hàng năm khoảng 2.694 giờ (tháng nhiều nắng nhất là tháng 3 đạt 279 giờ/tháng, tháng ít nắng nhất là tháng 9, 10 đạt 174 giờ/tháng), trung bình: số giờ nắng hàng tháng là: 224,5 giờ, số giờ nắng hàng ngày là: 7,48 giờ, với cường độ hấp thu năng lượng mặt trời tại khu vực Nam Bộ, trung bình là 4,6 kWh/m2/ngày (Theo Viện Năng lượng Việt Nam).

 

Ảnh: Hệ thống tấm Pin năng lượng mặt trời tại Công trình cấp nước ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đây là yếu tố thuận lợi để tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, an toàn và hướng tới các giải pháp đầu tư tiết kiệm. Ngày 02/11/2018, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với Công ty TNHH Công nghệ Môi trường Việt Đô lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời tại Công trình cấp nước ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Hệ thống điện năng lượng mặt trời bao gồm: 03 tấm Pin được mắc nối tiếp với nhau có cùng kích thước 1.016x1.686x40 (mm), công suất 330 Wp/tấm và 01 bộ chuyển đổi (inverter) để tạo thành hệ thống điện mặt trời có công suất 990 Wp, tương ứng 4,6 kW/ngày (4,6 kWh/m2/ngày x 990 Wp = 4554 Wh/ngày = 4,554 kW/ngày).

Hệ thống sẽ sử dụng năng lượng mặt trời để chuyển hóa điện một chiều (DC) thành điện xoay chiều 220V (AC) thông qua bộ chuyển đổi Invester. Khi hệ thống điện năng lượng mặt trời hoạt động, sẽ ưu tiên sử dụng điện tấm pin tạo ra để cung cấp hoạt động máy bơm, nếu tấm pin thiếu điện năng thì điện của mạng lưới sẽ cấp bù vào. Trong trường hợp, điện năng hệ thống tạo ra dư để cung cấp thì nó sẽ tự động chuyển tải vào mạng lưới điện. Khi điện áp mạng lưới ngắt, hệ thống điện năng lượng mặt trời cũng tự động ngắt để bảo vệ bộ chuyển đổi  inverter.

Tính trung bình một năm (365 ngày), Công trình cấp nước sạch ấp Bình Hòa 2, xã Bình Thạnh, huyện Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh sẽ tiết kiệm được 1.662kW điện, tương ứng số tiền: 4.756.644 đồng (tính theo giá điện giờ cao điểm - 2.862 đồng/kWh). Đồng thời, thiết lập sổ theo dõi để kiểm tra điện năng thực tế được tạo ra từ hệ thống so với thông số lý thuyết./.

Cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTCơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn/PublishingImages/2018-11/TTNS.JPG
Ngày 17/4/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, tại Chương II, Điều 13: Hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công và đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.
11/12/2018 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 17/4/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, tại Chương II, Điều 13: Hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công và đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn như sau:

1. Doanh nghiệp có dự án cung cấp nước sạch cho vùng nông thôn được hỗ trợ như sau:

a) Hỗ trợ 03 triệu đồng/m3/ngày đêm công suất cho xây mới hoặc 02 triệu đồng/m3/ngày đêm công suất cho nâng cấp cải tạo nhà máy sản xuất nước sạch.

b) Hỗ trợ tối đa 50% chi phí đường ống chính dẫn đến các khu vực dân cư có từ 10 hộ trở lên.

2. Doanh nghiệp có dự án thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; nước thải sinh hoạt tại nông thôn; thu gom xử lý chất thải làng nghề, nông thôn được hỗ trợ 60% chi phí mua thiết bị, xây dựng hệ thống xử lý, mức hỗ trợ không quá 05 tỷ đồng/dự án.

3. Doanh nghiệp có dự án nuôi trồng thủy sản có quy mô tối thiểu 05 ha trở lên được hỗ trợ 200 triệu đồng/ha để xây dựng hạ tầng, cấp nước, thoát nước, xử lý môi trường. Diện tích nuôi tăng lên mức hỗ trợ được tăng lên tương ứng. Mức hỗ trợ không quá 10 tỷ đồng/dự án.

4. Doanh nghiệp có dự án xây dựng bến cảng phục vụ vận chuyển sản phẩm nông lâm thủy sản, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống tưới tiên tiến tiết kiệm nước, công trình thủy lợi làm dịch vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mức hỗ trợ không quá 20 tỷ đồng/dự án.

5. Hỗ trợ xây dựng nhà ở xã hội cho người lao động: Doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn có 100 lao động trở lên làm việc thường xuyên tại nhà máy, được hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người lao động mức hỗ trợ là 01 triệu đồng/m2 xây dựng đối với nhà cấp IV, hỗ trợ 02 triệu đồng/m2 xây dựng đối với nhà 02 tầng trở lên.

6. Hỗ trợ ngoài hàng rào: Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, theo quy định của Nghị định này nếu bên ngoài hàng rào dự án chưa có đường giao thông đạt chuẩn cấp V miền núi, hệ thống điện, cấp thoát nước để phục vụ dự án thì được hỗ trợ bổ sung 70% chi phí và không quá 05 tỷ đồng đầu tư xây dựng các hạng mục trên./.

1 - 30Next