Nước sạch Nông thôn
 
Thời gian gần đây, cử tri ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng kiến nghị: "Trạm cấp nước sạch tại văn phòng ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng bị nhiễm phèn và không đủ lượng nước cung cấp cho người dân. Kiến nghị ngành chức năng khảo sát, tiến hành sửa chữa, khắc phục và có kế hoạch nâng cấp để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho người dân sử dụng."
 
Hiện nay, công tác quản lý, vận hành và khai thác công trình cấp nước tập trung nông thôn theo 02 mô hình cấp nước, gồm: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (UBND xã quản lý 06/76 công trình).
 
Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19
 
Ngày 11/9/2020, Đoàn công tác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UB.MTTQVN) TP. Hồ Chí Minh do ông Ngô Quốc Phong làm trưởng đoàn đã đến trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” trị giá 500 triệu đồng cho quân - dân xã Tân Bình, huyện Tân Biên. Đây là công trình cấp nước thứ 3 TP. Hồ Chí Minh tặng cho quân dân vùng biên giới Tây Ninh trong 3 năm trở lại đây được trích từ Quỹ “Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc” TP. Hồ Chí Minh.
 
Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh có 01 công trình cấp nước tập trung do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp quản lý, cấp nước: 220 hộ dân thuộc ấp Tân Trung. Tổng công suất thiết kế công trình cấp nước: 100 m3/ng.đ, công suất hiện tại cấp nước thực tế vận hành: 159 m3/ng.đ;
 
Nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người, vừa mang tính xã hội sâu sắc, vừa gắn liền với cuộc sống của mỗi cộng đồng dân cư. Việt Nam cũng luôn thể hiện cam kết mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững tại Quyết định số 622/QĐ-TTg, trong đó, mục tiêu 6.1: Đến năm 2030, đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người.
 
Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2019/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, thay thế cho Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
 
Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT. Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019.
 
Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế.
 
Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
THAY ĐỔI MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNGNước sạch nông thônTinTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTHAY ĐỔI MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC THEO HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 12 tháng 6 năm 2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, thay thế cho Nghị định số 90/2019/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
6/22/2022 4:00 PMNoĐã ban hành

      Ngày 12 tháng 6 năm 2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, thay thế cho Nghị định số 90/2019/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định này quy định mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ áp dụng đối với người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

     Mức lương tối thiểu tháng áp dụng đối với người lao động tại các vùng tăng từ 180.000 đồng đến 260.000đồng/tháng so với Nghị định số 90/2019/NĐ-CP.

Đáng chú ý, theo Nghị định 90/2019/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làm việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận. Với những người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề (tức có bằng nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học,…) thì được trả lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đã quy định. Tuy nhiên, đến Nghị định 38/2022/NĐ-CP, nội dung này đã bị bãi bỏ. Thay vào đó, Nghị định 38/2022/NĐ-CP chỉ quy định chung mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương cho người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tháng.

    Do đó mức chênh lệch mức lương tối thiểu theo quy định tại Nghị định số 38/2022/NĐ-CP so với Nghị định số 90/2019/NĐ-CP đối với đối tượng đã qua đào tạo, học nghề có thể nói là không tăng, cụ thể như sau:


     Nghị định số 38/2022/NĐ-CP còn điều chỉnh lại một số địa bàn thuộc các vùng I, II, III, IV, từ đó làm thay đổi mức lương tối thiểu vùng ở một số địa phương, cụ thể tại Tây Ninh, so với Nghị định số 90/2019/NĐ-CP thị xã Hoà Thành đã được chuyển từ Vùng III lên Vùng II. Như vậy, Vùng II bao gồm Thành phố Tây Ninh, thị xã Trảng Bàng, thị xã Hòa Thành, huyện Gò Dầu và Vùng III bao gồm các huyện còn lại.

     Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn được Sở Nông nghiệp và PTNT giao 10 chỉ tiêu biên chế sự nghiệp. Do đặc thù nhiệm vụ trực tiếp quản lý vận hành 69 công trình cấp nước, so với số biên chế 10 người không thể đáp ứng được khối lượng công việc được giao nên Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện ký hợp đồng lao động làm nhiệm vụ: quản lý khách hàng; quản lý, vận hành mạng cấp nước; quản lý vận hành trạm cấp nước. Từ 2020 đến nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã thực hiện trả lương cho nhân viên hợp đồng lao động theo mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định số 90/2019/NĐ-CP.

     Nghị định số 38/2022/NĐ-CP thể hiện được trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, đứng đầu là Chính phủ đối với đời sống, việc làm của người lao động. Sau khi Nghị định này chính thức có hiệu lực, Người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động cần tiến hành rà soát điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng cho nhân viên hợp đồng lao động thuộc các đối tượng có thay đổi đảm bảo quyền lợi của người lao động theo quy định./.


Nhiệm vụ nước sạch nông thôn trong  Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNhiệm vụ nước sạch nông thôn trong  Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI /PublishingImages/2021-12/TTNS_Nghị quyết hội nghị TW.jpg
Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 92-KL/TW ngày 05/11/2020 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 tại Quyết định số 1983/QĐ-TTg nhằm mục đích nghiên cứu, quán triệt sâu rộng và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2021 và Kết luận số 92-KL/TW, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm, hành động của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân về chính sách xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
12/27/2021 4:00 PMNoĐã ban hành

​Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 92-KL/TW ngày 05/11/2020 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 tại Quyết định số 1983/QĐ-TTg nhằm mục đích nghiên cứu, quán triệt sâu rộng và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2021 và Kết luận số 92-KL/TW, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm, hành động của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân về chính sách xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đồng thời, xác định các nhiệm vụ chủ yếu, cụ thể, khả thi từ nay đến năm 2023, phát huy đầy đủ vài trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành.  

Trong đó, lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tập trung nhiệm vụ đầu tư các công trình nước sạch trọng điểm đảm bảo an sinh xã hội; sửa đổi cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích, tạo động lực thu hút nguồn xã hội hóa đầu tư, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn đối với các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn về miền nước, vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì công tác chỉ đạo các địa phương chủ động ban hành cơ chế, chính sách đặc thù theo hướng nâng cao dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cấp, xử lý, trữ nước an toàn, phù hợp với từng vùng miền, nhất là trong trường hợp thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt. 
Để có những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, các nhiệm vụ, đề án đảm bảo cấp nước an toàn được đề ra, cụ thể thực hiện nghiên cứu và ban hành:
   + Nghị định quy định cấp nước sinh hoạt nông thôn;
   + Chiến lược Quốc gia cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045;
   + Đề án cấp nước sạch nông thôn giai đoạn 2021-2025.
Theo số liệu Bộ chỉ số năm 2020, trên địa bàn toàn tỉnh Tây Ninh hiện có 220.467 hộ dân nông thôn. Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch theo Quy chuẩn Việt Nam đạt 62,02%, tương ứng 136.736 hộ dân: khoảng 24.105 hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung và 112.631 hộ dân sử dụng nước từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ (Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình cho 6.451 hộ dân).
Nhiều năm qua, công tác nước sạch nông thôn đã có những chuyển biến tích cực, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, hạ tầng cơ sở vật chất được Nhà nước quan tâm nâng cấp cải tạo trong đó có việc chú trọng đầu tư, nâng cấp các hạng mục công trình cấp nước tập trung vùng nông thôn.
Bài viết đưa nghị quyết hội nghị TW.jpg
Tiếp nối những thành quả đạt được trong lĩnh vực nước sạch nông thôn, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp trong những năm tiếp theo, cụ thể như sau:
    + Thứ nhất, dựa trên cơ sở đề án nước sạch nông thôn, đề ra các giải pháp phù hợp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung nông thôn, ban hành cơ chế, chính sách theo hướng nâng cao dịch vụ cung cấp nước sạch; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cấp, xử lý, trữ nước an toàn, phù hợp với từng khu vực, nhất là các khu vực gặp khó khăn về nguồn nước như bị nhiễm vôi, phèn; tăng tỷ lệ công trình cấp nước bền vững, giảm tỷ lệ công trình cấp nước không bền vững;
    + Thứ hai, nghiên cứu, đề xuất các mô hình ứng dụng công nghệ lắng lọc nước lamen tại các công trình cấp nước trên địa bàn tỉnh sau khi đánh giá kết quả thí điểm tại công trình cấp nước ấp Suối Dộp, xã Thái Bình, huyện Châu Thành; quản lý các công trình cấp nước sạch phù hợp với yêu cầu công trình cấp nước hiện hữu và tình hình thực tế; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, vận hành;
   + Thứ ba, chú trọng phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, quản lý vận hành các công trình cấp nước; xây dựng kế hoạch cấp nước an toàn khu vực nông thôn cho các công trình cấp nước, đảm bảo đến năm 2025, tỷ lệ công trình cấp nước khu vực nông thôn được lập và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn đạt 50%. 
   + Thứ tư, tăng cường chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu, xây dựng các biện pháp giảm thiểu rủi ro, sự tác động của môi trường, khí hậu. Rà soát các khu vực thường xảy ra thiếu hụt nguồn nước vào mùa khô đề xuất các giải pháp khắc phục ngắn hạn và dài hạn;   
   + Thứ năm, tiếp tục đầu tư, cải thiện điều kiện cấp nước đối với những khu vực khó khăn, vùng nông thôn, biên giới, các địa phương có tỷ lệ cấp nước thấp; kêu gọi đầu tư xã hội hóa theo danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn tại Quyết định số 1351/QĐ-UBND ngày 31/5/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 23/2/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;
  + Thứ sáu, tăng cường về thông tin, giáo dục truyền thông và kêu gọi sự tham gia của cộng đồng. Trong đó cần việc nâng cao ý thức, thay đổi hành vi, thái độ của từng cá nhân trong việc bảo vệ, giữ gìn các công trình cấp nước; đảm môi trường nông thôn trong sản xuất, sinh hoạt, chú trọng bảo vệ sức khỏe của chính mình và cộng đồng.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2021 đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiếp tục phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, phát huy vai trò, trách nhiệm, tinh thần trong công tác “Đem nước sạch đến tận ngõ nông thôn”./.




Thông báo về việc thay đổi địa điểm trụ sở làm việc của Trung tâm Nước sạch  và Vệ sinh môi trường nông thônNước sạch nông thônTinTrung tâm Nước sạch và VSMTNTThông báo về việc thay đổi địa điểm trụ sở làm việc của Trung tâm Nước sạch  và Vệ sinh môi trường nông thôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/15/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thông báo kể từ ngày 11/12/2021, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thay đổi trụ sở làm việc từ số 211 đường 30/4, phường 1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh sang

số 17 đường Võ Thị Sáu, phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết liên hệ số điện thoại: 0276.3922296.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thông báo đến các cơ quan, đơn vị có liên quan; các khách hàng sử dụng nước và nhân viên quản lý công trình cấp nước tập trung để liên hệ công tác.

Trân trọng./.

Một số điểm mới trong quy định về khung giá, nguyên tắc, phương pháp  xác định giá nước sạch sinh hoạt tại Thông tư số 44/2021/TT-BTCNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTMột số điểm mới trong quy định về khung giá, nguyên tắc, phương pháp  xác định giá nước sạch sinh hoạt tại Thông tư số 44/2021/TT-BTC/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/22/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 18/6/2021, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 44/2021/TT-BTC quy định về khung giá, nguyên tắc, phương pháp xác định giá nước sạch sinh hoạt (Thông tư số 44) thay thế Thông tư số 88/2012/TT-BTC ngày 28/5/2012 của Bộ Tài chính ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt, Thông tư liên tịch số 75/2012/TTLT-BTC-BXD-BNNPTNT ngày 15/5/2012 của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn (Thông tư số 75), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/8/2021.

Thông tư số 44 hướng dẫn rõ, cụ thể hơn nguyên tắc, phương pháp xác định giá nước sạch, giá nước sạch được tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí sản xuất hợp lý, hợp lệ trong quá trình khai thác, sản xuất, phân phối, tiêu thụ và có lợi nhuận; phù hợp với chất lượng nước, định mức kinh tế - kỹ thuật, quan hệ cung cầu về nước sạch, điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương, khu vực, thu nhập của người dân trong từng thời kỳ; hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của đơn vị cấp nước sạch (sau đây gọi là đơn vị cấp nước) và khách hàng sử dụng nước; khuyến khích khách hàng sử dụng nước tiết kiệm; khuyến khích các đơn vị cấp nước nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, giảm thất thoát, thất thu nước sạch, đáp ứng nhu cầu của khách hàng; thu hút đầu tư vào hoạt động sản xuất, phân phối nước sạch. Trong đó, khung giá nước sạch quy định tại Thông tư này không thay đổi so với khung giá quy định tại Thông tư số 88/2012/TT-BTC.

Bổ sung mới 2 khoản mục là chi phí tài chính và chi phí đảm bảo cấp nước an toàn.Trong đó, chi phí tài chính là những khoản chi phí trả lãi các khoản vay, lỗ chênh lệch tỷ giá (nếu có) liên quan trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh nước sạch; chi phí đảm bảo cấp nước an toàn là những khoản chi phí phục vụ các hoạt động nhằm giảm thiểu, loại bỏ, phòng ngừa các nguy cơ, rủi ro gây mất an toàn cấp nước từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ và phân phối đến khách hàng sử dụng nước.

Với chính sách mức vốn cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước tối đa đối với mỗi dự án lên đến 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tư của Nhà nước, dẫn đến chi phí lãi vay cao. Việc đưa chi phí lãi vay vào tổng chi phí sản xuất, kinh doanh nước sạch làm cho giá thành của 01m³ nước sạch tăng cao. Bên cạnh đó, lợi nhuận định mức theo Thông tư số 44 để đưa vào phương án giá nước sạch của đơn vị cấp nước chỉ cấp nước khu vực đô thị hoặc khu vực nông thôn là từ 360 đồng/m³ - 1.300 đồng/m³, đối với đơn vị cấp nước đồng thời cho khu vực đô thị và khu vực nông thôn là từ 360 đồng/m³ - 1.500 đồng/m³. Lợi nhuận định mức trần khá cao so với quy định trước đây về lợi nhuận định mức được tính mức tối thiểu 5% trên giá thành toàn bộ tại Thông tư số 75. Qua đó các khoản mục nêu trên ảnh hưởng lớn đến giá bán lẻ, nước sạch đưa đến khách hàng sử dụng với mức giá bán lẻ rất cao.

Một điểm mới tiếp theo là tỷ lệ hao hụt, theo Thông tư số 44 quy định tỷ lệ hao hụt nước sạch đưa vào tính toán sản lượng nước sạch thương phẩm trong phương án giá nước sạch tối đa là 20%. Trước đây Thông tư số 75 quy định toàn bộ mạng cấp nước để tiêu thụ đã đưa vào sử dụng dưới 10 năm: 23%; đối với toàn bộ mạng cấp nước để tiêu thụ đã đưa vào sử dụng từ 10 năm trở lên: 32%; trường hợp mạng cấp nước để tiêu thụ được đưa vào sử dụng có thời gian xen lẫn (gồm cả mạng cấp nước dưới 10 năm và mạng cấp nước từ 10 năm trở lên): 27%. Hiện tại, các công trình cấp nước sạch cho khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh được xây dựng từ những năm 2000 cho đến nay với quy mô nhỏ, công nghệ cũ, sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cân đối chi phí nhằm giảm tỷ lệ hao hụt xuống đạt mức tối đa là 20%.

Nội dung chi phí sản xuất nước sạch không phân biệt cho khu vực đô thị hay nông thôn. Thông tư số 44 có quy định: Ủy ban Nhân dân tỉnh có chính sách hoặc cơ chế điều hòa về mức giá nước sạch của đơn vị cấp nước cung cấp nước sạch đồng thời tại khu vực đô thị và nông thôn để đảm bảo hài hòa giá nước sạch giữa các khu vực.

Đối với hệ số tính giá tối đa so với giá bình quân, Thông tư này có thay đổi đối với nhóm khách hàng là hộ dân cư, lượng nước sạch sử dụng từ trên 20m³ – 30m³/đồng hồ/tháng, hệ số tính giá tối đa so với giá bình quân là 1,5 (theo quy định cũ là 1,2 tại Thông tư số 75).

Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh lựa chọn quyết định về lộ trình điều chỉnh giá nước sạch tối đa 05 năm. Thông tư quy định đối với Hồ sơ phương án giá nước sạch đã được Sở Tài chính thẩm định, biểu giá nước sạch đã ban hành theo quy định tại Thông tư số 75 trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực tiếp tục thực hiện đến khi lập Hồ sơ phương án giá nước sạch và ban hành biểu giá nước sạch mới.

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội nói chung, sự phát triển của ngành nước nói riêng, hoạt động sản xuất, kinh doanh nước sạch đã có nhiều thay đổi, việc ban hành Thông tư số 44 đã hướng dẫn chi tiết phương pháp xác định giá nước sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị cấp nước tính toán phương án giá nước sạch, đầu tư và nâng cấp các công trình cấp nước./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19/PublishingImages/2021-11/TTNS.jpg
11/16/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Đại dịch COVID-19 đã và đang đe dọa nghiêm trọng an toàn và sức khỏe của nhân dân ta. Xã hội bị xáo trộn, kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là với những người dân nghèo. Rất nhiều gia đình đã mất việc làm, hoặc thu nhập rơi vào tình trạng hết sức bấp bênh.Đặc biệt hiện nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn đầy thách thức khi dịch bệnh bùng phát trở lại với cường độ mạnh hơn, tốc độ lây nhiễm của chủng mới tăng gấp nhiều lần.

Các hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, biên giới. Chính vì vậy, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã xây dựng phương án giảm giá nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, nhằm hỗ trợ, góp phần giảm bớt khó khăn, gánh nặng về kinh tế.

 UBND tỉnh Tây Ninh chỉ đạo giảm 10% giá nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn của các hộ dân là 4.950 đồng/m³; đơn vị sự nghiệp là 8.550 đồng/m3; hoạt động sản xuất vật chất là 9.000 đồng/m3 và kinh doanh dịch vụ là 11.250 đồng/m3.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước sạch cho các đối tượng sử dụng nước tại nông thôn như sau:

SttĐối tượng sử dụng nướcGiá nước trước khi điều chỉnh (đồng/m3)

Tỷ lệ giảm giá nước

(%)

Giá nước sau khi điều chỉnh (đồng/m3)

 

1Các hộ dân cư5.500  
                    10%
4.950
2Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp9.500                    10%8.550
3Hoạt động sản xuất vật chất10.000
                     10%9.000
4Kinh doanh dịch vụ12.500                     10%11.250

(Giá nước trên đã bao gồm thuế VAT và được áp dụng trong 03 kỳ ghi chỉ số nước từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021)

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn mong muốn có thể chia sẻ bớt gánh nặng kinh tế trong thời điểm dịch bệnh, góp phần hỗ trợ người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh và thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với đời sống nhân dân, làm nhân dân tin tưởng các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh và địa phương, không ngừng đóng góp công sức để chống lại dịch bệnh và xây dựng xã hội ngày càng phát triển, văn minh, hiện đại hơn./.

Áp dụng 4.0 trong công tác quản lý nước sạch nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTÁp dụng 4.0 trong công tác quản lý nước sạch nông thôn/PublishingImages/2021-10/TTNS_ÁP DỤNG CN 4.0 QUẢN LÝ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH NT.jpg
11/10/2021 8:00 AMNoĐã ban hành

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành và khai thác 69 công trình cấp nước (68/69 công trình khai thác nguồn nước dưới đất, 01/69 công trình khai thác nguồn nước mặt) trên địa bàn 39 xã, hoạt động với công suất trung bình: 11.638/12.509m3/ngày.đêm (đạt 93,03% công suất thiết kế), cung cấp nước 20.196/22.388 hộ sử dụng (đạt 90,21% số hộ thiết kế).

Hiện nay,trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 20 xã biên giới với tổng số hộ dân: 45.058 hộ dân. Trong đó, có 35/69 công trình cấp nước nằm trên 17/20 xã biên giới, với tổng số hộ dân được sử dụng nước sạch là 9.648/45.058 hộ (chiếm tỷ lệ 21,41%). Vì vậy, công tác quản lý, vận hành, khai thác tại các công trình cấp nước tậP trung theo phương thức truyền thống gặp nhiều khó khăn và gây thất thoát tài nguyên nước.

TTNS_ÁP DỤNG CN 4.0 QUẢN LÝ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH NT.jpg

Nhằm quản lý, vận hành, khai thác tại các công trình cấp nước tập trung mang lại hiệu quả cao, đảm bảo nhu cầu cung cấp nước sạch đối với người dân vùng nông thôn, biên giới, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiến hành ứng dụng phần mềm quản lý cấp nước Citywork (giải pháp hiện đại mang tính tổng thể) tại các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Citywork có nhiều tính năng tiêu biểu như thu thập, cập nhật thông tin tại thực địa bằng thiết bị di động; quản lý và cập nhật dữ liệu trực quan trên bản đồ vị trí tài sản; tiếp nhận quản lý tập trung yêu cầu bảo trì trực quan trên bản đồ vị trí tài sản; quản lý lịch sử kiểm tra, bảo trì đến từng tài sản, thiết bị; tiếp nhận, cập nhật tình hình thực hiện công việc bảo trì tài sản bằng di động,....Phần mềm Citywork đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước, đảm bảo công tác cấp nước cho người dân nông thôn (hiện địa hóa công tác giám sát, nâng cao năng lực giám sát, quản lý chặt chẽ thông tin mạng lưới cấp nước, hỗ trợ giảm thất thoát nước, tăng tính khách quan, trung thực giữa đơn vị cấp nước và người dân sử dụng nước) .

Citywork ứng dụng công nghệ bản đồ số (công nghệ GIS), công nghệ di động và công nghệ điện toán đám mây để thu thập lập bản đồ mạng cấp nước, hiện đại hóa công tác quản lý, bảo trì tài sản mạng cấp nước; công tác quản lý và chăm sóc khách hàng sử dụng nước, ghi chỉ số và kiểm tra đồng hồ nước; công tác quản lý đồng hồ nước và quản lý chất lượng nước,…

HÌNH ẢNH CTCN TRÊN GOOGLE.jpg

PHẦN MỀM CITYWORK.jpg

Theo đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã thực hiện định vị 65/69 mạng lưới cấp nước tại các công trình cấp nước tập trung nhằm thu thập thông tin, thiết lập cụ thể bản đồ mạng cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, triển khai áp dụng công nghệ quản lý khách hàng sử dụng nước, in hóa đơn thu tiền nước bằng phần mềm Cityword trên 66 công trình cấp nước, đạt 100% công trình cấp nước hoạt động có doanh thu, đã nâng cao hiệu quả hoạt động tại các công trình cấp nước, tiết kiệm chi phí, thời gian và quản lý khách hàng sử dụng nước đảm bảo chặt chẽ, hạn chế người dân nợ tiền nước, số liệu nhanh, chính xác.

Việc áp dụng công nghệ vào quản lý, vận hành công trình cấp nước đã đem đến hiệu quả tích cực như hiện địa hóa công tác giám sát, nâng cao năng lực giám sát, quản lý chặt chẽ thông tin mạng lưới cấp nước, hỗ trợ giảm thất thoát nước, tăng tính khách quan, trung thực giữa đơn vị cấp nước và người dân sử dụng nước, góp phần giảm thời gian đối với người lao động, quản lý chặt chẽ, cung cấp số liệu nhanh, chính xác kịp thời thông tin phục vụ kiểm tra, sửa chữa, bảo trì tài sản mạng cấp nước./.



Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn - 10 năm một chặng đườngNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn - 10 năm một chặng đường/PublishingImages/2021-09/TTNS_10 năm 1 chặng đường.jpg
9/28/2021 8:00 AMNoĐã ban hành

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (gọi tắt Trung tâm Nước sạch) thành lập đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2011 theo Quyết định số 1226/QĐ-UBND, ngày 17 tháng 6 năm 2011 của UBND tỉnh Tây Ninh, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên phạm vi toàn tỉnh.

Sau 10 năm đi vào hoạt động, Trung tâm Nước sạch trực tiếp quản lý, vận hành 69 công trình cấp nước tập trung trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố, chủ yếu tại các xã vùng nông thôn, biên giới, cung cấp nước trên 20.000 hộ dân vùng nông thôn. Hoạt động này đã giúp người dân nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng nông thôn, biên giới được sử dụng nguồn nước sạch, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân, đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông mới, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh.

Để từng bước đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân vùng nông thôn, Trung tâm Nước sạch không ngừng cố gắng nỗ lực ứng dụng công nghệ xử lý nước mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng các công trình cấp nước tập trung. Giai đoạn 2016 - 2020, Trung tâm Nước sạch đã tiến hành nâng cấp, sửa chữa khoảng 14 công trình cấp nước tập trung. Theo đó, các công trình cấp nước tập trung được áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến, nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước, giảm thất thoát nước, đảm bảo chất lượng nước cấp đến các người dân nông thôn vùng biên giới, vùng sâu. 

Bên cạnh đó, Trung tâm Nước sạch không ngừng áp dụng các công nghệ thông tin trong công tác quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung. Cụ thể, triển khai áp dụng công nghệ quản lý khách hàng sử dụng nước, in hóa đơn thu tiền nước bằng phần mềm Cityword trên 66 công trình cấp nước, đạt 100% công trình cấp nước hoạt động có doanh thu. Việc áp dụng phần mềm Cityword cùng ngành nước tiến tới cuộc công nghệ 4.0 đã nâng cao hiệu quả hoạt động tại các công trình cấp nước, tiết kiệm chi phí, thời gian và quản lý khách hàng sử dụng nước đảm bảo chặt chẽ, hạn chế người dân nợ tiền nước, số liệu nhanh, chính xác.

Tuy nhiên, một số ít các công trình cấp nước tập trung được xây dựng lâu năm, cơ sở hạ tầng, hệ thống đường ống phân phối nước hầu hết đã xuống cấp, công nghệ xử lý nước các công trình đã lạc hậu, việc cung cấp nước vào mùa chưa đảm bảo nhu cầu sử dụng nước của người dân; đồng thời hoạt động khai thác, vận hành phải tăng thời gian, ảnh hưởng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, điện năng tiêu thụ, nguồn thu của đơn vị. Vì vậy, trong thời gian tới, Trung tâm Nước sạch chú trọng nâng cấp, sửa chữa các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân vùng nông thôn.

Từ những ngày đầu mới thành lập Trung tâm Nước sạch là một đơn vị còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm quản lý và gặp nhiều khó khăn; nhất là việc tiếp nhận các công trình cấp nước từ các huyện, xã đã hư hỏng, xuống cấp trầm trọng. Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của UBND tỉnh cùng với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đặc biệt cùng sự nổ lực phấn đấu của tập thể lãnh đạo, viên chức và người lao động. Đến nay, Trung tâm Nước sạch đã và đang dần trên con đường phát triển với quyết tâm: Mang nước sạch về tận ngõ nông thôn! 

Trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên địa bàn, Trung tâm Nước sạch gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, vận hành khi thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Khi có sự cố cấp nước xảy ra trong khu vực phong tỏa, cách ly, nhanh chóng lên phương hướng giải quyết, khắc phục sự cố và đảm bảo tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, 100% nhân viên Trung tâm Nước sạch đã được tiêm vắc-xin phòng COVID-19, góp phần hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Dịch bệnh đã tác động đến nhiều mặt từ đời sống đến sản xuất nhưng tập thể lãnh đạo, viên chức, người lao động vẫn nỗ lực không ngừng, công tác cấp nước cho người dân trong thời gian giãn cách xã hội luôn được đảm bảo duy trì hoạt động, mong muốn nước sạch đến người dân nông thôn không bị gián đoạn, phần nào đồng hành cùng người dân vượt qua giai đoạn khó khăn và chung tay đẩy lùi dịch bệnh.

Nhìn lại 10 năm hoạt động của Trung tâm Nước sạch là chặng đường dài cho cả một hành trình cố gắng, không ngại khó khăn, bằng niềm đam mê nhiệt huyết của tuổi trẻ với cái tâm phục vụ người dân vùng nông thôn, không để người dân "khát nước sạch" và niềm đam mê nhiệt huyết, cái tâm ấy vẫn sẽ cháy mãi./.




Khắc phục các sự cố, giải quyết vấn đề kiến nghị cử tri xã Tiên Thuận, huyện Bến CầuNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKhắc phục các sự cố, giải quyết vấn đề kiến nghị cử tri xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu/PublishingImages/2021-09/TTNS_Trả lời cử tri Rừng Dầu.jpg
9/27/2021 6:00 PMNoĐã ban hành

Công trình cấp nước ấp Rừng Dầu được đầu tư xây dựng năm 2010 và đưa vào hoạt động năm 2011, nâng cấp năm 2020, hiện đang trong giai đoạn bảo hành. Công trình cấp nước khai thác nguồn nước ngầm để xử lý và cấp nước cho các hộ dân. Công trình có công suất thiết kế 150 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 450 hộ. Hiện tại, công trình đang hoạt động với công suất thực tế là 227 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 454 hộ dân. Đặc thù đây là khu vực có nguồn nước ngầm bị nhiễm phèn nặng trên địa bàn tỉnh.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (gọi tắt là Trung tâm Nước sạch) nhận được kiến nghị, sự quan tâm của cử tri xã Tiên Thuận "Công trình cấp nước tập trung ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu cung cấp nước bị phèn, không sử dụng được"

Tiếp nhận ý kiến cử tri cùng với tiêu chí chú trọng hàng đầu công tác cấp nước phải đạt quy chuẩn của Bộ Y tế cho người dân nông thôn. Trung tâm Nước sạch đã chủ động phối hợp với Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng ngành Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bến Cầu và UBND xã Tiên Thuận đã thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng nước theo phản ánh cử tri.

Bên cạnh đó, tiến hành lấy mẫu nước xét nghiệm tại Công trình cấp nước ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu và 03 hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước cung cấp trong khu vực để nhanh chóng có cơ sở trả lời kiến nghị cử tri và khắc phục những vấn đề còn tồn đọng.

Trong quá trình hoạt động, vận hành, định kỳ 3 tháng/lần, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiến hành lấy mẫu, kiểm nghiệm chất lượng nước sạch đầu ra tại trạm cấp nước đảm bảo theo quy định của Bộ Y tế.

Đồng thời, nhân viên vận hành, quản lý công trình cấp nước thường xuyên kiểm tra công tác vệ sinh, súc rửa thiết bị, bể chứa, hệ thống đường ống, đảm bảo công trình hoạt động ổn định, cấp nước đầy đủ cho các hộ dân.

Bên cạnh đó, Trung tâm Nước sạch mong muốn người dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch, thường xuyên kiểm tra, vệ sinh bồn chứa, bể chứa và các thiết bị lưu trữ, sử dụng nước trong gia đình, đảm bảo chất lượng nước sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày, cùng góp phần đảm bảo sinh hoạt và đời sống cho người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT


Thông báo về việc áp dụng hóa đơn điện tử tại Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTThông báo về việc áp dụng hóa đơn điện tử tại Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn/PublishingImages/2021-09/TTNS_Áp dụng hóa đơn điện tử.jpg
9/24/2021 5:00 PMNoĐã ban hành

Căn cứ Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày ngày 14 tháng 3 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

Đồng thời, nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện công tác chuyên môn, nâng cao hiệu quả công việc, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh áp dụng hình thức hóa đơn điện tử trên cơ sở sử dụng hệ thống phần mềm https://business-sinvoice.viettel.vn và chứng thư số Viettel e-invoice seri: 5404FFFEB7033FB316D672201B88CD07 của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân Đội Viettel để thay thế cho hình thức hoá đơn giấy đang sử dụng kể từ ngày 27 tháng 8 năm 2021, cụ thể như sau:

1. Trước khi áp dụng hoá đơn điện tử (hình thức hoá đơn giấy)

Khách hàng sẽ nhận Giấy báo thu tiền nước để biết chỉ số nước đã sử dụng và số tiền cần đóng, sau khi đóng tiền khách hàng sẽ nhận đc Hoá đơn giá trị gia tăng (liên 2).

2. Sau khi áp dụng hoá đơn điện tử

Khách hàng sẽ nhận Giấy báo thu tiền nước để biết chỉ số nước đã sử dụng và số tiền cần đóng, sau khi đóng tiền khách hàng sẽ nhận được Biên nhận tiền nước, khách hàng căn cứ vào Mã số bí mật được cấp trên Biên nhận tiền nước để tra cứu và in hóa đơn điện tử tại website: https://sinvoice.viettel.vn/tracuuhoadon.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thông báo đến các khách hàng sử dụng nước sạch được biết, thực hiện./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT

Áp dụng Công nghệ 4.0 trong quản lý khách hàng sử dụng nướcNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTÁp dụng Công nghệ 4.0 trong quản lý khách hàng sử dụng nước/PublishingImages/2021-09/TTNS_ÁP DỤNG 4.0 TRONG CÔNG TÁC IN HÓA ĐƠN TIỀN NƯỚC.jpg
9/10/2021 8:00 AMNoĐã ban hành

Từ năm 2017 đến nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn áp dụng công nghệ quản lý khách hàng sử dụng nước, in hoá đơn thu tiền nước bằng phần mềm Citywork trên 69 công trình cấp nước. Đây là phần mềm ứng dụng bản đồ số, công nghệ di động và điện toán đám mây để thu thập bản đồ mạng cấp nước. Hiện đại hoá công tác quản lý, bảo trì tài sản mạng cấp nước, đồng thời quản lý chất lượng nước và chăm sóc khách hàng.

Phần mềm cho phép thu thập vị trí định vị, hình ảnh, các thông tin kỹ thuật phục vụ lập bản đồ mạng cấp nước và dữ liệu tài sản mạng như vị trí nhà máy nước, van hệ thống, van điều khiển, đồng hồ, đường ống tại thực địa bằng ứng dụng cài đặt trên di động.

Bên cạnh đó, phầm mềm còn hỗ trợ ghi chỉ số đồng hồ nước, thông qua thiết bị di động (điện thoại thông minh). Cho phép tra cứu thông tin, hỗ trợ kiểm tra góp phần giảm tỷ lệ thất thoát nước, phát hiện nhanh xử lý kịp thời các trường hợp như: chỉ số bất thường, chỉ số âm…Tổng hợp số liệu báo cáo nhanh và chính xác nhất.

thao tác in hóa đơn.jpg

Thao tác in hóa đơn tiền nước

Kiểm tra chỉ số âm

Kiểm tra chỉ số bất thường

thao tác in hóa đơn 2.jpg

Trước đây việc in hóa đơn tiền nước cho 69 công trình cấp nước trên địa bàn tỉnh thao tác thủ công bằng excel, lưu trữ dữ liệu trên ổ cứng máy tính, dễ xảy ra mất mát dữ liệu khi máy tính gặp sự cố, hư hỏng, còn hiện nay số liệu được lưu trữ hệ thống, vừa an toàn, vừa tiện lợi cho việc kiểm tra.

Thời gian in hoá đơn được cải thiện rất rỏ rệt, đỡ tốn thời gian và chi phí. Trước khi chưa sử dụng phần mềm Citywork, nhân viên quản lý trạm phải đi chốt chỉ số nước  rồi gởi danh sách chỉ số hộ dân về cho Trung tâm qua đường bưu điện. Sau khi sử dụng phần mềm nhân viên quản lý trạm đi chốt chỉ số nước bằng thiết bị điện thoại thông minh có cài đặt ứng dụng phần mềm Citywork và sau khi chốt xong sẽ đồng bộ dữ liệu lên máy chủ. Tại đây nhân viên phụ trách in hoá đơn sẽ kiểm tra các chỉ số bất thường như: Khối lượng nước tăng đột biến, chỉ số nước bị âm và cập nhật thêm các hộ thêm mới và thay đồng hồ cũ mờ. Hàng tháng in hoá đơn tiền nước khoảng 13.000/cái cho 69 công trình cấp nước trên địa bàn tỉnh. Tiết kiệm được số ngày công quản lý trạm chốt chỉ số nước hộ dân khoảng 138 ngày/tháng; hạn chế gửi danh sách chốt chỉ số lên Trung tâm và tiết kiệm khoảng 1.000.000 đồng/tháng cho công tác gửi thư và thời gian gửi danh sách chốt chỉ số qua bưu điện khoảng 207 ngày/tháng; đồng thời, tiết kiệm được thời gian cho công tác in hoá đơn chỉ từ 6-7 ngày so với trước khi chưa sử dụng phần mềm là 15-20 tiết kiệm được khoảng 13 ngày công lao động.

Từ dữ liệu đã cập nhật trên phần mềm chúng ta kết xuất ra được số liệu như: số hộ đăng ký hiện tại, tổng số hoá đơn sử dụng, khối lượng nước tiêu thụ, doanh thu, thuế GTGT đầu ra, phân loại được có bao nhiêu cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ….và tổng hợp các báo cáo khi đơn vị cấp trên có yêu cầu./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT




Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tây Ninh hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2021Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tây Ninh hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2021/PublishingImages/2021-07/TTNS_TUẦN LỄ QUỐC GIA NƯỚC SẠCH NT.jpg
Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường hàng năm do Thủ tướng Chính phủ phát động từ năm 1998 và được các Ban ngành Trung ương, địa phương và nhân dân cả nước tích cực hưởng ứng. Sau hơn 20 năm, Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường đã đạt được những thành quả đáng khích lệ về cấp nước và vệ sinh góp phần làm thay đổi chất lượng và điều kiện sống của người dân nông thôn. Người dân dần thay đổi nhận thức về vai trò của nước sạch, sử dụng nguồn nước đảm bảo chất lượng, góp phần tạo ra thói quen sử dụng nước sạch trong sinh hoạt và sản xuất đồng thời giữ gìn vệ sinh môi trương, đẩy lùi các dịch bệnh vì một cộng đồng khỏe mạnh.
7/2/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường hàng năm do Thủ tướng Chính phủ phát động từ năm 1998 và được các Ban ngành Trung ương, địa phương và nhân dân cả nước tích cực hưởng ứng. Sau hơn 20 năm, Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường đã đạt được những thành quả đáng khích lệ về cấp nước và vệ sinh góp phần làm thay đổi chất lượng và điều kiện sống của người dân nông thôn. Người dân dần thay đổi nhận thức về vai trò của nước sạch, sử dụng nguồn nước đảm bảo chất lượng, góp phần tạo ra thói quen sử dụng nước sạch trong sinh hoạt và sản xuất đồng thời giữ gìn vệ sinh môi trương, đẩy lùi các dịch bệnh vì một cộng đồng khỏe mạnh.

Ngày 13/4/2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành văn bản số 2136/BNN-TCTL về việc tổ chức hường ứng Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2021 gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 23/4/2021 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành văn bản số 1203/UBND-KT về việc tổ chức hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2021 gửi các Sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố.

Với chủ đề "Đảm bảo an ninh nguồn nước trong cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vì sức khỏe cộng đồng" với mục đích nhằm nâng cao hiểu biết, trách nhiệm, sự tham gia và cam kết của gia đình, cộng đồng, ban ngành toàn thể, tổ chức chính trị xã hội và chính quyền địa phương về tầm quan trọng trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước phục vụ cấp nước sạch nông thôn, ý thức sử dụng nước sạch, giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, vệ sinh hộ gia đình để bảo vệ sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phát động Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2021 với các hoạt động chính: tuyên truyền, phổ biến rổng rãi đến người dân nông thôn về mục tiêu, nội dung về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở các địa phương có công trình cấp nước tập trung; treo các pano tại các công trình cấp nước tập trung với thông điệp hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2021 với nội dung "Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta".

Thông qua Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường hàng năm cùng nhau chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá "nước sạch", nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức khỏe chính mình và gia đình, cộng đồng trong tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT


Tuyên truyền, vận động các người dân Khmer xã Tân Đông tham gia đấu nối, sử dụng nước sạchNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTuyên truyền, vận động các người dân Khmer xã Tân Đông tham gia đấu nối, sử dụng nước sạch/PublishingImages/2021-06/TTNS_CTCN ẤP KA ỐT.jpg
7/1/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

​Tân Đông là một trong xã biên giới thuộc huyện Tân Châu với tổng số 4.611 hộ dân, có đường biên giới dài hơn 14km tiếp giáp Campuchia. Xã Tân Đông có 6 ấp, trong đó 3 ấp Ka Ốt, Suối Dầm, Tầm Phô tập trung khá đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, gồm 2.011 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 15,5% dân số toàn xã.

Năm 2020, xã Tân Đông có số hộ dân sử dụng nước đạt QCVN 02:2009/BYT: 3.294/4.611 hộ dân đạt tỷ lệ 71,44% > 65%. Đạt tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt" theo chỉ tiêu 17.1 trong xây dựng nông thôn mới.

Việc đầu tư xây dựng các công trình cấp nước cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc là vấn đề luôn được quan tâm, chú trọng hàng đầu. Hiện tại xã Tân Đông có 3 công trình cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý (Công trình cấp nước ấp Đông Tiến, công trình cấp nước ấp Tầm Phô và công trình cấp nước ấp Ka-ốt). Số hộ dân sử dụng nước từ 03 công trình cấp nước tập trung là 494 hộ (Công trình cấp nước ấp Tầm Phô và Công trình cấp nước ấp Ka Ốt cấp nước cho 309 hộ dân là đồng bào dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 62,6%).

Trong đó, Công trình cấp nước ấp Ka Ốt được xây dựng và đưa vào vận hành năm 2008, cấp nước cho đồng bào dân tộc Khmer sinh sống tại đây. Tuy nhiên năm 2019, tỷ lệ các hộ dân sử dụng nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước này khá ít (chỉ đạt 53% số hộ thiết kế), đa phần người dân sử dụng nguồn nước không đảm bảo chất lượng từ các giếng khoan hoặc trữ nước mưa sử dụng.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường tỉnh Tây Ninh chủ động phối hợp Uỷ ban nhân dân xã Tân Đông tổ chức vận động, tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân (đặc biệt là đồng bào dân tộc) sử dụng nguồn nước sạch, đảm bảo chất lượng, chung tay xây dựng một cộng đồng sạch và an toàn.

Cùng nhau bàn bạc, đưa ra các giải pháp hữu hiệu, vừa đảm bảo các hộ dân được sử dụng nước sạch vừa đáp ứng điều kiện kinh tế, chú trọng quyền lợi của các hộ dân đang sinh sống tại Công trình cấp nước ấp Ka Ốt đồng thời tổ chức vận đồng bà con sử dụng nước sạch, chú trọng sức khỏe của chính mình, gia đình và cộng đồng với các nội dung như sau:

- Đối với các hộ dân trước đây đã đăng ký sử dụng nước, nếu đồng hồ nước bị hư hỏng, mờ, hỗ trợ thay đồng hồ nước miễn phí;

- Hỗ trợ toàn bộ chi phí đấu nối sử dụng nước sạch cho các hộ đồng bào dân tộc nằm trên tuyến ống chính của Công trình cấp nước ấp Ka Ốt;

- Treo pano tại các công trình cấp nước, khu vực gần Ủy ban nhân dân xã với nội dung: "Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tốt cho một thế giới khỏe mạnh" nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ sức khỏe, an sinh của gia đình và xã hội từ việc sử dụng nguồn nước sạch.

TTNS_CTCN ẤP TẦM PHÔ.jpg

Nhờ phấn đấu nỗ lực tuyên truyền và thực hiện các giải pháp đưa ra đã có 41 hộ đồng bào dân tộc Khmer tại Công trình cấp nước ấp Ka Ốt đăng ký sử dụng và tiến hành đấu nối lại, nâng tổng số hộ đăng ký sử dụng lên 123 hộ dân.  Tuy số hộ dân đăng ký sử dụng chưa nhiều nhưng đó là một bước tiến mới, chứng minh người dân dần thay đổi một phần nhận thức về vai trò của nước sạch, sử dụng nguồn nước đảm bảo chất lượng, góp phần tạo ra thói quen sử dụng nước sạch trong sinh hoạt và sản xuất, đẩy lùi các dịch bệnh vì một cộng đồng khỏe mạnh.

Trong thời gian tới, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiếp tục phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Tân Đông đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp nhằm tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức của người dân, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống đồng bào dân tộc./.


“Ấm tình biên giới” trong thời điểm dịch bệnh COVID-19Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNT“Ấm tình biên giới” trong thời điểm dịch bệnh COVID-19/PublishingImages/2021-06/TTNS_ ẤM TÌNH BIÊN GIỚI.jpg
7/1/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Kể từ khi được công bố là "Đại dịch toàn cầu" bởi WHO vào cuối tháng 1/2020, virus corona COVID-19 đã có tác động không nhỏ đến nền kinh tế và đời sống của người dân trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Từ tháng 4/2021, dịch bùng phát trở lại trên lãnh thổ Việt Nam với biến chủng siêu lây nhiễm từ Ấn Độ với tốc độ và khả năng lây lan nhanh trong công đồng.

Là một tỉnh có tuyến biên giới đường bộ với Campuchia, cũng là nơi giáp ranh với thành phố Hồ Chí Minh – hai nơi có tình hình dịch diễn biến phức tạp, các lực lượng chức năng phối hợp cùng địa phương kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới, các đường mòn, lối mở, quản lý người nhập cảnh, việc khai báo y tế và cách ly tập trung được triển khai thực hiện theo quy định.

Đặc biệt, các cán bộ, chiến sĩ, người dân biên phòng mang trọng trách ngày đêm bảo vệ biên giới và phòng chống dịch COVID-19 trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Vì vậy, việc đảm bảo sinh hoạt và đời sống các cán bộ, chiến sĩ, người dân biên phòng càng được chú trọng và quan tâm.

Ngày 11/9/2020, Đoàn công tác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UB.MTTQVN) TP.Hồ Chí Minh do ông Ngô Quốc Phong làm trưởng đoàn đã đến trao tặng công trình "Nước ngọt vùng biên" trị giá 500 triệu đồng cho quân-dân xã Tân Bình, huyện Tân Biên. Đây là công trình cấp nước thứ 3 TP. Hồ Chí Minh tặng cho quân dân vùng biên giới Tây Ninh trong 3 năm trở lại đây được trích từ Quỹ  "Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc" TP. Hồ Chí Minh.

TTNS_ ẤM TÌNH BIÊN GIỚI.jpg 

Với nguồn kinh phí hỗ trợ này, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh đã tiến hành nâng cấp, sửa chữa Công trình cấp nước ấp Tân Thanh, xã Tân Bình, huyện Tân Biên để mở rộng cấp nước sạch cho 02 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú với các hạng mục như sau:

+ 500 triệu đồng từ Quỹ "Vì biển đảo quê hương – Vì tuyến đầu Tổ quốc" TP. Hồ Chí Minh xây dựng cụm thiết bị xử lý 15-20m3/h.

+ 300 triệu đồng từ Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh lắp đặt, bổ sung giếng khoan; giàn hóa chất; sơn, sửa nhà trạm; mở rộng tuyến ống và đấu nối cho hộ dân.

Việc nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước đã góp phần cung cấp nước sạch cho các cán bộ, chiến sĩ, người dân biên phòng xã Tân Bình, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng, nâng cao nhận thức sử dụng nước sạch của người dân vùng biên giới, đồng bào dân tộc và đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng vùng biên giới trong thời điểm dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn mong muốn có thể lan tỏa "Tình biên giới" trong thời điểm dịch bệnh, góp phần đảm bảo sinh hoạt và đời sống của cán bộ, chiến sĩ, người dân biên phòng trên địa bàn tỉnh và thể hiện sự quan tâm của tỉnh và địa phương đối với đời sống nhân dân, không ngừng đóng góp công sức để chống lại dịch bệnh và xây dựng xã hội ngày càng phát triển, văn minh, hiện đại./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT


Đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh đi vào cuộc sốngNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTĐưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh đi vào cuộc sống/PublishingImages/2021-06/TTNS_CTCN ẤP ĐỒNG KÈN.jpg
7/1/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

Tây Ninh là một tỉnh biên giới thuộc vùng Đông Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa là mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Lượng mưa trung bình năm khá lớn, mạng lưới sông suối, kênh rạch tương đối nhiều ngoài ra trữ lượng nước dưới đất khá dồi dào và phân bố tương đối đồng đều thuận lợi cho việc dự trữ nước nguồn và khai thác cung cấp, sản xuất nước sạch sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, những năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp đã làm ảnh hưởng đến việc cung cấp nước vào mùa khô tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, phát triển kinh tế của người dân vùng nông thôn.

Qua 10 năm kể từ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ IX, bộ mặt an sinh xã hội vùng nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, hạ tầng cơ sở vật chất được quan tâm nâng cấp cải tạo trong đó có việc chú trọng đầu tư, nâng cấp các hạng mục công trình cấp nước tập trung vùng nông thôn. Nếu như trước năm 2012, tỷ lệ người dân vùng nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (gọi tắt là QCVN 02:2009/BYT) là 4% thì qua thực hiện các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực nước sạch, đến nay con số đó đã tăng lên khoảng gần 60%. Những nỗ lực, phấn đấu trên là thành quả chung của Đảng, Nhà nước và Nhân dân góp phần nâng cao chất lượng đời sống an sinh xã hội vùng nông thôn.

TTNS_CTCN ẤP ĐỒNG KÈN.jpg

Công trình cấp nước tập trung ấp Đồng Kèn, xã Tân Thành, huyện Tân Châu (Ảnh: TTNS)

Theo số liệu tổng hợp từ Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, đến hết năm 2019 trên địa bàn toàn tỉnh Tây Ninh hiện có trên khoảng gần 25.000 hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Công ty Cổ phần Cấp thoát nước, Ủy ban nhân dân các xã khai thác, cung cấp và khoảng 140.000 hộ dân sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ khác chủ yếu từ giếng khoan, giếng đào hầu như không có hoặc rất ít và tự trang bị hệ thống lọc nước hộ gia đình...Trong đó phải kể đến các địa phương như huyện Tân Biên, huyện Bến Cầu, huyện Tân Châu là những khu vực có số lượng công trình cấp nước tập trung phân bố rải rác đều trên địa bàn các xã.

Bên cạnh việc đầu tư, cải tạo các công trình nước cấp nước tập trung phục vụ người dân, tỉnh Tây Ninh cũng ban hành các chính sách về hỗ trợ, khuyến khích người dân sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày như Nghị quyết số 38/2017/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh và Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh về thực hiện chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn với khoảng 6.450 hộ nghèo, cận nghèo, chính sách được hưởng lợi; ban hành Quyết định số 1351/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh về kêu gọi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác 31 công trình cấp nước tập trung cấp nước cho khoảng 10.900 hộ dân nông thôn trên địa bàn tỉnh; thực hiện chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của Ngân hàng Chính sách xã hội theo Quyết định số 62/QĐ-TTg, Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, Quyết định số 1205/QĐ-TTg cấp tín dụng hỗ trợ cho khoảng 140.000 hộ dân vay vốn xây mới, cải tạo, nâng cấp 130.000 công trình nước sạch và 127.000 công trình vệ sinh với mức cho vay tối đa 10 triệu/công trình, song song đó là các hình thức tuyên truyền, vận động, phổ biến kiến thức đến người dân về việc thực hiện giữ gìn vệ sinh trong nếp sống sinh hoạt hàng ngày nhất là bà con ở các xã vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.

Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015 (kể từ năm 2016 trở đi lồng ghép vào chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới) được người dân khu vực vùng nông thôn, vùng sâu, vùng khó khăn về nguồn nước nhiệt tình hưởng ứng. Những công trình cấp nước nông thôn được thực hiện từ nguồn vốn của chương trình sau khi được đầu tư, sửa chữa, nâng cấp đã phát huy được hiệu quả sử dụng, người dân nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sạch đảm bảo chất lượng, đời sống người dân ngày càng được nâng cao.

Từ những mặt đạt được trên chúng ta có thể thấy các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực nước sạch nông thôn không những góp phần nâng cao điều kiện sống, sinh hoạt hàng ngày cho người dân mà còn góp phần xây dựng bộ mặt mới mẻ, khang trang cho các xã trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nhất là những xã vùng biên giới, xã vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế như:

Thứ nhất, hiện nay một số công trình cấp nước tập trung đã xuống cấp, công nghệ lạc hậu cũ kỹ do đã được đầu tư từ 15 – 20 năm về trước khiến công tác vận hành cấp nước thường xuyên bị gián đoạn, chất lượng nước đầu ra không đảm bảo theo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ Y tế ban hành;

Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp đã làm ảnh hưởng đến việc cung cấp nước vào mùa khô nhất là vào thời điểm từ tháng 2 đến tháng 5, một số công trình cấp nước thường xuyên bị thiếu hụt nước trong khi nhu cầu sử dụng nước của người dân tăng lên rất cao;

Thứ ba, hiện nay chưa có chính sách cụ thể về xã hội hóa nước sạch nông thôn nhằm thu hút, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư các công trình cấp nước tập trung;

Thứ tư, công tác tuyên truyền, vận động còn gặp nhiều khó khăn do phần lớn người dân vẫn giữ thói quen sử dụng nước sinh hoạt hàng ngày từ nguồn nước ngầm chưa qua xét nghiệm, kiểm tra chất lượng nguồn nước. Nguồn nước này dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động từ môi trường bên ngoài như hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm; hoạt động sản xuất công nghiệp; hoạt động phun thuốc bảo vệ thực vật và những yếu tố do thiên nhiên, thời tiết…

Tiếp nối những thành quả đạt được trong lĩnh vực nước sạch nông thôn qua 10 năm thực hiện kể từ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ IX và để cụ thể hóa nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ XI đã đề ra; các cấp, các ngành nói chung và tập thể Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn nói riêng cần thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất các mô hình quản lý các hệ thống cấp nước sạch phù hợp với yêu cầu quy hoạch cấp nước và tình hình thực tế tại địa phương; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, vận hành các công trình cấp nước; chú trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, quản lý vận hành các công trình cấp nước; xây dựng kế hoạch cấp nước an toàn khu vực nông thôn cho các công trình cấp nước;

Thứ hai, tăng cường chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu, xây dựng các kịch bản ứng phó khi có sự cố xảy ra do tác động của môi trường, khí hậu. Rà soát các khu vực thường xảy ra thiếu hụt nguồn nước vào mùa khô đề xuất các giải pháp khắc phục ngắn hạn và dài hạn;   

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để huy động sự tham gia đóng góp tích cực và nhiều mặt của mọi thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư trong đầu tư vốn, thi công xây lắp, các dịch vụ sửa chữa và quản lý vận hành. Khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung;  

Thứ tư, tăng cường các giải pháp về thông tin, giáo dục truyền thông và kêu gọi sự tham gia của cộng đồng. Trong đó cần chú trọng việc nâng cao ý thức, thay đổi hành vi, thái độ của từng cá nhân trong việc bảo vệ, giữ gìn các công trình cấp nước; đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày.

Có thể khẳng định, trải qua 10 năm kể từ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ IX đến nay đã đánh dấu những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực nước sạch nông thôn, với nhiều thành tựu và kết quả đạt được. Hướng tới thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 – 2025, tập thể Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiếp tục phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, phát huy vai trò sức trẻ, tinh thần chủ động đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, quyết tâm thực hiện thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết./.

Trung tâm Nước sạch và VSMTNT


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức Hội nghị viên chức, người lao động năm 2021 Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức Hội nghị viên chức, người lao động năm 2021 /PublishingImages/2021-02/TTNS_Hội nghị VCNLĐ 2021.jpg
Ngày 12/01/2021, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức Hội nghị viên chức, người lao động năm 2021, nhằm đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2020, đề ra giải pháp, mục tiêu thực hiện nhiệm vụ năm 2021, nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước sạch nông thôn.
2/17/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 12/01/2021, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức Hội nghị viên chức, người lao động năm 2021, nhằm đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2020, đề ra giải pháp, mục tiêu thực hiện nhiệm vụ năm 2021, nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước sạch nông thôn.

Tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Văn Mấy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT, ông Lữ Trung Lành, Chủ tịch Công Đoàn ngành Nông nghiệp & PTNT và toàn thể viên chức, người lao động trong đơn vị.

Hiện nay, Trung tâm Nước sạch trực tiếp quản lý, vận hành 69 công trình cấp nước tập trung trên địa bàn các huyện, thành phố, chủ yếu các xã vùng nông thôn, biên giới (17/20 xã biên giới). Hoạt động cấp nước sạch nông thôn đã tạo điều kiện người dân nghèo có thu nhập thấp, đồng bào dân tộc được sử dụng nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sức khỏe của người dân; đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông mới, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh;

* Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn năm 2020:

- Công suất hoạt động trung bình: 9.929/10.359m3/ngày.đêm, đạt 95,85% công suất thiết kế. Khối lượng nước tiêu thụ đạt: 2.813.674 m3, tăng: 9,20% so với năm 2019;

- Số hộ sử dụng nước: 19.322/20.000 hộ, đạt 96,61% số hộ thiết kế, tăng 1.084 hộ so với năm 2019. Trong đó: 1.330 hộ đồng bào dân tộc (chủ yếu là dân tộc: Khmer, Chăm, Thái), chiếm tỷ lệ: 6,89% trên tổng số hộ sử dụng nước;

- Doanh thu tiền nước: 15.362.700 đồng, vượt: 7,2% so với kế hoạch, tỷ lệ người dân nợ tiền nước chiếm 0,5% trên doanh thu;

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ nước sạch và nước hợp vệ sinh đối với xã xây dựng nông thôn mới, đến nay: 10/10 xã đạt chỉ tiêu 17.1. Các xã: Hưng Thuận, Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng; xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu; xã Phan, huyện Dương Minh Châu; xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu; xã Phước Vinh, xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành; xã Tân Hòa, xã Tân Đông, huyện Tân Châu; xã Tân Bình, TP.Tây Ninh;

- Ứng dụng phần mềm quản lý mạng cấp nước CityWork: 39/69 công trình cấp nước sạch nông thôn: Quản lý mạng lưới đường ống, theo dõi giám sát quy trình chốt đồng đồ, in hóa đơn, công tác sửa chữa vận hành của các công trình cấp nước.

* Mục tiêu thực hiện nhiệm vụ chuyên môn năm 2021:

- Nâng cao chất lượng, an toàn đối với các công trình cấp nước thuộc đơn vị quản lý; đảm bảo trên 95% các công trình cấp nước đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt;

- Tăng tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 99,2%, tỷ lệ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt đạt 64% toàn tỉnh, các xã xây dựng nông thôn mới đạt thấp nhất 65%, xã xây dựng nông thôn mới nâng cao đạt 100%. Thực hiện kế hoạch giảm dưới 5% nợ trên tổng doanh thu tiền nước;

- Kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch các xã xây dựng nông thôn mới năm 2021. Kiểm tra, đánh giá tiêu chí nâng cao về nước sạch đối với các xã xây dụng nông thôn mới nâng cao năm 2021;

- Tăng hiệu quả quản lý kỹ thuật trạm cấp nước về chất lượng, thất thoát nước năm 2021 đạt tỷ lệ 23,6%, đảm bảo thời gian trạm ngưng hoạt động không quá 3 tiếng. Tăng số lượng trạm cấp nước bền vững, quản lý, vận hành khai thác và duy tu bảo dưỡng các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh;

- Tổ chức thực hiện kinh phí được giao năm 2021, quản lý chặt chẽ các nguồn kinh phí, sử dụng tiết kiệm đúng mục đích. Xây dựng hệ thống điện năng lượng mặt trời phục vụ hoạt động cấp nước;

- Tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tiếp tục xây dựng phương án chống thất thoát nước, tiết kiệm điện, bão dưỡng thiết bị tại các công trình cấp nước, hạn chế tối đa tình trạng hư hỏng, sửa chữa tiết kiệm kinh phí.

* Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị của Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT:

Biểu dương tập thể viên chức, người lao động đã cố gắng nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ được giao, cụ thể: Công suất hoạt động đạt: 95,85% so với công suất thiết kế (9.929/10.359m3); doanh thu tiền nước đạt: 15.362.700 đồng, vượt: 7,2% so với kế hoạch đề ra; ứng dụng phần mềm Citywork in hóa đơn thu tiền nước, quản lý khách hàng sử dụng nước đã tiết kiệm thời gian, kinh phí, nâng cao hiệu quả hoạt động tại các công trình cấp nước..; đây là những kết quả rất khả quan so với các năm trước. Đề nghị viên chức, người lao động tiếp tục phát huy những thành tích đạt được, thực hiện nhiệm vụ tốt hơn những năm tiếp theo, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của Ngành nông nghiệp;

Với mục tiêu năm 2021, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 99,2% và tỷ lệ quy chuẩn kỹ thuật chất lượng nước sinh hoạt đạt 64% toàn tỉnh, các xã xây dựng nông thôn mới đạt thấp nhất 65%, xã xây dựng nông thôn mới nâng cao đạt 100%. Đặc biệt công tác quản , vận hành các công trình cấp nước, xét nghiệm mẫu nước đảm bảo chất lượng nước, đạt quy chuẩn chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân. Phối hợp cơ quan, đơn vị, UBND xã kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch và nước hợp vệ sinh các xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Tuyên truyền vận động người dân vùng nông thôn, biên giới, nâng cao nhận thức, nhu cầu cần thiết sử dụng nước sạch trong sinh hoạt, tăng số hộ dân sử dụng nước sạch năm sau cao hơn năm trước;

Hội nghị thông qua Nghị quyết năm 2021, tập thể viên chức, người lao động thuộc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã thống nhất biểu quyết 100%, quyết tâm phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được Sở Nông nghiệp và PTNT giao./.


Dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước sạch ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây, huyện Tân BiênNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTDự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước sạch ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên/PublishingImages/2020-12/TTNS_Nâng cấp công trình cấp nước Thạnh Trung.jpg
Công trình cấp nước ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên, xây dựng từ năm 2005, đến nay một số hạng mục công trình đã xuống cấp, công nghệ lạc hậu, giếng, bể chứa, hệ thống lọc, hệ thống điện không còn phù hợp. Đặc biệt vào mùa khô lưu lượng nước xuống thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân; đồng thời số lượng khách hàng sử dụng nước của người dân ngày càng tăng, rất khó khăn trong công tác quản lý, vận hành cấp nước;
12/9/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Công trình cấp nước ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên, xây dựng từ năm 2005, đến nay một số hạng mục công trình đã xuống cấp, công nghệ lạc hậu, giếng, bể chứa, hệ thống lọc, hệ thống điện không còn phù hợp. Đặc biệt vào mùa khô lưu lượng nước xuống thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân; đồng thời số lượng khách hàng sử dụng nước của người dân ngày càng tăng, rất khó khăn trong công tác quản lý, vận hành cấp nước;

Từ thực tế khó khăn nêu trên, nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết đảm bảo cung cấp nước ổn định, liên tục cho người dân trên địa bàn xã Thạnh Tây, ngày 22/02/2018 UBND tỉnh Tây Ninh phê duyệt chủ trương đầu tư nâng cấp, sửa chữa Hệ thống cấp nước ấp Thạnh Trung tại Quyết định số 508/QD-UBND, thời gian thực hiện dự án năm 2019-2020. Nâng cấp, sửa chữa một số hạng mục, mở rộng tuyến ống cấp nước khu vực dân cư sinh sống tập trung có nhu cầu sử dụng nước, lắp đặt đồng hồ nước D15 cho: 616 hộ trong tổng số 770 hộ trên các tuyến ống mở rộng, chiếm tỷ lệ 80%, còn lại 20% hộ dân sẽ lắp đặt trong quá trình vận hành khai thác.

TTNS_Nâng cấp công trình cấp nước Thạnh Trung.jpg

Hình ảnh Công trình cấp nước sạch ấp Thạnh Trung, sau khi nâng cấp, sửa chữa

*  Mục tiêu của dự án nâng cấp:

- Cấp nước sạch: 1.150 hộ dân, công suất thiết kế 20m³/h;

- Tổng mức đầu tư dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây: 13.556.723.000 đồng;

- Các hạng mục xây mới: Khoan mới 03 giếng, bể chứa dung tích 150m³; cụm xử lý tích hợp 40m³/h, nhà trạm bơm cấp II-hóa chất, lắp mới 02 bơm ly tâm, lắp đặt hệ thống đường ống kỹ thuật vận hành bể chứa và mở rộng mạng lưới cấp nước;

- Các hạng mục cải tạo, sửa chữa: Cụm xử lý thành bể chứa nước sạch, bể chứa nước rửa lọc; hệ thống điện, đường ống kỹ thuật, phòng bơm cấp hóa chất, nhà điều hành; nhà vệ sinh; sân, cổng tường rào.

* Hiệu quả hoạt động cấp nước sau khi nâng cấp, sửa chữa:

Sau khi dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước ấp Thạnh Trung, xã hoàn thành đưa vào sử dụng, Trung tâm Nước sạch tích cực phối hợp với UBND xã Thạnh Tây, nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước, giảm thất thoát nước, đảm bảo chất lượng nước cấp đến các hộ dân, việc sử dụng nước thuận tiện chỉ cần mở van là có nước. Đồng thời định kỳ 3 tháng, Trung tâm Nước sạch tổ chức lấy mẫu nước xét nghiệm, kiểm tra giám sát chất nước thực hiện đúng quy định, vì vậy người dân hoàn toàn yên tâm về chất lượng nguồn nước.

Đáng nói là, với sự đầu tư kinh phí nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước sạch nông thôn, đã góp phần làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tộc vùng nông thôn, biên giới, tạo tiền đề dân trí phát triển, từng bước xây dựng cụm xã ngày càng văn minh, hiện đại. Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công trong thực hiện chương trình nước sạch nông thôn, trước khi xây dựng công trình phải điều tra, khảo sát nhu cầu sử dụng nước của người dân; trong đó, đặc biệt chú trọng lợi ích thiết thực của người dân làm trọng tâm. Mặt khác, công trình cấp nước sạch được khai thác, sử dụng hợp lý với chất lượng nước bảo đảm. Hiện nay, mô hình cấp nước sạch có sự quản lý, hỗ trợ kinh phí của ngân sách nhà nước, nên giá nước ổn định, tạo điều kiện người dân nghèo nông thôn, biên giới có thu nhập thấp được sử dụng nước sạch, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân đồng bào dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Hiệu quả từ chương trình cấp nước sạch nông thôn đã góp phần thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Tây Ninh chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn./.

In hóa đơn thu tiền nước công nghệ 4.0 (Ứng dụng phần mềm Citywork)Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTIn hóa đơn thu tiền nước công nghệ 4.0 (Ứng dụng phần mềm Citywork)
Hiện nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã áp dụng công nghệ quản lý khách hàng sử dụng nước, in hóa đơn thu tiền nước bằng phần mềm Citywork trên 64 công trình cấp nước, đạt 100% công trình cấp nước đang hoạt động có doanh thu.
12/8/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã áp dụng công nghệ quản lý khách hàng sử dụng nước, in hóa đơn thu tiền nước bằng phần mềm Citywork trên 64 công trình cấp nước, đạt 100% công trình cấp nước đang hoạt động có doanh thu. Qua ba năm ứng dụng phần mềm Citywork đã nâng cao hiệu quả hoạt động tại các công trình cấp nước, tiết kiệm kinh phí, thời gian và quản lý khách hàng sử dụng nước đảm bảo chặt chẽ, hạn chế người dân nợ tiền nước, số liệu nhanh, chính xác, cụ thể:

Tăng khả năng kiểm soát chỉ số đồng hồ, giảm sai số in hóa đơn: Sau khi chốt chỉ số đồng nước bằng phần mềm Citywork trên điện thoại, quản lý trạm đồng bộ số liệu về máy chủ tại Trung tâm Nước sạch, tại đây nhân viên phụ trách in hoá đơn thao tác trên máy vi tính để kiểm tra các chỉ số bất thường như: khối lượng nước sử dụng tăng đột biến, chỉ số nước âm, chốt sai vị trí đồng hồ…sau đó xác nhận lại với quản lý trạm trước khi phát lệnh in hoá đơn. Do vậy, việc in hóa đơn đảm bảo số liệu chính xác, giảm tối đa in hóa đơn sai số. 

Hệ thống lưu trữ dữ liệu đầy đủ, an toàn trên trang web: ứng dụng phần mềm Citywork lưu trữ dữ liệu khách hàng dùng nước trên trang web, dữ liệu được hệ thống hoá từ tổng quát đến chi tiết, xuất kết quả báo cáo cụ thể theo từng nội dung: Quản lý hợp đồng khách hàng dùng nước; Ghi chỉ số và hoá đơn; Thu tiền; Quản lý thất thoát. Các biểu báo cáo liên thông số liệu với nhau, truy xuất dễ dàng mọi lúc mọi nơi chỉ cần máy tính có kết nối internet giúp việc quản lý các công trình cấp nước mang lại hiệu quả. (trước đây tổng hợp doanh thu tiền nước, tổng hợp báo cáo phải nhập số liệu thủ công bằng excel, lưu dữ liệu trên ổ cứng máy tính, dễ xảy ra mất mát dữ liệu khi máy tính gặp sự cố hư hỏng). 

Tiết kiệm thời gian: Trước đây in hóa đơn thu tiền nước tại 64 CTCN, thời gian kéo dài hơn 15 ngày, hàng tháng chốt chỉ số đồng hồ nước ghi bằng giấy, gửi về Trung tâm Nước sạch, thời gian gửi từ 2-3 ngày; sau đó thực hiện nhập chỉ số bằng tay vào máy vi tính khoảng 10 ngày, sau khi nhập xong, in hóa đơn và chuyển hóa đơn xuống các CTCN qua đường bưu điện khoảng 2-3 ngày, do đó thời gian thu tiền nước bị ngắn lại, chỉ còn khoảng 5 ngày (từ ngày 15-20 hàng tháng), dẫn đến người dân nợ tiền nước nhiều. Sau khi ứng dụng phần mềm Citywork in hóa đơn thu tiền nước, thời gian rút ngắn xuống chỉ còn 7 ngày (giảm 50% thời gian so với trước đây). Bên cạnh đó việc chốt chỉ số đồng hồ, in hóa đơn thu tiền nước thực hiện đồng bộ, nhanh, số liệu chính xác, kiểm tra lại chỉ số bất thường và tạo phiên in hóa đơn chỉ vài giây, tiết kiệm thời gian, tăng chất lượng hiệu quả làm việc.

Qua thời gian ứng dụng phần mềm Citywork quản lý khách hàng sử dụng nước, in hóa đơn thu tiền nước đã nâng cao hiệu quả hoạt động tại các công trình cấp nước, tiết kiệm thời gian, kinh phí. Do vậy, để tiếp cận được công nghệ mới thời gian tới Trung tâm Nước sạch cần phải đầu tư kinh phí trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống bảo mật thông tin, ứng dụng công nghệ 4.0 và một số công nghệ mới: Trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, điện toán đám mây…. Kết quả thực tế sự thay đổi nhanh chóng việc ứng dụng công nghệ mới trong các hoạt động của đơn vị: Quản lý khách hàng, chốt chỉ số đồng hồ, in hóa đơn thu tiền nước, tổng hợp số liệu báo cáo đã mang lại hiệu quả thiết thực; công việc in hóa đơn không còn thực hiện thủ công như trước kia, thay vào đó là tự động hóa, từ khâu nhập số liệu, kết nối số liệu, xử lý, lập báo cáo và phân tích số liệu, đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ mới giai đoạn hiện nay, nâng cao chất lượng, hiệu quả cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn./.

Nước sạch nông thôn hiệu quả từ những công trình công íchNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTNước sạch nông thôn hiệu quả từ những công trình công ích/PublishingImages/2020-12/CT xây dựng nông thôn mới.jpg
Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, một trong những mục tiêu đang được tỉnh tập trung triển khai, nhằm cung cấp nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày đối với: Hộ dân vùng nông thôn, biên giới, trường học, trạm y tế, cơ quan, đơn vị và các khu dịch vụ công cộng...; đồng thời, nâng cao hiểu biết của người dân về sử dụng nước sạch.
12/8/2020 2:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, một trong những mục tiêu đang được tỉnh tập trung triển khai, nhằm cung cấp nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày đối với: Hộ dân vùng nông thôn, biên giới, trường học, trạm y tế, cơ quan, đơn vị và các khu dịch vụ công cộng...; đồng thời, nâng cao hiểu biết của người dân về sử dụng nước sạch.

Xã Tân Bình, huyện Tân Biên một xã biên giới một trong những xã có nguồn nước bị nhiễm phèn, vàng đục, ảnh hưởng đến ăn, uống, sinh hoạt của người dân. Theo đại diện UBND xã Tân Bình cho biết: Thời gian qua, địa phương cũng đã tích cực huy động nhiều nguồn vốn để đầu tư xây dựng các công trình cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho người dân. Tuy nhiên, đến nay, trên địa bàn xã cũng mới chỉ có 3 công trình cấp nước sạch: ấp Tân Nam, Tân Thạnh và Tân Thanh, cung cấp nước sạch cho 850 hộ dân (chỉ đạt 50%) số hộ trên địa bàn toàn xã được sử dụng nước sạch. Theo đại diện Lãnh đạo UBND xã Tân Bình để có nước sinh hoạt, người dân có tiền thì khoan giếng, nhưng nước bị nhiễm phèn, vàng đục, những hộ không có điều kiện thì đành phải chịu cảnh dùng nước chưa đảm bảo vệ sinh. Dù biết vậy nhưng bà con cũng không còn cách nào khác.

Để giúp người dân xã biên giới ấp Tân Thanh, xã Tân Bình được sử dụng nước sạch để sinh hoạt, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đã vận động Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh hỗ trợ gần 1 tỷ đồng xây dựng thêm cụm xử lý nước sạch tại ấp Tân Thanh với công suất thiết kế cho 100 hộ sử dụng nước sạch. Đến nay, sau hai tháng Dự án được triển khai xây dựng, nguồn nước sạch đầu tiên cấp đến từng nhà. Người dân phấn khởi thu dọn máy bơm, rửa sạch các bồn chứa nước đóng đầy phèn để chứa nước sạch.

TTNS_CT xây dựng nông thôn mới.jpg

Hình ảnh: Công trình cấp nước sạch nông thôn ấp Tân Thanh, xã Tân Bình

Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chương trình hỗ trợ đầu tư xây dựng, nâng cấp, đấu nối các công trình cấp nước sạch nông thôn. Đặc biệt chính sách  hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh, các đối tượng được ngân sách tỉnh hỗ trợ kinh phí lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình: Hộ gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo hỗ trợ 100%; hộ cận nghèo hỗ trợ 75%, hộ có mức sống trung bình hỗ trợ 50%; hộ nông thôn khác hỗ trợ 30%. Mỗi hộ gia đình chỉ được hỗ trợ 1 lần trong thời gian 10 năm. Giá trị hỗ trợ kinh phí lắp đặt tối đa không quá 6 triệu đồng/hộ, bao gồm thiết bị lọc nước, bồn chứa nước 500 lít; tổng kinh phí thực hiện gần 95 tỷ đồng. Thời gian thực hiện từ năm 2018-2020;

Với mục tiêu đến hết năm 2020, tỉnh Tây Ninh có 50/80 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tỷ lệ hộ dân tại các xã xây dựng nông thôn mới theo quy định phải đạt: Nước hợp vệ sinh từ: 98% trở lên và nước sạch từ: 65% theo Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) 02:2009 của Bộ Y tế. Hiệu quả từ chương trình cấp nước sạch nông thôn và chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, đã góp phần thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Tây Ninh xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.

                                                                                                                                                                         Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn./.

Kết quả hoạt động sau khi nâng cấp, sữa chữa công trình cấp nước sạch ấp Tầm Phô, xã Tân Đông, huyện Tân ChâuNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKết quả hoạt động sau khi nâng cấp, sữa chữa công trình cấp nước sạch ấp Tầm Phô, xã Tân Đông, huyện Tân Châu/PublishingImages/2020-12/TTNS_Ấp Tầm Phô.jpg
Hiện nay, công trình cấp nước ấp Tầm Phô trên địa bàn xã Tân Đông, huyện Tân Châu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Khơme; số hộ thiết kế ban đầu 130 hộ dân, thực tế sử dụng nước 182 hộ dân, bình quân công suất khai thác vượt 140%; không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân, đặc biệt vào mùa khô lưu lượng giếng xuống thấp, không đủ nước cho người dân sử dụng. Ngoài ra, Công trình cấp nước ấp Tầm Phô đã xuống cấp, một số hạng mục chính công trình cấp nước bị hư hỏng, vì vậy công suất hoạt động bị hạn chế, khó khăn trong công tác vận hành;
12/4/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Hiện nay, công trình cấp nước ấp Tầm Phô trên địa bàn xã Tân Đông, huyện Tân Châu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Khơme; số hộ thiết kế ban đầu 130 hộ dân, thực tế sử dụng nước 182 hộ dân, bình quân công suất khai thác vượt 140%; không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân, đặc biệt vào mùa khô lưu lượng giếng xuống thấp, không đủ nước cho người dân sử dụng. Ngoài ra, Công trình cấp nước ấp Tầm Phô đã xuống cấp, một số hạng mục chính công trình cấp nước bị hư hỏng, vì vậy công suất hoạt động bị hạn chế, khó khăn trong công tác vận hành;

Nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc vùng biên giới, tháng 11/2019 Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT khởi công dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước ấp Tầm Phô, xã Tân Đông, đảm bảo cung cấp nước ổn định, liên tục cho người dân; đồng thời mở rộng tuyến ống cấp nước các khu vực dân cư sinh sống tập trung có nhu cầu sử dụng nước.

*  Mục tiêu của dự án nâng cấp:

- Tổng mức đầu tư dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước ấp Tầm Phô, xã Tân Đông: 922.896.000 đồng;

- Các hạng mục xây mới: Giếng khoan, trạm bơm giếng;

- Các hạng mục cải tạo, sửa chữa: Giếng khoan, mạng lưới cấp nước, cụm xử lý thành bể chứa nước sạch; bể chứa nước rửa lọc; đài nước; tủ điện, phòng bơm cấp hóa chất, nhà điều hành; nhà vệ sinh; sân, cổng tường rào.

* Hiệu quả hoạt động cấp nước sau khi nâng cấp, sửa chữa:

Để thực hiện có hiệu quả từ công trình nước sạch nông thôn, Ban quản lý Dự án Đầu tư và Xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh đã phối hợp với UBND xã Tân Đông, khảo sát điều kiện tự nhiên, nhu cầu sử dụng nước của người dân địa phương, để lựa chọn loại hình nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước phù hợp. Trên cơ sở đó, dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước ấp Tầm Phô có công suất thiết kế 168m3/ngày-đêm, bảo đảm cung cấp nước ổn định, liên tục 182 hộ dân trên địa bàn xã Tân Đông;

Sau khi dự án nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước ấp Tâm Phô, xã Tân Đông hoàn thành đưa vào sử dụng, Trung tâm Nước sạch tích cực phối hợp với UBND xã Tân Đông, nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước, giảm thất thoát nước, đảm bảo chất lượng nước cấp đến các hộ dân, việc sử dụng nước thuận tiện chỉ cần mở van là có nước. Đồng thời định kỳ 3 tháng, Trung tâm Nước sạch tổ chức lấy mẫu nước xét nghiệm, kiểm tra giám sát chất nước thực hiện đúng quy định, vì vậy người dân hoàn toàn yên tâm về chất lượng nguồn nước. Trao đổi trực tiếp ông Thay Răng, người dân tộc đang sinh sống và sử dụng nước sạch tại công trình cấp nước ấp Tầm Phô phấn khởi cho biết " Từ khi có công trình cấp nước sạch tập trung, gia đình tôi và người dân rất phấn khởi, không phải lo lắng nguồn nước ngầm không đảm bảo"

Đáng nói là, với sự đầu tư kinh phí nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước sạch nông thôn, đã góp phần làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tộc vùng nông thôn, biên giới, tạo tiền đề dân trí phát triển, từng bước xây dựng cụm xã ngày càng văn minh, hiện đại;

TTNS_Ấp Tầm Phô.jpg
      Hình ảnh: Hộ gia đình sử dụng nước từ công trình cấp nước sạch ấp Tầm Phô.

Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công trong thực hiện chương trình nước sạch nông thôn, trước khi xây dựng công trình phải điều tra, khảo sát nhu cầu sử dụng nước của người dân; trong đó, đặc biệt chú trọng lợi ích thiết thực của người dân làm trọng tâm. Mặt khác, công trình cấp nước sạch được khai thác, sử dụng hợp lý với chất lượng nước bảo đảm. Hiện nay, mô hình cấp nước sạch có sự quản lý, hỗ trợ kinh phí của ngân sách nhà nước, nên giá nước ổn định, tạo điều kiện người dân nghèo nông thôn, biên giới có thu nhập thấp được sử dụng nước sạch, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân đồng bào dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Hiệu quả từ chương trình cấp nước sạch nông thôn đã góp phần thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Tây Ninh chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh./.


                                                                                                                                                                         Trung Tâm Nước sạch và VSMTNT

Tập huấn thực hiện cấp nước tháng 10/2020Nước sạch nông thônBài viếtTập huấn thực hiện cấp nước tháng 10/2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 23/10/2020, Tổng cục Thủy lợi; Vụ Nguồn nước và Nước sạch nông thôn, tổ chức tập huấn phổ biến tài liệu hướng dẫn thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn nông thôn, tại tỉnh Bình Thuận. Thành phần tham dự:
12/1/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 23/10/2020, Tổng cục Thủy lợi; Vụ Nguồn nước và Nước sạch nông thôn, tổ chức tập huấn phổ biến tài liệu hướng dẫn thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn nông thôn, tại tỉnh Bình Thuận. Thành phần tham dự:

- Đại diện Lãnh đạo Tổng cục Thủy lợi; Vụ Nguồn nước và Nước sạch nông thôn; Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Giảng viên Trường Cao đẳng Thủy lợi Bắc Bộ;

- Đại diện Lãnh đạo: Chi cục Thủy lợi, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Công ty Cổ phần cấp nước nông thôn các tỉnh/thành phố;

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước nông thôn trong thời gian tới, Tổng cục Thủy lợi; Vụ Nguồn nước và Nước sạch nông thôn chủ trì phối hợp Trường Cao đẳng Thủy lợi Bắc Bộ tổ chức lớp tập huấn phổ biến tài liệu hướng dẫn thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn nông thôn, hướng dẫn tổng quan về nguồn nước và kỹ thuật xử lý nước; ý kiến thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động cấp nước giữa các tỉnh/ thành phố;

Hiện nay, các công trình cấp nước nông thôn các tỉnh/thành phố, chủ yếu khai thác từ hai nguồn nước: Nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm, nhìn chung hoạt động cấp nước vùng nông thôn, biên giới gặp rất nhiều khó khăn; nhất là các tỉnh miền núi phía bắc địa hình đồi, núi phức tạp, việc xây dựng các công trình cấp nước không tập trung, cấp nước nhỏ, lẻ (vài chục hộ/01 công trình cấp nước), người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc, nên việc nhận thức về sử dụng nước sạch chưa cao, dẫn đến chưa phát huy hết công suất thiết kế, kết quả hoạt động cấp nước một số tỉnh chưa cao. Công tác quản lý: Kỹ thuật, vận hành, khai thác, sửa chữa, bảo trì, dịch vụ chăm sóc khách hàng sử dụng nước còn nhiều khó khăn. Để nâng cao hiệu quả hoạt động cấp nước trong thời gian tới thì các đơn vị cấp nước nông thôn cần thực hiện các biện pháp cấp nước an toàn là rất cần thiết, đảm bảo chất lượng nguồn nước cung cấp đến đối tượng sử dụng nước. Một số nội dung thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn nông thôn:

- Tổng quan về chất lượng nguồn nước và công nghệ xử lý nước:

+ Tổng quan về chất lượng nguồn nước;

+ Nguồn nước và chất lượng nguồn nước;

+ Công nghệ xử lý nước cấp sinh hoạt điển hình tại vùng nông thôn;

- Kế hoạch cấp nước an toàn:

+ Kiểm soát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ở toàn bộ các khâu trong hệ thống xử lý;

+ Giảm số lượng chi tiêu đánh giá, kiểm soát chất lượng nguồn nước;

+ Đáp ứng điều kiện kiểm soát và quản lý của đơn vị xử lý cũng như như cơ quan quản lý ở địa phương;

+ Thúc đẩy các đơn vị cấp nước thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn, nhân rộng việc cấp nước an toàn;

+ Quản lý chất lượng nước một cách an toàn, bảo vệ sức khỏe công động;

+ Không có sự khác biệt chất lượng nước giữa khu vực nông thôn và thành thị;

+ Trách nhiệm của các đơn vị cấp nước đối với hàng hóa đặc biệt này.                                                                                                                                                     Ngoài những hướng dẫn của Trường Cao đẳng Thủy lợi Bắc Bộ thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn nông thôn, lớp tập huấn chia làm ba tổ thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất giải pháp xử lý những khó khăn vướng mắc trong công tác quản lý, vận hành cấp nước giữa các Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn các tỉnh/thành phố. Qua đó, giúp các tỉnh học hỏi thêm kinh nghiệm trong công tác quản lý, vận hành cấp nước nông thôn mang lại hiệu quả;

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong việc cấp nước nông thôn, tạo tiền đề việc cung cấp nước sạch ngày càng phát triển bền vững, duy trì thời gian cung cấp nước liên tục, đảm bảo chất lượng nguồn nước sạch và số lượng người sử dụng nước, không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ cấp nước khu vực nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân; góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng nông thôn mới./. 


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.


Khắc phục các sự cố, giải quyết các vấn đề kiến nghị cử tri  sau kỳ họp thứ 17 HĐND tỉnhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKhắc phục các sự cố, giải quyết các vấn đề kiến nghị cử tri  sau kỳ họp thứ 17 HĐND tỉnh/PublishingImages/2020-11/TTNS_CTCN Ninh Hưng 2.jpg
Thời gian gần đây, cử tri ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng kiến nghị: "Trạm cấp nước sạch tại văn phòng ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng bị nhiễm phèn và không đủ lượng nước cung cấp cho người dân. Kiến nghị ngành chức năng khảo sát, tiến hành sửa chữa, khắc phục và có kế hoạch nâng cấp để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho người dân sử dụng."
11/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Thời gian gần đây, cử tri ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng kiến nghị: "Trạm cấp nước sạch tại văn phòng ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng bị nhiễm phèn và không đủ lượng nước cung cấp cho người dân. Kiến nghị ngành chức năng khảo sát, tiến hành sửa chữa, khắc phục và có kế hoạch nâng cấp để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho người dân sử dụng."

Tương tự, cử tri xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu cũng kiến nghị: "Hiện nay, hệ thống lọc nước của trạm cấp nước sạch sau UBND xã Chà Là có rất nhiều rong, rêu bám vào gây mất vệ sinh nguồn nước. Đề nghị ngành chức năng xem xét, xử lý khắc phục."

Tiếp nhận ý kiến cử tri, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành khảo sát, kiểm tra toàn bộ công trình để nhanh chóng có cơ sở trả lời kiến nghị cử tri và khắc phục những vấn đề còn tồn đọng.

Công trình cấp nước ấp Phước Hưng được đầu tư xây dựng năm 2017 và đưa vào hoạt động năm 2018, khai thác nguồn nước ngầm để xử lý và cấp nước cho các hộ dân. Công trình có công suất thiết kế 50 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 180 hộ. Hiện tại, công trình đang hoạt động với công suất thực tế là 59 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 173 hộ dân. Đặc thù đây là khu vực có nguồn nước ngầm bị nhiễm phèn nặng nhất trên địa bàn tỉnh.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành đầu tư, nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước; lắp đặt thêm bồn chứa, hệ thống giàn mưa, tính toán lượng hóa chất sử dụng để nâng công suất và tăng hiệu quả xử lý. Hiện tại, công trình cấp nước ấp Phước Hưng đã hoạt động ổn định, đảm bảo cấp nước đầy đủ, ổn định cho các hộ dân và chất lượng nước đầu ra theo QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Trong quá trình hoạt động, vận hành, định kỳ 3 tháng/lần, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiến hành lấy mẫu, kiểm nghiệm chất lượng nước sạch đầu ra tại trạm cấp nước đảm bảo đạt theo QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đề nghị hộ dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch, thường xuyên kiểm tra, vệ sinh bồn chứa, bể chứa và các thiết bị lưu trữ, sử dụng nước trong gia đình, đảm bảo chất lượng nước sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày.

Đồng thời, sau khi hệ thống cấp nước đô thị Mộc Bài thuộc dự án Phát triển các Đô thị hành lang Tiều vùng song Mekong mở rộng tỉnh Tây Ninh hoàn thiện và đưa vào sử dụng, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiến hành đấu nối tuyến ống hiện hữu, bàn giao các hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước ấp Phước Hưng để đảm bảo nhu cầu sử dụng, chất lượng nguồn nước sinh hoạt, đảm bảo sức khỏe, đời sống và an sinh xã hội.

Đối với công trình cấp nước ấp Ninh Hưng 2, xã Chà là, huyện Dương Minh Châu, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành dọn dẹp vệ sinh khuôn viên trạm, xử lý rong, rêu, đảm bảo vệ sinh nguồn nước.

Hình ảnh: Công trình cấp nước ấp Ninh Hưng 2, xã Chà là, huyện Dương Minh Châu

Đồng thời, nhân viên vận hành, quản lý công trình cấp nước thường xuyên kiểm tra công tác vệ sinh, súc rửa thiết bị, bể chứa, hệ thống đường ống, đảm bảo công trình hoạt động ổn định, cấp nước đầy đủ cho các hộ dân và chất lượng nước đảm bảo đạt QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Tổng kết chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia  về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTổng kết chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia  về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hiện nay, công tác quản lý, vận hành và khai thác công trình cấp nước tập trung nông thôn theo 02 mô hình cấp nước, gồm: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (UBND xã quản lý 06/76 công trình).
11/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành
Tây Ninh là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tọa độ địa lý từ 10057’08’’ đến 11046’36’’ vĩ độ Bắc và từ 105048’43" đến 106022’48’’ kinh độ Đông; diện tích tự nhiên là 4.032,25 km2; phía Bắc và phía Tây giáp 3 tỉnh Svay Riêng, SrâyVêng và Tboung Khmum của Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài 240 km; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước; phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh thực hiện 56.371 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp - xây dựng đóng góp 5,6 điểm phần trăm; dịch vụ 2,1 điểm phần trăm; nông - lâm - thủy sản 0,1 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 0,6 điểm phần trăm. GRDP bình quân đầu người đạt 2.940 USD. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng; dịch vụ; nông - lâm - thủy sản (chưa tính thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm) trong GRDP theo giá hiện hành: 41% - 33% -21%.
Hiện nay, công tác quản lý, vận hành và khai thác công trình cấp nước tập trung nông thôn theo 02 mô hình cấp nước, gồm: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (UBND xã quản lý 06/76 công trình). Đa số công trình cấp nước tập trung nông thôn có công nghệ xử lý nước đơn giản, quy mô, công suất nhỏ, công suất thiết kế từ 50 đến 500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khu vực dân cư tập trung từ 50-500 hộ dân, tổng công suất hoạt động đạt 79,74% công suất thiết kế (8.602/10.787 m3/ngày.đêm), tổng số hộ sử dụng nước: đạt 92,86% số hộ thiết kế (18.442/19.859 hộ), với tổng chiều dài tuyến ống cấp nước khoảng 540km.
Việc thụ hưởng chính sách từ chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã giúp hộ gia đình nông thôn tiếp cận nguồn vốn vay và chủ động trong việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các mô hình cấp nước sạch hộ gia đình, công trình hố xí, bể biogaz, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài ra, tất cả trường học và trạm y  tế trên địa bàn nông thôn của tỉnh đều có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh.
Để giúp Nhân dân tiếp cận và thụ hưởng chính sách từ chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg, Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, Quyết định số 1205/QĐ-TTg, UBND tỉnh Tây Ninh đã tham mưu HĐND tỉnh Tây Ninh ban hành Nghị quyết số 38/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 và cụ thể hóa bằng Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
Từ năm 2007 - 2020 ngân sách tỉnh, huyện ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội là 153,129 tỷ đồng (ngân sách tỉnh 131,83 tỷ đồng; ngân sách huyện, thành phố 21,299 tỷ đồng) để cho vay giải quyết cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với 139.970 hộ gia đình (xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp được 130.850 công trình nước sạch và 127.367 công trình vệ sinh), như sau:
- Doanh số cho vay (từ năm 2005 đến năm 2019) đạt 1.470.376 triệu đồng, với 139.970 khách hàng được vay vốn;
- Doanh số thu nợ (từ năm 2005 đến năm 2019) đạt 722.526 triệu đồng, với 73.153 khách hàng trả tất nợ;
- Dư nợ đến năm 2019 đạt 747.850 triệu đồng, với 66.817 khách hàng còn dư nợ. Trong đó, nợ quá hạn: 2.021 triệu đồng, chiếm 0,27%; nợ khoanh: 219 triệu đồng, chiếm 0,03% trong tổng dư nợ chương trình tín dụng.
UBND tỉnh đã hỗ trợ có mục tiêu cho UBND 08 huyện, thị xã giai đoạn 2018-2020: 41,18 tỷ đồng/7.503 hệ thống xử lý nước theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, cụ thể:
- Năm 2018: 8,32 tỷ đồng/1.415 hệ thống xử lý nước;
- Năm 2019: 12,19 tỷ đồng/2.100 hệ thống xử lý nước; 
- Năm 2020 (dự kiến): 20,67 tỷ đồng/3.988 hệ thống xử lý nước.
Tỷ lệ số dân nông thôn tiếp cận sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 98,84% (919.743/930.516 người), trong đó tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT là 59% (549.011/930.516 người; riêng số dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT từ công trình cấp nước tập trung nông thôn; các trạm cấp nước, nhà máy nước của Công ty Cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh và chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh là 18,91% (tương đương 175.840 người). 
+ Tỷ lệ hộ gia đình dân nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh là 93,61% (226.813/242.289 hộ); Tỷ lệ hộ nghèo có nhà tiêu hợp vệ sinh là 85,01% (4.124/4.581 hộ);
+ Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn chăn nuôi có chuồng trại, gia súc hợp vệ sinh là 92,21% (24.577/26.653 hộ);
+ Tỷ lệ trường học có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 100% (487/487 trường học) và tỷ lệ trạm y tế có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 100% (81/81 trạm y tế);
Chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống và vệ sinh môi trường nông thôn cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Người dân vay vốn chương trình tín dụng được ưu đãi về lãi suất, thủ tục cho vay đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi, không mất chi phí đi lại, giải ngân tại điểm giao dịch xã; công tác bình xét cho vay đảm bảo dân chủ, minh bạch và đúng đối tượng;
Các cấp ủy, chính quyền đại phương: luôn quan tâm, chỉ đạo các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh, cấp huyện triển khai chương trình tín dụng trên địa bàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn; kiểm tra, giám sát các Hội, đoàn thể nhận ủy thác, Ngân hàng Chính sách Xã hội, đảm bảo hộ gia đình vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, phát huy hiệu quả.
Tuy nhiên, Chương trình tín dụng sẽ kết thúc vào năm 2020, do đó những hộ gia đình chưa có nước sạch hoặc đã có nguồn nước nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh, công trình nước sạch đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp sẽ không đảm bảo được sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trường và không tiếp cận với nguồn vốn vay của chương trình. Mặt khác, mức cho vay tối đa đối với 01 công trình là10 triệu đồng, trong khi giá cả về nguyên vật liệu, nhân công ngày càng cao. Do đó, chưa đáp ứng những chi phí cần thiết để hộ dân xây dựng công trình đảm bảo chất lượng;
Chương trình tín dụng cũng còn tồn tại một số khó khăn, cụ thể như chưa có chính sách hỗ trợ cho vay đối với đối tượng hộ gia đình chưa có nước sạch hoặc đã có nguồn nước nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh ở khu vực đô thị.
- Tạo điều kiện cho Ngân hàng Chính sách Xã hội huy động các nguồn vốn hợp pháp, bổ sung nguồn vốn để thực hiện cho vay chương trình tín dụng tại nông thôn và khu vực đô thị chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh; tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát hộ gia đình sử dụng vốn vay đúng mục đích, nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng;
- Các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương xác định hộ gia đình có nhu cầu sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường; đồng thời, chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách Xã hội xác định cho vay đúng đối tượng, tổ chức giải ngân kịp thời, thu hồi và xử lý tốt nợ đến hạn.
Để tiếp tục phát huy tốt hiệu quả của chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, góp phần thực hiện các tiêu chí xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu, Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh Tây Ninh đề xuất, kiến nghị như sau:
- Tiếp tục thực hiện chương trình tín dụng để giúp người dân tiếp tục được tiếp cận, thụ hưởng nguồn vốn tín dụng chính sách để vay xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa những công trình cấp nước sạch, công trình vệ sinh, góp phần đạt các tiêu chí xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu;
- Đề xuất bổ sung đối tượng vay vốn là hộ gia đình ở khu vực đô thị chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh; Điều chỉnh tăng mức cho vay tối đa đối với mỗi loại công trình lên 15 triệu đồng/công trình./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.
Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19/PublishingImages/2020-11/TTNS_Trung tâm Nước sạch và VSMTNT.jpg
Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19
11/11/2020 8:00 AMNoĐã ban hành

Kể từ khi được công bố là "Đại dịch toàn cầu" bởi WHO vào cuối tháng 1/2020, virus corona COVID-19 đã có tác động không nhỏ đến nền kinh tế và đời sống của người dân trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Là một tỉnh có tuyến biên giới đường bộ với Campuchia, các lực lượng chức năng và các địa phương đã kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới, các đường mòn, lối mở, quản lý người nhập cảnh, việc khai báo y tế và cách ly tập trung được triển khai thực hiện theo quy định. Tuy nhiên, các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa ngưng trệ, người dân khu vực biên giới bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng bởi dịch Covid 19 nên thất nghiệp tạm thời, không có thu nhập, kinh tế khó khăn. Vì vậy, việc hỗ trợ cho đời sống nhân dân  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là thực sự cần thiết.

Các hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, biên giới. Chính vì vậy, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã xây dựng phương án giảm giá nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, nhằm hỗ trợ, góp phần giảm bớt khó khăn, gánh nặng về kinh tế.

 

                    Hình 1.  Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn                                       Hình 2. CTCN Ngã ba Bổ Túc

         

Giá tiêu thụ nước sạch bình quân được Sở Tài chính thẩm định trình UBND tỉnh tại Tờ trình số 31/STC-QLGCS ngày 28/02/2019 là 9.445 đồng/m³. Tuy nhiên, để cho các hộ dân có điều kiện tiếp cận nước sạch, UBND tỉnh đã quy định giá nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn của các hộ dân cư tại Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND là 5.500 đồng/m³. Đối với các đối tượng sử dụng nước khác, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quy định giá nước sạch tại Quyết định số 211/QĐ-TTNS, cụ thể: đơn vị sự nghiệp là 9.500 đồng/m3; hoạt động sản xuất vật chất là 10.000 đồng/m3 và kinh doanh dịch vụ là 12.500 đồng/m3.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn dự kiến điều chỉnh giảm giá nước sạch cho các đối tượng sử dụng nước tại nông thôn như sau:



STT

Đối tượng sử dụng nướcGiá nước
trước khi điều chỉnh
Giá nước
sau khi điều chỉnh
Tỷ lệ giảm giá nước
(1)(2)(3)(4)(5)
1Giá nước sạch sinh hoạt
 khu vực nông thôn của các hộ dân cư
5.5005.1007,3%
2Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp9.5009.5000%
3Hoạt động sản xuất vật chất10.0009.5005%
4Kinh doanh dịch vụ12.5009.50024%

Đơn giá nước sau khi điều chỉnh được áp dụng từ ngày 01/8/2020 đến ngày 01/02/2021. Thời điểm giảm giá nước và giảm tiền nước được xác định theo kỳ ghi chỉ số của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, tương ứng với 06 kỳ hóa đơn tiền nước các tháng 9, 10, 11, 12/2020 và 1, 2/2021.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn mong muốn có thể chia sẻ bớt gánh nặng kinh tế trong thời điểm dịch bệnh, góp phần hỗ trợ người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh và thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với đời sống nhân dân, làm nhân dân tin tưởng các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh và địa phương, không ngừng đóng góp công sức để chống lại dịch bệnh và xây dựng xã hội ngày càng phát triển, văn minh, hiện đại hơn./.

Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.Hồ Chí Minh trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” năm 2020 cho dân – quân khu vực biên giới xã Tân Bình, huyện Tân BiênNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTUỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.Hồ Chí Minh trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” năm 2020 cho dân – quân khu vực biên giới xã Tân Bình, huyện Tân Biên/PublishingImages/2020-11/TTNS_BV Nuoc ngot vung bien -1_Key_06112020093127.jpg
Ngày 11/9/2020, Đoàn công tác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UB.MTTQVN) TP. Hồ Chí Minh do ông Ngô Quốc Phong làm trưởng đoàn đã đến trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” trị giá 500 triệu đồng cho quân - dân xã Tân Bình, huyện Tân Biên. Đây là công trình cấp nước thứ 3 TP. Hồ Chí Minh tặng cho quân dân vùng biên giới Tây Ninh trong 3 năm trở lại đây được trích từ Quỹ  “Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc” TP. Hồ Chí Minh.
11/11/2020 8:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 11/9/2020, Đoàn công tác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UB.MTTQVN) TP. Hồ Chí Minh do ông Ngô Quốc Phong làm trưởng đoàn đã đến trao tặng công trình "Nước ngọt vùng biên" trị giá 500 triệu đồng cho quân - dân xã Tân Bình, huyện Tân Biên. Đây là công trình cấp nước thứ 3 TP. Hồ Chí Minh tặng cho quân dân vùng biên giới Tây Ninh trong 3 năm trở lại đây được trích từ Quỹ  "Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc" TP. Hồ Chí Minh.

Nguồn kinh phí hỗ trợ xây dựng công trình cấp nước này góp phần cung cấp nước sạch cho các hộ dân, cán bộ, chiến sĩ biên phòng tại 2 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú, xã Tân Bình, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng, nâng cao nhận thức sử dụng nước sạch của người dân vùng biên giới, đồng bào dân tộc và đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng vùng biên giới.


Hình ảnh. Ông Ngô Thanh Sơn - Phó Chủ tịch UB.MTTQVN TP.Hồ Chí Minh trao tặng bảng tượng trưng công trình "Nước ngọt vùng biên" cho ông Nguyễn Văn Hợp - Trưởng ban Dân vận Tỉnh uỷ, Chủ tịch  UB.MTTQVN tỉnh Tây Ninh.

Trên địa bàn xã Tân Bình, huyện Tân Biên có 03 công trình cấp nước, trong đó, công trình cấp nước ấp Tân Thanh do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, khai thác được đầu tư, xây dựng năm 2011 và đưa vào hoạt động năm 2012 với công suất thiết kế: 200 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 400 hộ. Khu vực nhà trạm công trình cấp nước nằm trong khuôn viên UBND xã Tân Bình. Hiện tại, công trình cấp nước đang hoạt động vượt công suất với công suất thực tế là 285 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 409 hộ dân trong khu vực. Do đó, công trình "Nước ngọt vùng biên" sẽ được xây dựng, lắp đặt bổ sung cho công trình cấp nước ấp Tân Thanh nhằm tăng công suất, nâng cao hiệu quả xử lý và đảm bảo cấp nước do các hộ dân trong khu vực.

Qua quá trình khảo sát, nhận thấy có khoảng 50 hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sạch, chủ yếu thuộc ấp Tân Minh. Để đáp ứng nhu cầu dùng nước sạch của các hộ dân, nhất là vào mùa khô, với nguồn vốn tài trợ của Ủy ban mặt trận tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến công trình cấp nước sẽ được nâng cấp, bổ sung một số hạng mục như: bơm định lượng hóa chất, bồn chứa hóa chất 1m3, bơm cấp nước qua lọc, hệ thống lọc khử sắt, hệ thống làm mềm, máy nén khí, xây dựng, gia cố nền móng, hệ thống điện điều khiển, dây điện động lực, máng nhựa, phụ kiện phao báo…. Đồng thời, cần phải mở rộng tuyến ống với tổng chiều dài khoảng 1.000m để đảm bảo cấp nước cho các hộ dân và dễ dàng đấu nối với tuyến ống hiện hữu của các CTCN ấp Tân Đông 2, xã Tân Lập, CTCN ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây và CTCN ấp Tân Thạnh, xã Tân Bình.


 Hình ảnh: Đoàn làm việc khảo sát vị trí xây dựng công trình "Nước ngọt vùng biên".

Cùng ngày, Đoàn đã đến thăm hỏi, động viên và tặng quà cho các chiến sĩ biên phòng đang thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ biên giới và kiểm soát ngăn chặn phòng chống dịch Covid 19 tại các điểm chốt dã chiến trên địa bàn xã Tân Bình, huyện Tân Biên.

Đoàn công tác của UB.MTTQVN TP. Hồ Chí Minh cũng đã trao tặng 60 triệu đồng trích từ Quỹ Cứu trợ TP. Hồ Chí Minh cho 2 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú, xã Tân Bình, huyện Tân Biên; trong đó 30 triệu đồng tiền mặt, còn lại là các nhu yếu phẩm cần thiết cho các chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch trên tuyến biên giới.

 

Hình ảnh: Đoàn làm việc thăm hỏi, động viên và tặng quà cho các chiến sĩ biên phòng tại chốt dã chiến phòng chống dịch Covid 19, 2 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú, xã Tân Bình, huyện Tân Biên.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Tân Bình, bàn biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, đáp ứng chỉ tiêu 17.1  xã xây dựng nông thôn mới năm 2020Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Tân Bình, bàn biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, đáp ứng chỉ tiêu 17.1  xã xây dựng nông thôn mới năm 2020/PublishingImages/2020-07/TTNS_UBND XÃ TÂN BÌNH, TP TÂY NINH.jpg
Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh có 01 công trình cấp nước tập trung do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp quản lý, cấp nước: 220 hộ dân thuộc ấp Tân Trung. Tổng công suất thiết kế công trình cấp nước: 100 m3/ng.đ, công suất hiện tại cấp nước thực tế vận hành: 159 m3/ng.đ;
7/22/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh có 01 công trình cấp nước tập trung do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp quản lý, cấp nước: 220 hộ dân thuộc ấp Tân Trung. Tổng công suất thiết kế công trình cấp nước: 100 m3/ng.đ, công suất hiện tại cấp nước thực tế vận hành:   159 m3/ng.đ;

Tham dự họp có đại diện Lãnh đạo: Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch), UBND xã Tân Bình và Phòng Kinh tế Thành phố Tây Ninh, triển khai nội dung hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 theo Kế hoạch số 70/KH-TTNS, đánh giá thực trạng những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chỉ tiêu 17.1; trao đổi, bàn biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh: 98%; tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch theo QCVN: 02:2009/BYT: 65% và đáp ứng 5 điều kiện hoạt động công trình cấp nước bền vững, đối với xã xây dựng nông thôn mới năm 2020.


Hình ảnh: UBND xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh


Nhằm khắc phục những tồn tại khó khăn trong hoạt động cấp nước, đảm bảo chỉ tiêu 17.1 xã xây dựng nông thôn mới năm 2020. Tháng 5/2020 Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với UBND xã Tân Bình thực hiện một số biện pháp, cụ thể:

 - Mở rộng tuyến ống nước, vận động người dân sử dụng nước mới và những hộ dân trước đây sử dụng nước nay ngưng sử dụng. Đối với những hộ dân sử dụng nước mới và những hộ dân trước đây ngưng sử dụng nay tiếp tục sử dụng nước, Trung tâm Nước sạch gắn đồng hồ nước miễn phí và hỗ trợ một phần kinh phí lắp đặt mới, tạo điều kiện hộ dân được sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước;

- Đối với các hộ dân hiện đang sử dụng chung đồng hồ nước, đề nghị tách riêng đồng hồ nước, tăng số hộ sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước, đảm bảo 5 điều kiện công trình cấp nước bền vững ;

- Các hộ dân nằm ngoài phạm vi cấp nước, chưa có điều kiện sử dụng nước sạch, UBND xã rà soát danh sách các hộ dân thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ hệ thống lọc theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh, nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch trên địa bàn xã;

- Kiểm tra, nhắc nhở các hộ dân hiện đang sử dụng: Giếng đào, giếng khoan, nhà tiêu, chuồng trại chăn nuôi gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác, kịp thời khắc phục các hộ dân thực hiện chưa đúng theo quy định tại Kế hoạch số 70/KH-TTNS ngày 24/02/2020 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông;

Qua buổi làm việc giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Tân Bình và Phòng Kinh tế Thành phố Tây Ninh, đã trao đổi thống nhất biện pháp khắc phục những tồn tại, khó khăn trong thời gian qua. Đặc biệt nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành công trình cấp nước trên địa bàn xã, tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch, đảm bảo 5 điều kiện công trình cấp nước hoạt động bền vững và đáp ứng chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh: 98% và tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch theo QCVN: 02:2009/BYT: 65% theo quy định Bộ Tiêu chí Quốc gia xã xây dựng nông thôn mới./.


Đề xuất Dự án Nước sạch và Vệ sinh nông thôn bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTĐề xuất Dự án Nước sạch và Vệ sinh nông thôn bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người, vừa mang tính xã hội sâu sắc, vừa gắn liền với cuộc sống của mỗi cộng đồng dân cư. Việt Nam cũng luôn thể hiện cam kết mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững tại Quyết định số 622/QĐ-TTg, trong đó, mục tiêu 6.1: Đến năm 2030, đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người.
5/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hành


Nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người, vừa mang tính xã hội sâu sắc, vừa gắn liền với cuộc sống của mỗi cộng đồng dân cư. Việt Nam cũng luôn thể hiện cam kết mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững tại Quyết định số 622/QĐ-TTg, trong đó, mục tiêu 6.1: Đến năm 2030, đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người.

Thời gian qua công tác đảm bảo cấp nước sạch phục vụ cho đời sống, sinh hoạt người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện, với nhiều nỗ lực cố gắng trong việc đầu tư, phát triển các hệ thống cấp nước sạch. Tuy nhiên, do nguồn ngân sách tỉnh còn khó khăn, nguồn kinh phí phân bổ đầu tư công trình cấp nước và vệ sinh còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Tỉnh Tây Ninh đã ban hành các chính sách khuyến khích khối tư nhân tham gia đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn, cụ thể: Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 23/02/2017 của UBND tỉnh quy định mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; Quyết định số 1351/QĐ-UBND ngày 31/5/2016 của UBND tỉnh về Danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Tính đến cuối năm 2019, tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế, theo tính toán đạt 18,91%, trong đó: Tỷ lệ sử dụng nước từ công trình cấp nước nông thôn: 9,80% (khoảng 91.085 người, do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, UBND xã quản lý, cung cấp nước); Tỷ lệ sử dụng nước từ Công ty Cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh cung cấp: 7,58% (khoảng 70.513 người); chính sách hỗ trợ hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh: 1,53% (khoảng 14.242 người).

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 73 công trình cấp nước tập trung, có công suất thiết kế từ 50 m3/ngày.đêm đến trên 500 m3/ngày.đêm, tổng công suất khai thác công trình cấp nước 9.125m3/ngày.đêm, đạt 88,06% công suất thiết kế, phục vụ cung cấp nước 18.642 hộ, đạt 86,25% số hộ thiết kế. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức quản lý vận hành 67/71 công trình, chiếm tỷ lệ 91,78%; UBND các xã quản lý, vận hành 06 công trình, chiếm tỷ lệ 8,22%. Mặc dù số lượng công trình tương đối nhiều, tuy nhiên hầu hết công trình có quy mô nhỏ, phân bổ rộng khắp các địa bàn 09 huyện, thị xã, thành phố.

Tính đến cuối năm 2019, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khoảng 191.648 công trình cấp nước nhỏ lẻ do người dân tự đầu tư và sử dụng, mô hình cấp nước hộ gia đình với các loại hình cấp nước nhỏ lẻ, phân tán (giếng khoan, giếng đào, thống xử lý nước nước hộ gia đình nông thôn) có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, đặc biệt tại khu vực ngoài vùng cấp nước tập trung nông thôn. Việc thực hiện cấp nước quy mô gia đình được UBND tỉnh thực hiện từ các nguồn vốn: Ngân sách tỉnh, Ngân hàng chính sách xã hội. Ngoài ra, trung bình mỗi năm thực hiện khoảng 24 tỷ đồng, trong đó: ngân sách tỉnh hỗ trợ có mục tiêu cho các huyện: 12 tỷ đồng để lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn; nguồn vốn vay ngân hàng chính sách xã hội theo Quyết định số 1205/QĐ-TTg ngày 19/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức vay tín dụng tối đa thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với mức vay vốn tối đa 10 triệu đồng/hộ/công trình. Trong giai đoạn 2018-2020, đã hỗ trợ có mục tiêu cho Ủy ban nhân dân 08 huyện, thị xã 41,18 tỷ đồng/7.503 hệ thống xử lý nước theo chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh:

Công tác cấp nước sạch đô thị có những bước phát triển nhiều so với vùng nông thôn, công trình có quy mô lớn, hiệu quả sử dụng, tính bền vững và tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn. Hiện nay, cấp nước đô thị do Công ty Cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh quản lý, phân phối. Công ty cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh đang quản lý 04 nhà máy nước với công suất từ 6.600 – 28.000 m3/ngày.đêm, tổng công suất thiết kế là 80.600 m3/ngày.đêm, cấp nước cho dân cư thành phố Tây Ninh, thị xã Hòa Thành, thị trấn Châu Thành, thị trấn Bến Cầu, thị trấn Gò Dầu, thị trấn Trảng Bàng và khu vực xã lân cận.

Mặt khác, trong những năm qua, tỉnh Tây Ninh đã có những biểu hiện của biến đổi khí hậu rõ rệt: Nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng lên, lượng mưa vào mùa khô giảm đều qua các tháng, mùa mưa thì ngắn lại, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường (nắng nóng, hạn kéo dài…). Đồng thời mưa lớn, ngập úng cũng xảy ra nhiều hơn, ảnh hưởng môi trường, thiên nhiên nói chung và sự phát triển bền vững. Các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu phải được lồng ghép trong các hoạt động, các chính sách, chiến lược và các quy hoạch phát triển của địa phương, trong đó, việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt cho người dân trên địa bàn nông thôn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Khu vực cấp nước có địa hình tương đối cao, vào mùa khô, mực nước ngầm thường hạ thấp, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của nhân dân tăng, các trạm cấp nước hoạt động vượt công suất. Một số khu vực điển hình ở phía Bắc tỉnh Tây Ninh, gồm 02 huyện Tân Biên và Tân Châu thuộc vùng khan hiếm nước, hệ thống sông suối ít, nhỏ, nước bị nhiễm phèn, đá vôi khá nặng, việc khai thác nước ngầm phục vụ sinh hoạt của người dân tương đối khó khăn, nhân dân sử dụng giếng khoan nhỏ lẻ, chất lượng nước sinh hoạt chưa đảm bảo. Khu vực huyện Châu Thành, Bến Cầu, đặc biệt là các xã khu vực biên giới, có nguồn nước mặt của sông Vàm Cỏ Đông, tuy nhiên chất lượng nguồn nước bị ảnh hưởng do hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, chất thải sinh hoạt.  Mặt khác, trữ lượng nguồn nước ngầm ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, nếu khai thác về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến chất lượng.

Vì vậy, để từng bước giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, khắc phục hiện trạng cấp nước sạch nông thôn hiện nay: Công suất thấp, nhỏ lẻ, manh mún, chưa bao phủ địa bàn các huyện và đáp ứng yêu cầu của nhân dân về đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người, theo đó định hướng đầu tư các công trình cấp nước có quy mô tập trung, liên xã, liên huyện, công suất lớn, công tác quản lý, vận hành phải có nguồn nhân lực đáp ứng chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo cấp nước an toàn để cung cấp nước sạch cho nhân dân. Các công trình cấp nước đặt tại vị trí trung tâm, ngoài việc sử dụng hệ thống tuyến ống cấp nước hiện hữu, cần bổ sung, đầu tư hoàn chỉnh tuyến ống cấp nước lan rộng ra khu vực xung quanh. Đồng thời, việc sử dụng nguồn nước mặt, ổn định về chất lượng và trữ lượng, thay thế nguồn nước ngầm là phù hợp với xu hướng trong giai đoạn hiện nay.

UBND tỉnh Tây Ninh đề xuất nhu cầu vay vốn Ngân hàng Thế giới để bổ sung nguồn kinh phí đầu tư công trình nước sạch nông thôn. Ngân hàng Thế giới là tổ chức tài trợ phát triển lớn nhất trên toàn cầu, có kiến thức và kinh nghiệm sâu sắc trên toàn cầu trong lĩnh vực nước sạch vệ sinh nông thôn và đồng thời trong các hoạt động chống chọi với khí hậu và các hoạt động liên quan tới đầu tư có sự tham gia của khối tư nhân trong đa lĩnh vực. Chương trình Nước sạch và Vệ sinh nông thôn là chương trình do Ngân hàng Thế giới - Wolrd Bank (WB) hỗ trợ từ năm 2013, thực hiện trên phạm vi 8 tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng đã đem lại những thành công đáng kể. Chương trình đã góp phần mang nước sạch đến với khoảng 1 triệu người dân và kinh nghiệm triển khai dự án hợp tác công - tư trong lĩnh vực nước sạch. Để người dân khu vực nông thôn được tiếp cận với nước sạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất WB tiếp tục hỗ trợ Dự án Nước sạch và vệ sinh nông thôn bền vững và chống chịu với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2025 với tổng mức đầu tư của Dự án là 389,5 triệu USD. Ngày 27/11/2019, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội thảo đề xuất Dự án Nước sạch và vệ sinh nông thôn bền vững và chống chịu với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2025 dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp và bà Stefanie Stallmeister – Giám đốc điều hành hoạt động dự án tại Việt Nam.

Nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nước sạch và vệ sinh nông thôn cho khoảng 27.000 hộ, tương đương 101.389 người một cách bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu ở các khu vực nông thôn, giúp Nhân dân tiếp cận, sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế; phấn đấu đến năm 2025 đạt mục tiêu: tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế đạt 72%, UBND tỉnh Tây Ninh đề xuất xây dựng mới 2 hệ thống cấp nước sạch tập trung với công suất cấp nước sạch từ 7.500 đến 11.500 m3/ngày đêm, cụ thể:

Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (06 xã: Mỏ Công, Trà Vong, Tân Phong, Tân Bình, Tân Lập, Thạnh Tây). Công suất dự kiến: từ 8.000 m3/ngày.đêm đến 11.500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khoảng 13.500 hộ với tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng. Nguồn nước thô lấy trực tiếp từ kênh Tân Hưng thuộc hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng.

Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã huyện Châu Thành và Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (10 xã: Ninh Điền, Thành Long, Hòa Thạnh, Hòa Hội, Long Vĩnh thuộc huyện Châu Thành và xã: Long Phước, Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận thuộc huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh). Công suất dự kiến: từ 7.500 m3/ngày.đêm đến 11.500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khoảng 13.500 hộ với tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng. Nguồn nước thô lấy trực tiếp từ sông kênh chính của dự án tưới tiêu phía Tây sông Vàm Cỏ Đông.

Dự kiến, sau khi xây dựng hoàn thành 2 hệ thống cấp nước sạch tập trung, tình hình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn sẽ đạt được một số hiệu quả tích cực, cụ thể như giảm gánh nặng về nước sạch đối với các hộ dân khu vực khó khăn về nguồn nước, biên giới, hộ đồng bào dân tộc thiểu số; chi phí sử dụng nước tại những vùng khan hiếm nước sẽ giảm và góp phần cải thiện điều kiện kinh tế xã hội; làm giảm tình trạng bệnh tật trong khu dân cư, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng dân cư, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội của người dân nông thôn, góp phần nâng cao nếp sống văn hóa, văn minh, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, hạn chế chênh lệch về điều kiện sinh hoạt giữa nông thôn và thành thị. Dự án hoàn thành góp phần khắc phục ô nhiễm môi trường; bảo vệ chất lượng các nguồn nước, đặc biệt là khắc phục được tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, ảnh hưởng đến việc cung cấp nước sạch như quy hoạch hạ tầng nông thôn chưa hoàn thiện và không cụ thể, dân cư thưa thớt, tập trung chủ yếu quanh các tuyến đường giao thông chính, chính vì vậy, chi phí đầu tư xây dựng hệ thống tuyến ống cấp nước gặp nhiều khó khăn, chi phí cao và vướng mặt bằng nhà dân. Đồng thời, quá trình xây dựng nông thôn mới, phát triển hệ thống đường giao thông sẽ gây phá hủy hạ tầng ngành nước và tuyến ống hiện có.


Thay đổi mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao độngNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTThay đổi mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2019/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, thay thế cho Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
4/22/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2019/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, thay thế cho Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định này quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, áp dụng cho người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động và cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động.

Tại khoản 1, Điều 3, Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động tăng từ 150.000 đồng đến 240.000đồng/tháng so với Nghị định số 157/2018/NĐ-CP như sau:


Theo danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/01/2020, các huyện, thành phố thuộc tỉnh Tây Ninh chủ yếu thuộc vùng II và vùng III, cụ thể: Thành phố Tây Ninh và Thị xã Trảng Bàng, Gò Dầu thuộc vùng II. Thị xã Hòa Thành và các huyện còn lại thuộc thuộc vùng III. Như vậy, mức lương của nhân viên quản lý tại các trạm cấp nước tập trung của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tăng từ 180.000 đồng đến 210.000 đồng/người.

Đồng thời, tại khoản 1, Điều 5, Nghị định số 90/2019/NĐ-CP đã nêu rõ từ ngày 01/01/2020 mức lương tối thiểu đối với người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng, cụ thể:


Cụ thể, những người có bằng cấp, chứng chỉ sau đây được xác định là đã qua học nghề, đào tạo nghề:

- Chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học chuyên nghiệp, bằng trung học nghề, bằng cao đẳng, chứng chỉ đại học đại cương, bằng đại học, bằng cử nhân, bằng cao học hoặc bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ theo quy định tại Nghị định 90-CP ngày 24/11/1993;

- Bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ; văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp; văn bằng giáo dục đại học và văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên theo quy định tại Luật Giáo dục 1998 và Luật Giáo dục 2005;

- Chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề quy định tại Luật Dạy nghề;

- Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được cấp theo Luật Việc làm;

- Văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; đào tạo thường xuyên và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp;

- Bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo của giáo dục đại học theo quy định tại Luật Giáo dục đại học;

- Văn bằng, chứng chỉ của cơ sở đào tạo nước ngoài;
Ngoài ra, người đã được doanh nghiệp đào tạo nghề hoặc tự học nghề và được doanh nghiệp kiểm tra, bố trí làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề cũng được xác định là đã qua học nghề, đào tạo nghề.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn khuyến khích, ưu tiên tuyển dụng cho những người có trình độ, đã qua học nghề, đào tạo nghề. Đây là lực lượng lao động đã qua đào tạo, có khả năng tiếp thu nhanh, dễ tiếp thu công việc và có kỹ năng khắc phục sự cố hư hỏng, ứng phó với những vấn đề rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động.

Đồng thời, đầu năm 2020, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành rà soát, xây dựng hợp đồng lao động với nhân viên quản lý tại các trạm cấp nước tập trung, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 90/2019/NĐ-CP. Mặt khác, chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, đảm bảo quyền lợi của người lao động./.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Người lao động trực tiếp quản lý, vận hành  các công trình cấp nướcNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Người lao động trực tiếp quản lý, vận hành  các công trình cấp nước/PublishingImages/2019-09/TTNS_Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019.jpg
Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT.
Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019.
10/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT;

Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019;

          

Toàn cảnh: Cuộc họp triển khai nhiệm vụ năm 2019

             Hiện nay, Trung tâm Nước sạch trực tiếp quản lý 68 công trình cấp nước tập trung trên địa bàn các huyện, thành phố, chủ yếu tại các xã vùng nông thôn, biên giới. Với công suất thiết kế: 8.720 m3/ngày-đêm, cung cấp nước trên: 19.000 tổ chức, hộ dân sử dụng nước. Hoạt động này đã giúp người dân nghèo, đồng bào dân tộc ở vùng nông thôn, biên giới được sử dụng nguồn nước sạch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sức khỏa của người dân; đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông mới, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh. Để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao năm 2019, Trung tâm Nước sạch cần tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ, cụ thể như sau:

          - Nâng cao chất lượng, an toàn đối với các công trình cấp nước đạt tỷ lệ quy chuẩn 02:2009/BYT là: 62,33% toàn tỉnh, các xã nông thôn mới đạt thấp nhất: 65%. Kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1, Tiêu chí 17– Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019;

- Định kỳ 3 tháng tổ chức lấy mẫu xét nghiệm mẫu nước giám sát theo quy định tại các công trình cấp nước và xét nghiệm mẫu nước: 06 xã xây dựng nông thôn mới năm 2019, làm cơ sở nâng cao chất lượng nước nước sạch tại các công trình cấp nước tập trung đạt QCVN 02:2009/BYT;

          - Rà soát giảm số lượng công trình cấp nước yếu kém không bền vững, tăng số lượng công trình cấp nước bền vững. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhắc nhở người lao động công tác quản lý, vận hành, khai thác, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời hư hỏng các công trình cấp nước; giữ gìn bảo vệ tài sản, vệ sinh sạch sẽ;

  - Xây dựng quy chế phối hợp giữa Trung tâm Nước sạch và UBND các xã có công trình cấp nước, giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động cấp nước: Giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản, di dời tuyến ống nước, hỗ trợ cắt nước các hộ dân nợ tiền nước, giới thiệu người địa phương làm việc tại các công trình cấp nước, vận động người dân nâng cao ý thức trách nhiệm sử dụng nước sạch tiết kiệm, đúng mục đích, đóng tiền theo quy định;

          - Xây dựng kế hoạch sử dụng tiết kiệm điện, hạn chế thất thoát nước, triển khai trực tiếp người lao động quản lý, vận hành công trình cấp nước, giảm bơm nước trong giờ cao điểm, đối với công trình cấp nước số lượng người dân sử dụng nước ít giảm giờ bơm nước; sử dụng tiết kiệm điện, giảm tỷ lệ thất thoát nước dưới mức 25%;

          - Thường xuyên kiểm tra: Đường ống nước, đồng hồ nước các hộ dân, khắc phục kịp thời bể đường ống, hạn chế thất thoát nước, trộm nước sau đồng hồ. Rà roát các hộ dân đang sử dụng nước, đồng hồ bị mờ, hư lập danh sách thay mới; hạn chế tối đa thất thoát nước;

          Qua buổi triển khai thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2019, toàn thể viên chức và người lao động, nhận thức vai trò trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ được giao. Đặc biệt quan tâm chỉ đạo công tác quản lý, vận hành, khai thác, duy tu, bảo dưỡng, khắc phục sự cố các công trình cấp nước tập trung, đảm bảo chất lượng nước đạt quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT. Tăng cường phối hợp các cơ quan, đơn vị, UBND xã có công trình cấp nước, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động cấp nước, đáp ứng chỉ tiêu 17.1 xây dựng nông thôn mới và nhu cầu sử dụng nước của người dân trên địa bàn tỉnh, phấn đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu, nhiệm vụ được Sở Nông nghiệp và PTNT giao năm 2019./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Hòa Thạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, mở rộng tuyến ống nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước người dân trên địa bàn xãNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Hòa Thạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, mở rộng tuyến ống nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước người dân trên địa bàn xã/PublishingImages/2019-09/TTNS_LÀM VIỆC VỚI XÃ HÒA THẠNH.jpg
Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế.
10/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế,

Nhằm khắc phục những tồn tại khó khăn trong hoạt động cấp nước, hạn chế thất thoát nước. Ngày 12/6/2019 và ngày 11/7/2019, Trung tâm Nước sạch phối hợp với UBND xã Hòa Thạnh, tổ chức họp bàn biện pháp tiếp tục duy trì hoạt động tại 02 công trình cấp nước, để việc cung cấp nước sạch đối với các hộ dân trên địa bàn xã mang lại hiệu quả.


Toàn cảnh: Buổi làm việc tại UBND xã Hòa Thạnh

Dự họp có Đại diện Lãnh đạo UBND xã Hòa Thạnh, Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch, Trưởng ấp: Hiệp Phước và Hiệp Bình, người lao động quản lý vận hành 02 công trình cấp nước và các hộ dân đang sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước ấp Hiệp Phước và ấp Hiệp Bình. Trung tâm Nước sạch đã trao đổi tình hình vận hành cấp nước và những tồn tại khó khăn trong thời gian qua, đề xuất giải pháp mở rộng tuyến ống, vận động hộ dân sử dụng nước sạch, tăng doanh thu để tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước; đồng thời giải đáp những ý kiến của người dân. Qua buổi làm việc đã thống nhất giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Hòa Thạnh và các hộ dân đang sử dụng nước, cụ thể:

          * Ý kiến các hộ dân sử dụng nước:

          - Thời gian bơm nước chưa đảm bảo, nếu giảm giờ bơm nước và thời gian xúc phèn đơn vị phải có thông báo cụ thể thời gian để bà con chuẩn bị dụng cụ chứa nước, không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân;

- Giá nước từ 4000 đồng/1m3 nước tăng lên 5.500 đồng/m3 cao, ảnh hưởng đến chi phí của người dân;

- Cung cấp nước thời gian từ 9h-12 nước yếu, thỉnh thoảng nước bị đục, vàng, đề nghị đơn vị xem xét khắc phục cấp nước phải an toàn, sạch, chất lượng;

- Quản lý công trình cấp nước phải thường xuyên có mặt tại công trình cấp nước để kịp thời khắc phục sự cố hư hỏng và tiếp xúc gần gũi tạo mối quan hệ với người dân sử dụng nước;

- Một số đồng hồ nước các hộ dân sử dụng đã lâu, bị mờ, hỏng đề nghị thay mới. Các hộ dân không có nhu cầu sử dụng nước cắt nước từ đường ống chính, hạn chế trộm nước, sử dụng nước phải đóng tiền, đảm bảo công bằng.

* Ý kiến của Lãnh đạo UBND xã Hòa Thạnh:

- Số lượng các hộ dân hiện đang sinh sống tại ấp Hiệp Phước và ấp Hiệp Bình ít, đa số dân nghèo, người dân tộc, thu nhập thấp, không ổn định; do vậy thời gian tới Trung tâm Nước sạch cần phối hợp với UBND xã tuyên truyền vận động người dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch;

- Thông báo thời gian vận hành bơm nước, thời gian xúc phèn dán trước công trình cấp nước và UBND xã, ấp để bà con được biết và chủ động dụng cụ chứa nước không ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Làm bảng ghi số điện thoại của Quản lý công trình cấp nước để người dân tiện liên hệ;

- Khảo sát thực tế các hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sạch, mở rộng tuyến ống mới, tăng hộ dân sử dụng nước sạch, có kinh phí tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu 17.1 về nước sạch đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới;

* Ý kiến kết luận của Trung tâm Nước sạch:

- UBND xã Hòa Thạnh, Trưởng 02 ấp: Hiệp Bình, Hiệp Phước tuyên truyền vận động người dân sử dụng nước sạch, ký hợp đồng sử dụng nước, bảo quản đồng hồ nước, không tự ý phá đồng hồ nước;

          - Tiến hành khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng nước của người dân, lập danh sách ký tên đồng ý sử dụng nước, xây dựng dự toán chi phí lắp đặt và trao đổi thống nhất các hộ dân;

          - Thông báo thời gian vận hành bơm nước và thời gian xúc phèn để người dân được biết và chủ động dụng cụ chứa nước, khắc phục tình trạng nước bị vàng (trong thời gian xúc phèn), đảm bảo chất lượng nước các hộ dân sử dụng nước theo quy định;

          - Kiểm tra trực tiếp các hộ dân đang sử dụng nước đồng hồ bị mờ, hư lập danh sách thay mới. Đối với những hộ không còn sử dụng nước tiến hành cắt nước từ đường ống chính, hạn chế thất thoát nước, trộm nước sau đồng hồ;

          - Giải đáp ý kiến thắc mắc các hộ dân giá nước từ 4000 đồng tăng lên 5.500 đồng và chính sách hỗ trợ giá nước của UBND tỉnh, Trung tâm Nước sạch đã có thông báo gửi UBND các xã có công trình cấp nước và người lao động quản lý vận hành công trình cấp nước thông báo trực tiếp đến người dân sử dụng nước.

          Qua buổi làm việc giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Hòa Thạnh và các hộ dân sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước, đã trao đổi giải quyết những tồn tại, khó khăn trong thời gian qua. Đặc biệt biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, khai thác công trình cấp nước trên địa bàn xã, nhằm duy trì hoạt động cấp nước, nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người dân xã biên giới. Tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch, đảm bảo số lượng và chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu xã xây dựng nông thôn mới năm 2020 về chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định. Đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh trong việc xây dựng nông mới trên địa bàn tỉnh./.

GIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚCNước sạch nông thônBài viếtGIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚC/PublishingImages/2019-09/TTNS_GIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚC.jpg
Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.
9/30/2019 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.

 

Toàn cảnh buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay

Nhằm hỗ trợ và mang lại tiện ích cho khách hàng trong việc thanh toán tiền nước hàng tháng, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã liên kết với Viettel Tây Ninh tiến hành triển khai thử nghiệm hình thức hỗ trợ thanh toán tiền nước bằng dịch vụ ViettelPay. Theo đó, các khách hàng đang sử dụng nước của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn có thể tiến hành thanh toán tiền nước hàng tháng tại các cửa hàng giao dịch của Viettel trên toàn tỉnh.

Ngoài ra, khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ ViettelPay của Viettel còn có thể thanh toán tiền nước qua điện thoại di động tại bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào, không giới hạn dòng điện thoại di động (ứng dụng ViettelPay trên Smartphone và USSD trên các dòng máy điện thoại bàn phím không cần internet),  không cần tài khoản ngân hàng….Giao dịch được thực hiện an toàn tuyệt đối ở bất cứ nơi nào có sóng Viettel với chính sách bảo mật 2 lớp gồm mã PIN và mã xác thực giao dịch dùng 1 lần (OTP).

Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.

 

Thanh toán tiền nước qua ứng dụng ViettelPay trên Smartphone

Kết thúc buổi giới thiệu dịch vụ mới, Lãnh đạo hai đơn vị thống nhất tiếp tục nỗ lực, sáng tạo để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, an toàn và tiết kiệm nhất.


1 - 30Next