Nước sạch Nông thôn
 
Ngày 10 tháng 12 năm 2015 Ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 về việc ban hành biểu mức thuế suất thuế tài nguyên. Trong đó, Nghị quyết thông qua 2 biểu mức thuế suất: Biểu mức thuế suất đối với các loại tài nguyên, trừ dầu thô và khí thiên nhiên, khí than; Biểu mức thuế suất đối với dầu thô và khí tự nhiên, khí than.Đối với biểu mức thuế đối với dầu thô và khí tự ...
 
          Ngày 22/9/2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Nghị quyết số 26/2016/NQ-HĐND về mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trong đó, thống nhất thông qua mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.          Đối với ...
 
          Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý (theo thống kê của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường)          Trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và ...
 
Ngày 08 tháng 7 năm 2016, Khối thi đua các đơn vị sự nghiệp, tổ chức họp sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm, phương hướng nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2016, tại Ban Quản lý dự án Đầu tư và Xây dựng ngành Nông nghiệp và PTNT;Đến dự Hội nghị có đại diện Lãnh đạo phòng Tổ chức cán bộ Sở, Lãnh đạo các đơn vị trong Khối thi đua, gồm có 06 đơn vị: Ban quản lý Dự án Đầu tư và Xây ...
 
Ngày  01/7/2016 Khối thi đua các Sở Nông nghiệp và PTNT vùng Đông Nam bộ (gọi tắt là Khối thi đua vùng Đông Nam bộ) tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm 2016, phương hướng, nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng cuối năm 2016, tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tây Ninh;Đến dự hội nghị có đại diện Lãnh đạo Sở, Văn phòng, phòng Tổ chức cán bộ các Sở Nông ...
 
          Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (gọi tắt Trung tâm Nước sạch) thành lập đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2011 theo Quyết định số 1226/QĐ-UBND, ngày 17 tháng 6 năm 2011 của UBND tỉnh Tây Ninh, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên phạm vi toàn ...
 
Ngày 29/4/2016, Bộ Tài Nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi (QCVN 62-MT:2016/BTNMT). Trong đó, các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động chăn nuôi xả nước thải ra nguồn tiếp nhận phải đạt các tiêu chí theo quy định. Tổng lượng nước thải có 2 mức khác nhau: lớn hơn hoặc bằng 5 m3/ngày; nhỏ hơn 5 ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Khắc phục các sự cố, giải quyết các vấn đề kiến nghị cử tri  sau kỳ họp thứ 17 HĐND tỉnhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKhắc phục các sự cố, giải quyết các vấn đề kiến nghị cử tri  sau kỳ họp thứ 17 HĐND tỉnh/PublishingImages/2020-11/TTNS_CTCN Ninh Hưng 2.jpg
Thời gian gần đây, cử tri ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng kiến nghị: "Trạm cấp nước sạch tại văn phòng ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng bị nhiễm phèn và không đủ lượng nước cung cấp cho người dân. Kiến nghị ngành chức năng khảo sát, tiến hành sửa chữa, khắc phục và có kế hoạch nâng cấp để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho người dân sử dụng."
11/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Thời gian gần đây, cử tri ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng kiến nghị: "Trạm cấp nước sạch tại văn phòng ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng bị nhiễm phèn và không đủ lượng nước cung cấp cho người dân. Kiến nghị ngành chức năng khảo sát, tiến hành sửa chữa, khắc phục và có kế hoạch nâng cấp để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho người dân sử dụng."

Tương tự, cử tri xã Chà Là, huyện Dương Minh Châu cũng kiến nghị: "Hiện nay, hệ thống lọc nước của trạm cấp nước sạch sau UBND xã Chà Là có rất nhiều rong, rêu bám vào gây mất vệ sinh nguồn nước. Đề nghị ngành chức năng xem xét, xử lý khắc phục."

Tiếp nhận ý kiến cử tri, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành khảo sát, kiểm tra toàn bộ công trình để nhanh chóng có cơ sở trả lời kiến nghị cử tri và khắc phục những vấn đề còn tồn đọng.

Công trình cấp nước ấp Phước Hưng được đầu tư xây dựng năm 2017 và đưa vào hoạt động năm 2018, khai thác nguồn nước ngầm để xử lý và cấp nước cho các hộ dân. Công trình có công suất thiết kế 50 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 180 hộ. Hiện tại, công trình đang hoạt động với công suất thực tế là 59 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 173 hộ dân. Đặc thù đây là khu vực có nguồn nước ngầm bị nhiễm phèn nặng nhất trên địa bàn tỉnh.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành đầu tư, nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước; lắp đặt thêm bồn chứa, hệ thống giàn mưa, tính toán lượng hóa chất sử dụng để nâng công suất và tăng hiệu quả xử lý. Hiện tại, công trình cấp nước ấp Phước Hưng đã hoạt động ổn định, đảm bảo cấp nước đầy đủ, ổn định cho các hộ dân và chất lượng nước đầu ra theo QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Trong quá trình hoạt động, vận hành, định kỳ 3 tháng/lần, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiến hành lấy mẫu, kiểm nghiệm chất lượng nước sạch đầu ra tại trạm cấp nước đảm bảo đạt theo QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đề nghị hộ dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch, thường xuyên kiểm tra, vệ sinh bồn chứa, bể chứa và các thiết bị lưu trữ, sử dụng nước trong gia đình, đảm bảo chất lượng nước sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày.

Đồng thời, sau khi hệ thống cấp nước đô thị Mộc Bài thuộc dự án Phát triển các Đô thị hành lang Tiều vùng song Mekong mở rộng tỉnh Tây Ninh hoàn thiện và đưa vào sử dụng, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiến hành đấu nối tuyến ống hiện hữu, bàn giao các hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước ấp Phước Hưng để đảm bảo nhu cầu sử dụng, chất lượng nguồn nước sinh hoạt, đảm bảo sức khỏe, đời sống và an sinh xã hội.

Đối với công trình cấp nước ấp Ninh Hưng 2, xã Chà là, huyện Dương Minh Châu, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành dọn dẹp vệ sinh khuôn viên trạm, xử lý rong, rêu, đảm bảo vệ sinh nguồn nước.

Hình ảnh: Công trình cấp nước ấp Ninh Hưng 2, xã Chà là, huyện Dương Minh Châu

Đồng thời, nhân viên vận hành, quản lý công trình cấp nước thường xuyên kiểm tra công tác vệ sinh, súc rửa thiết bị, bể chứa, hệ thống đường ống, đảm bảo công trình hoạt động ổn định, cấp nước đầy đủ cho các hộ dân và chất lượng nước đảm bảo đạt QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Tổng kết chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia  về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTổng kết chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia  về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Hiện nay, công tác quản lý, vận hành và khai thác công trình cấp nước tập trung nông thôn theo 02 mô hình cấp nước, gồm: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (UBND xã quản lý 06/76 công trình).
11/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành
Tây Ninh là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tọa độ địa lý từ 10057’08’’ đến 11046’36’’ vĩ độ Bắc và từ 105048’43" đến 106022’48’’ kinh độ Đông; diện tích tự nhiên là 4.032,25 km2; phía Bắc và phía Tây giáp 3 tỉnh Svay Riêng, SrâyVêng và Tboung Khmum của Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài 240 km; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước; phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Long An và Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh thực hiện 56.371 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp - xây dựng đóng góp 5,6 điểm phần trăm; dịch vụ 2,1 điểm phần trăm; nông - lâm - thủy sản 0,1 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 0,6 điểm phần trăm. GRDP bình quân đầu người đạt 2.940 USD. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng; dịch vụ; nông - lâm - thủy sản (chưa tính thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm) trong GRDP theo giá hiện hành: 41% - 33% -21%.
Hiện nay, công tác quản lý, vận hành và khai thác công trình cấp nước tập trung nông thôn theo 02 mô hình cấp nước, gồm: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (UBND xã quản lý 06/76 công trình). Đa số công trình cấp nước tập trung nông thôn có công nghệ xử lý nước đơn giản, quy mô, công suất nhỏ, công suất thiết kế từ 50 đến 500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khu vực dân cư tập trung từ 50-500 hộ dân, tổng công suất hoạt động đạt 79,74% công suất thiết kế (8.602/10.787 m3/ngày.đêm), tổng số hộ sử dụng nước: đạt 92,86% số hộ thiết kế (18.442/19.859 hộ), với tổng chiều dài tuyến ống cấp nước khoảng 540km.
Việc thụ hưởng chính sách từ chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã giúp hộ gia đình nông thôn tiếp cận nguồn vốn vay và chủ động trong việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các mô hình cấp nước sạch hộ gia đình, công trình hố xí, bể biogaz, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ngoài ra, tất cả trường học và trạm y  tế trên địa bàn nông thôn của tỉnh đều có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh.
Để giúp Nhân dân tiếp cận và thụ hưởng chính sách từ chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg, Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, Quyết định số 1205/QĐ-TTg, UBND tỉnh Tây Ninh đã tham mưu HĐND tỉnh Tây Ninh ban hành Nghị quyết số 38/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 và cụ thể hóa bằng Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
Từ năm 2007 - 2020 ngân sách tỉnh, huyện ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội là 153,129 tỷ đồng (ngân sách tỉnh 131,83 tỷ đồng; ngân sách huyện, thành phố 21,299 tỷ đồng) để cho vay giải quyết cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với 139.970 hộ gia đình (xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp được 130.850 công trình nước sạch và 127.367 công trình vệ sinh), như sau:
- Doanh số cho vay (từ năm 2005 đến năm 2019) đạt 1.470.376 triệu đồng, với 139.970 khách hàng được vay vốn;
- Doanh số thu nợ (từ năm 2005 đến năm 2019) đạt 722.526 triệu đồng, với 73.153 khách hàng trả tất nợ;
- Dư nợ đến năm 2019 đạt 747.850 triệu đồng, với 66.817 khách hàng còn dư nợ. Trong đó, nợ quá hạn: 2.021 triệu đồng, chiếm 0,27%; nợ khoanh: 219 triệu đồng, chiếm 0,03% trong tổng dư nợ chương trình tín dụng.
UBND tỉnh đã hỗ trợ có mục tiêu cho UBND 08 huyện, thị xã giai đoạn 2018-2020: 41,18 tỷ đồng/7.503 hệ thống xử lý nước theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND, cụ thể:
- Năm 2018: 8,32 tỷ đồng/1.415 hệ thống xử lý nước;
- Năm 2019: 12,19 tỷ đồng/2.100 hệ thống xử lý nước; 
- Năm 2020 (dự kiến): 20,67 tỷ đồng/3.988 hệ thống xử lý nước.
Tỷ lệ số dân nông thôn tiếp cận sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 98,84% (919.743/930.516 người), trong đó tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT là 59% (549.011/930.516 người; riêng số dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT từ công trình cấp nước tập trung nông thôn; các trạm cấp nước, nhà máy nước của Công ty Cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh và chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh là 18,91% (tương đương 175.840 người). 
+ Tỷ lệ hộ gia đình dân nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh là 93,61% (226.813/242.289 hộ); Tỷ lệ hộ nghèo có nhà tiêu hợp vệ sinh là 85,01% (4.124/4.581 hộ);
+ Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn chăn nuôi có chuồng trại, gia súc hợp vệ sinh là 92,21% (24.577/26.653 hộ);
+ Tỷ lệ trường học có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 100% (487/487 trường học) và tỷ lệ trạm y tế có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 100% (81/81 trạm y tế);
Chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống và vệ sinh môi trường nông thôn cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Người dân vay vốn chương trình tín dụng được ưu đãi về lãi suất, thủ tục cho vay đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi, không mất chi phí đi lại, giải ngân tại điểm giao dịch xã; công tác bình xét cho vay đảm bảo dân chủ, minh bạch và đúng đối tượng;
Các cấp ủy, chính quyền đại phương: luôn quan tâm, chỉ đạo các Sở, ban ngành, chính quyền địa phương phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh, cấp huyện triển khai chương trình tín dụng trên địa bàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn; kiểm tra, giám sát các Hội, đoàn thể nhận ủy thác, Ngân hàng Chính sách Xã hội, đảm bảo hộ gia đình vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, phát huy hiệu quả.
Tuy nhiên, Chương trình tín dụng sẽ kết thúc vào năm 2020, do đó những hộ gia đình chưa có nước sạch hoặc đã có nguồn nước nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh, công trình nước sạch đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp sẽ không đảm bảo được sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trường và không tiếp cận với nguồn vốn vay của chương trình. Mặt khác, mức cho vay tối đa đối với 01 công trình là10 triệu đồng, trong khi giá cả về nguyên vật liệu, nhân công ngày càng cao. Do đó, chưa đáp ứng những chi phí cần thiết để hộ dân xây dựng công trình đảm bảo chất lượng;
Chương trình tín dụng cũng còn tồn tại một số khó khăn, cụ thể như chưa có chính sách hỗ trợ cho vay đối với đối tượng hộ gia đình chưa có nước sạch hoặc đã có nguồn nước nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh ở khu vực đô thị.
- Tạo điều kiện cho Ngân hàng Chính sách Xã hội huy động các nguồn vốn hợp pháp, bổ sung nguồn vốn để thực hiện cho vay chương trình tín dụng tại nông thôn và khu vực đô thị chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh; tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát hộ gia đình sử dụng vốn vay đúng mục đích, nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng;
- Các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương xác định hộ gia đình có nhu cầu sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường; đồng thời, chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách Xã hội xác định cho vay đúng đối tượng, tổ chức giải ngân kịp thời, thu hồi và xử lý tốt nợ đến hạn.
Để tiếp tục phát huy tốt hiệu quả của chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, góp phần thực hiện các tiêu chí xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu, Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh Tây Ninh đề xuất, kiến nghị như sau:
- Tiếp tục thực hiện chương trình tín dụng để giúp người dân tiếp tục được tiếp cận, thụ hưởng nguồn vốn tín dụng chính sách để vay xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa những công trình cấp nước sạch, công trình vệ sinh, góp phần đạt các tiêu chí xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu;
- Đề xuất bổ sung đối tượng vay vốn là hộ gia đình ở khu vực đô thị chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh; Điều chỉnh tăng mức cho vay tối đa đối với mỗi loại công trình lên 15 triệu đồng/công trình./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.
Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19/PublishingImages/2020-11/TTNS_Trung tâm Nước sạch và VSMTNT.jpg
Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn điều chỉnh giảm giá nước, hỗ trợ các hộ dân nông thôn trong thời điểm dịch bệnh Covid-19
11/11/2020 8:00 AMNoĐã ban hành

Kể từ khi được công bố là "Đại dịch toàn cầu" bởi WHO vào cuối tháng 1/2020, virus corona COVID-19 đã có tác động không nhỏ đến nền kinh tế và đời sống của người dân trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Là một tỉnh có tuyến biên giới đường bộ với Campuchia, các lực lượng chức năng và các địa phương đã kiểm soát chặt chẽ tuyến biên giới, các đường mòn, lối mở, quản lý người nhập cảnh, việc khai báo y tế và cách ly tập trung được triển khai thực hiện theo quy định. Tuy nhiên, các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa ngưng trệ, người dân khu vực biên giới bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng bởi dịch Covid 19 nên thất nghiệp tạm thời, không có thu nhập, kinh tế khó khăn. Vì vậy, việc hỗ trợ cho đời sống nhân dân  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là thực sự cần thiết.

Các hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành chủ yếu sống ở khu vực nông thôn, biên giới. Chính vì vậy, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã xây dựng phương án giảm giá nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, nhằm hỗ trợ, góp phần giảm bớt khó khăn, gánh nặng về kinh tế.

 

                    Hình 1.  Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn                                       Hình 2. CTCN Ngã ba Bổ Túc

         

Giá tiêu thụ nước sạch bình quân được Sở Tài chính thẩm định trình UBND tỉnh tại Tờ trình số 31/STC-QLGCS ngày 28/02/2019 là 9.445 đồng/m³. Tuy nhiên, để cho các hộ dân có điều kiện tiếp cận nước sạch, UBND tỉnh đã quy định giá nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn của các hộ dân cư tại Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND là 5.500 đồng/m³. Đối với các đối tượng sử dụng nước khác, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quy định giá nước sạch tại Quyết định số 211/QĐ-TTNS, cụ thể: đơn vị sự nghiệp là 9.500 đồng/m3; hoạt động sản xuất vật chất là 10.000 đồng/m3 và kinh doanh dịch vụ là 12.500 đồng/m3.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn dự kiến điều chỉnh giảm giá nước sạch cho các đối tượng sử dụng nước tại nông thôn như sau:



STT

Đối tượng sử dụng nướcGiá nước
trước khi điều chỉnh
Giá nước
sau khi điều chỉnh
Tỷ lệ giảm giá nước
(1)(2)(3)(4)(5)
1Giá nước sạch sinh hoạt
 khu vực nông thôn của các hộ dân cư
5.5005.1007,3%
2Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp9.5009.5000%
3Hoạt động sản xuất vật chất10.0009.5005%
4Kinh doanh dịch vụ12.5009.50024%

Đơn giá nước sau khi điều chỉnh được áp dụng từ ngày 01/8/2020 đến ngày 01/02/2021. Thời điểm giảm giá nước và giảm tiền nước được xác định theo kỳ ghi chỉ số của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, tương ứng với 06 kỳ hóa đơn tiền nước các tháng 9, 10, 11, 12/2020 và 1, 2/2021.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn mong muốn có thể chia sẻ bớt gánh nặng kinh tế trong thời điểm dịch bệnh, góp phần hỗ trợ người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh và thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với đời sống nhân dân, làm nhân dân tin tưởng các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh và địa phương, không ngừng đóng góp công sức để chống lại dịch bệnh và xây dựng xã hội ngày càng phát triển, văn minh, hiện đại hơn./.

Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.Hồ Chí Minh trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” năm 2020 cho dân – quân khu vực biên giới xã Tân Bình, huyện Tân BiênNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTUỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.Hồ Chí Minh trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” năm 2020 cho dân – quân khu vực biên giới xã Tân Bình, huyện Tân Biên/PublishingImages/2020-11/TTNS_BV Nuoc ngot vung bien -1_Key_06112020093127.jpg
Ngày 11/9/2020, Đoàn công tác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UB.MTTQVN) TP. Hồ Chí Minh do ông Ngô Quốc Phong làm trưởng đoàn đã đến trao tặng công trình “Nước ngọt vùng biên” trị giá 500 triệu đồng cho quân - dân xã Tân Bình, huyện Tân Biên. Đây là công trình cấp nước thứ 3 TP. Hồ Chí Minh tặng cho quân dân vùng biên giới Tây Ninh trong 3 năm trở lại đây được trích từ Quỹ  “Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc” TP. Hồ Chí Minh.
11/11/2020 8:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 11/9/2020, Đoàn công tác Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UB.MTTQVN) TP. Hồ Chí Minh do ông Ngô Quốc Phong làm trưởng đoàn đã đến trao tặng công trình "Nước ngọt vùng biên" trị giá 500 triệu đồng cho quân - dân xã Tân Bình, huyện Tân Biên. Đây là công trình cấp nước thứ 3 TP. Hồ Chí Minh tặng cho quân dân vùng biên giới Tây Ninh trong 3 năm trở lại đây được trích từ Quỹ  "Vì biển đảo quê hương - Vì tuyến đầu Tổ quốc" TP. Hồ Chí Minh.

Nguồn kinh phí hỗ trợ xây dựng công trình cấp nước này góp phần cung cấp nước sạch cho các hộ dân, cán bộ, chiến sĩ biên phòng tại 2 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú, xã Tân Bình, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng, nâng cao nhận thức sử dụng nước sạch của người dân vùng biên giới, đồng bào dân tộc và đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng vùng biên giới.


Hình ảnh. Ông Ngô Thanh Sơn - Phó Chủ tịch UB.MTTQVN TP.Hồ Chí Minh trao tặng bảng tượng trưng công trình "Nước ngọt vùng biên" cho ông Nguyễn Văn Hợp - Trưởng ban Dân vận Tỉnh uỷ, Chủ tịch  UB.MTTQVN tỉnh Tây Ninh.

Trên địa bàn xã Tân Bình, huyện Tân Biên có 03 công trình cấp nước, trong đó, công trình cấp nước ấp Tân Thanh do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, khai thác được đầu tư, xây dựng năm 2011 và đưa vào hoạt động năm 2012 với công suất thiết kế: 200 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 400 hộ. Khu vực nhà trạm công trình cấp nước nằm trong khuôn viên UBND xã Tân Bình. Hiện tại, công trình cấp nước đang hoạt động vượt công suất với công suất thực tế là 285 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 409 hộ dân trong khu vực. Do đó, công trình "Nước ngọt vùng biên" sẽ được xây dựng, lắp đặt bổ sung cho công trình cấp nước ấp Tân Thanh nhằm tăng công suất, nâng cao hiệu quả xử lý và đảm bảo cấp nước do các hộ dân trong khu vực.

Qua quá trình khảo sát, nhận thấy có khoảng 50 hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sạch, chủ yếu thuộc ấp Tân Minh. Để đáp ứng nhu cầu dùng nước sạch của các hộ dân, nhất là vào mùa khô, với nguồn vốn tài trợ của Ủy ban mặt trận tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến công trình cấp nước sẽ được nâng cấp, bổ sung một số hạng mục như: bơm định lượng hóa chất, bồn chứa hóa chất 1m3, bơm cấp nước qua lọc, hệ thống lọc khử sắt, hệ thống làm mềm, máy nén khí, xây dựng, gia cố nền móng, hệ thống điện điều khiển, dây điện động lực, máng nhựa, phụ kiện phao báo…. Đồng thời, cần phải mở rộng tuyến ống với tổng chiều dài khoảng 1.000m để đảm bảo cấp nước cho các hộ dân và dễ dàng đấu nối với tuyến ống hiện hữu của các CTCN ấp Tân Đông 2, xã Tân Lập, CTCN ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tây và CTCN ấp Tân Thạnh, xã Tân Bình.


 Hình ảnh: Đoàn làm việc khảo sát vị trí xây dựng công trình "Nước ngọt vùng biên".

Cùng ngày, Đoàn đã đến thăm hỏi, động viên và tặng quà cho các chiến sĩ biên phòng đang thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ biên giới và kiểm soát ngăn chặn phòng chống dịch Covid 19 tại các điểm chốt dã chiến trên địa bàn xã Tân Bình, huyện Tân Biên.

Đoàn công tác của UB.MTTQVN TP. Hồ Chí Minh cũng đã trao tặng 60 triệu đồng trích từ Quỹ Cứu trợ TP. Hồ Chí Minh cho 2 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú, xã Tân Bình, huyện Tân Biên; trong đó 30 triệu đồng tiền mặt, còn lại là các nhu yếu phẩm cần thiết cho các chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch trên tuyến biên giới.

 

Hình ảnh: Đoàn làm việc thăm hỏi, động viên và tặng quà cho các chiến sĩ biên phòng tại chốt dã chiến phòng chống dịch Covid 19, 2 Đồn Biên phòng Tân Bình và Tân Phú, xã Tân Bình, huyện Tân Biên.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Tân Bình, bàn biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, đáp ứng chỉ tiêu 17.1  xã xây dựng nông thôn mới năm 2020Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Tân Bình, bàn biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, đáp ứng chỉ tiêu 17.1  xã xây dựng nông thôn mới năm 2020/PublishingImages/2020-07/TTNS_UBND XÃ TÂN BÌNH, TP TÂY NINH.jpg
Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh có 01 công trình cấp nước tập trung do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp quản lý, cấp nước: 220 hộ dân thuộc ấp Tân Trung. Tổng công suất thiết kế công trình cấp nước: 100 m3/ng.đ, công suất hiện tại cấp nước thực tế vận hành: 159 m3/ng.đ;
7/22/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh có 01 công trình cấp nước tập trung do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp quản lý, cấp nước: 220 hộ dân thuộc ấp Tân Trung. Tổng công suất thiết kế công trình cấp nước: 100 m3/ng.đ, công suất hiện tại cấp nước thực tế vận hành:   159 m3/ng.đ;

Tham dự họp có đại diện Lãnh đạo: Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch), UBND xã Tân Bình và Phòng Kinh tế Thành phố Tây Ninh, triển khai nội dung hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1 theo Kế hoạch số 70/KH-TTNS, đánh giá thực trạng những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chỉ tiêu 17.1; trao đổi, bàn biện pháp nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh: 98%; tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch theo QCVN: 02:2009/BYT: 65% và đáp ứng 5 điều kiện hoạt động công trình cấp nước bền vững, đối với xã xây dựng nông thôn mới năm 2020.


Hình ảnh: UBND xã Tân Bình, Thành phố Tây Ninh


Nhằm khắc phục những tồn tại khó khăn trong hoạt động cấp nước, đảm bảo chỉ tiêu 17.1 xã xây dựng nông thôn mới năm 2020. Tháng 5/2020 Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp với UBND xã Tân Bình thực hiện một số biện pháp, cụ thể:

 - Mở rộng tuyến ống nước, vận động người dân sử dụng nước mới và những hộ dân trước đây sử dụng nước nay ngưng sử dụng. Đối với những hộ dân sử dụng nước mới và những hộ dân trước đây ngưng sử dụng nay tiếp tục sử dụng nước, Trung tâm Nước sạch gắn đồng hồ nước miễn phí và hỗ trợ một phần kinh phí lắp đặt mới, tạo điều kiện hộ dân được sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước;

- Đối với các hộ dân hiện đang sử dụng chung đồng hồ nước, đề nghị tách riêng đồng hồ nước, tăng số hộ sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước, đảm bảo 5 điều kiện công trình cấp nước bền vững ;

- Các hộ dân nằm ngoài phạm vi cấp nước, chưa có điều kiện sử dụng nước sạch, UBND xã rà soát danh sách các hộ dân thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ hệ thống lọc theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh, nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch trên địa bàn xã;

- Kiểm tra, nhắc nhở các hộ dân hiện đang sử dụng: Giếng đào, giếng khoan, nhà tiêu, chuồng trại chăn nuôi gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác, kịp thời khắc phục các hộ dân thực hiện chưa đúng theo quy định tại Kế hoạch số 70/KH-TTNS ngày 24/02/2020 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông;

Qua buổi làm việc giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Tân Bình và Phòng Kinh tế Thành phố Tây Ninh, đã trao đổi thống nhất biện pháp khắc phục những tồn tại, khó khăn trong thời gian qua. Đặc biệt nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành công trình cấp nước trên địa bàn xã, tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch, đảm bảo 5 điều kiện công trình cấp nước hoạt động bền vững và đáp ứng chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh: 98% và tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch theo QCVN: 02:2009/BYT: 65% theo quy định Bộ Tiêu chí Quốc gia xã xây dựng nông thôn mới./.


Đề xuất Dự án Nước sạch và Vệ sinh nông thôn bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTĐề xuất Dự án Nước sạch và Vệ sinh nông thôn bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người, vừa mang tính xã hội sâu sắc, vừa gắn liền với cuộc sống của mỗi cộng đồng dân cư. Việt Nam cũng luôn thể hiện cam kết mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững tại Quyết định số 622/QĐ-TTg, trong đó, mục tiêu 6.1: Đến năm 2030, đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người.
5/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hành


Nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người, vừa mang tính xã hội sâu sắc, vừa gắn liền với cuộc sống của mỗi cộng đồng dân cư. Việt Nam cũng luôn thể hiện cam kết mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu theo Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững tại Quyết định số 622/QĐ-TTg, trong đó, mục tiêu 6.1: Đến năm 2030, đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người.

Thời gian qua công tác đảm bảo cấp nước sạch phục vụ cho đời sống, sinh hoạt người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã được các cấp, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện, với nhiều nỗ lực cố gắng trong việc đầu tư, phát triển các hệ thống cấp nước sạch. Tuy nhiên, do nguồn ngân sách tỉnh còn khó khăn, nguồn kinh phí phân bổ đầu tư công trình cấp nước và vệ sinh còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Tỉnh Tây Ninh đã ban hành các chính sách khuyến khích khối tư nhân tham gia đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn, cụ thể: Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 23/02/2017 của UBND tỉnh quy định mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; Quyết định số 1351/QĐ-UBND ngày 31/5/2016 của UBND tỉnh về Danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Tính đến cuối năm 2019, tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế, theo tính toán đạt 18,91%, trong đó: Tỷ lệ sử dụng nước từ công trình cấp nước nông thôn: 9,80% (khoảng 91.085 người, do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, UBND xã quản lý, cung cấp nước); Tỷ lệ sử dụng nước từ Công ty Cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh cung cấp: 7,58% (khoảng 70.513 người); chính sách hỗ trợ hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh: 1,53% (khoảng 14.242 người).

Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 73 công trình cấp nước tập trung, có công suất thiết kế từ 50 m3/ngày.đêm đến trên 500 m3/ngày.đêm, tổng công suất khai thác công trình cấp nước 9.125m3/ngày.đêm, đạt 88,06% công suất thiết kế, phục vụ cung cấp nước 18.642 hộ, đạt 86,25% số hộ thiết kế. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức quản lý vận hành 67/71 công trình, chiếm tỷ lệ 91,78%; UBND các xã quản lý, vận hành 06 công trình, chiếm tỷ lệ 8,22%. Mặc dù số lượng công trình tương đối nhiều, tuy nhiên hầu hết công trình có quy mô nhỏ, phân bổ rộng khắp các địa bàn 09 huyện, thị xã, thành phố.

Tính đến cuối năm 2019, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khoảng 191.648 công trình cấp nước nhỏ lẻ do người dân tự đầu tư và sử dụng, mô hình cấp nước hộ gia đình với các loại hình cấp nước nhỏ lẻ, phân tán (giếng khoan, giếng đào, thống xử lý nước nước hộ gia đình nông thôn) có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, đặc biệt tại khu vực ngoài vùng cấp nước tập trung nông thôn. Việc thực hiện cấp nước quy mô gia đình được UBND tỉnh thực hiện từ các nguồn vốn: Ngân sách tỉnh, Ngân hàng chính sách xã hội. Ngoài ra, trung bình mỗi năm thực hiện khoảng 24 tỷ đồng, trong đó: ngân sách tỉnh hỗ trợ có mục tiêu cho các huyện: 12 tỷ đồng để lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn; nguồn vốn vay ngân hàng chính sách xã hội theo Quyết định số 1205/QĐ-TTg ngày 19/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức vay tín dụng tối đa thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với mức vay vốn tối đa 10 triệu đồng/hộ/công trình. Trong giai đoạn 2018-2020, đã hỗ trợ có mục tiêu cho Ủy ban nhân dân 08 huyện, thị xã 41,18 tỷ đồng/7.503 hệ thống xử lý nước theo chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh:

Công tác cấp nước sạch đô thị có những bước phát triển nhiều so với vùng nông thôn, công trình có quy mô lớn, hiệu quả sử dụng, tính bền vững và tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn. Hiện nay, cấp nước đô thị do Công ty Cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh quản lý, phân phối. Công ty cổ phần cấp thoát nước Tây Ninh đang quản lý 04 nhà máy nước với công suất từ 6.600 – 28.000 m3/ngày.đêm, tổng công suất thiết kế là 80.600 m3/ngày.đêm, cấp nước cho dân cư thành phố Tây Ninh, thị xã Hòa Thành, thị trấn Châu Thành, thị trấn Bến Cầu, thị trấn Gò Dầu, thị trấn Trảng Bàng và khu vực xã lân cận.

Mặt khác, trong những năm qua, tỉnh Tây Ninh đã có những biểu hiện của biến đổi khí hậu rõ rệt: Nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng lên, lượng mưa vào mùa khô giảm đều qua các tháng, mùa mưa thì ngắn lại, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, bất thường (nắng nóng, hạn kéo dài…). Đồng thời mưa lớn, ngập úng cũng xảy ra nhiều hơn, ảnh hưởng môi trường, thiên nhiên nói chung và sự phát triển bền vững. Các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu phải được lồng ghép trong các hoạt động, các chính sách, chiến lược và các quy hoạch phát triển của địa phương, trong đó, việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt cho người dân trên địa bàn nông thôn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Khu vực cấp nước có địa hình tương đối cao, vào mùa khô, mực nước ngầm thường hạ thấp, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của nhân dân tăng, các trạm cấp nước hoạt động vượt công suất. Một số khu vực điển hình ở phía Bắc tỉnh Tây Ninh, gồm 02 huyện Tân Biên và Tân Châu thuộc vùng khan hiếm nước, hệ thống sông suối ít, nhỏ, nước bị nhiễm phèn, đá vôi khá nặng, việc khai thác nước ngầm phục vụ sinh hoạt của người dân tương đối khó khăn, nhân dân sử dụng giếng khoan nhỏ lẻ, chất lượng nước sinh hoạt chưa đảm bảo. Khu vực huyện Châu Thành, Bến Cầu, đặc biệt là các xã khu vực biên giới, có nguồn nước mặt của sông Vàm Cỏ Đông, tuy nhiên chất lượng nguồn nước bị ảnh hưởng do hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, chất thải sinh hoạt.  Mặt khác, trữ lượng nguồn nước ngầm ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, nếu khai thác về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến chất lượng.

Vì vậy, để từng bước giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, khắc phục hiện trạng cấp nước sạch nông thôn hiện nay: Công suất thấp, nhỏ lẻ, manh mún, chưa bao phủ địa bàn các huyện và đáp ứng yêu cầu của nhân dân về đảm bảo khả năng tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt, trong khả năng chi trả cho tất cả mọi người, theo đó định hướng đầu tư các công trình cấp nước có quy mô tập trung, liên xã, liên huyện, công suất lớn, công tác quản lý, vận hành phải có nguồn nhân lực đáp ứng chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo cấp nước an toàn để cung cấp nước sạch cho nhân dân. Các công trình cấp nước đặt tại vị trí trung tâm, ngoài việc sử dụng hệ thống tuyến ống cấp nước hiện hữu, cần bổ sung, đầu tư hoàn chỉnh tuyến ống cấp nước lan rộng ra khu vực xung quanh. Đồng thời, việc sử dụng nguồn nước mặt, ổn định về chất lượng và trữ lượng, thay thế nguồn nước ngầm là phù hợp với xu hướng trong giai đoạn hiện nay.

UBND tỉnh Tây Ninh đề xuất nhu cầu vay vốn Ngân hàng Thế giới để bổ sung nguồn kinh phí đầu tư công trình nước sạch nông thôn. Ngân hàng Thế giới là tổ chức tài trợ phát triển lớn nhất trên toàn cầu, có kiến thức và kinh nghiệm sâu sắc trên toàn cầu trong lĩnh vực nước sạch vệ sinh nông thôn và đồng thời trong các hoạt động chống chọi với khí hậu và các hoạt động liên quan tới đầu tư có sự tham gia của khối tư nhân trong đa lĩnh vực. Chương trình Nước sạch và Vệ sinh nông thôn là chương trình do Ngân hàng Thế giới - Wolrd Bank (WB) hỗ trợ từ năm 2013, thực hiện trên phạm vi 8 tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng đã đem lại những thành công đáng kể. Chương trình đã góp phần mang nước sạch đến với khoảng 1 triệu người dân và kinh nghiệm triển khai dự án hợp tác công - tư trong lĩnh vực nước sạch. Để người dân khu vực nông thôn được tiếp cận với nước sạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất WB tiếp tục hỗ trợ Dự án Nước sạch và vệ sinh nông thôn bền vững và chống chịu với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2025 với tổng mức đầu tư của Dự án là 389,5 triệu USD. Ngày 27/11/2019, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội thảo đề xuất Dự án Nước sạch và vệ sinh nông thôn bền vững và chống chịu với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2025 dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp và bà Stefanie Stallmeister – Giám đốc điều hành hoạt động dự án tại Việt Nam.

Nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nước sạch và vệ sinh nông thôn cho khoảng 27.000 hộ, tương đương 101.389 người một cách bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu ở các khu vực nông thôn, giúp Nhân dân tiếp cận, sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế; phấn đấu đến năm 2025 đạt mục tiêu: tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế đạt 72%, UBND tỉnh Tây Ninh đề xuất xây dựng mới 2 hệ thống cấp nước sạch tập trung với công suất cấp nước sạch từ 7.500 đến 11.500 m3/ngày đêm, cụ thể:

Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (06 xã: Mỏ Công, Trà Vong, Tân Phong, Tân Bình, Tân Lập, Thạnh Tây). Công suất dự kiến: từ 8.000 m3/ngày.đêm đến 11.500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khoảng 13.500 hộ với tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng. Nguồn nước thô lấy trực tiếp từ kênh Tân Hưng thuộc hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng.

Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã huyện Châu Thành và Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (10 xã: Ninh Điền, Thành Long, Hòa Thạnh, Hòa Hội, Long Vĩnh thuộc huyện Châu Thành và xã: Long Phước, Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận thuộc huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh). Công suất dự kiến: từ 7.500 m3/ngày.đêm đến 11.500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khoảng 13.500 hộ với tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng. Nguồn nước thô lấy trực tiếp từ sông kênh chính của dự án tưới tiêu phía Tây sông Vàm Cỏ Đông.

Dự kiến, sau khi xây dựng hoàn thành 2 hệ thống cấp nước sạch tập trung, tình hình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn sẽ đạt được một số hiệu quả tích cực, cụ thể như giảm gánh nặng về nước sạch đối với các hộ dân khu vực khó khăn về nguồn nước, biên giới, hộ đồng bào dân tộc thiểu số; chi phí sử dụng nước tại những vùng khan hiếm nước sẽ giảm và góp phần cải thiện điều kiện kinh tế xã hội; làm giảm tình trạng bệnh tật trong khu dân cư, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng dân cư, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội của người dân nông thôn, góp phần nâng cao nếp sống văn hóa, văn minh, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, hạn chế chênh lệch về điều kiện sinh hoạt giữa nông thôn và thành thị. Dự án hoàn thành góp phần khắc phục ô nhiễm môi trường; bảo vệ chất lượng các nguồn nước, đặc biệt là khắc phục được tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, ảnh hưởng đến việc cung cấp nước sạch như quy hoạch hạ tầng nông thôn chưa hoàn thiện và không cụ thể, dân cư thưa thớt, tập trung chủ yếu quanh các tuyến đường giao thông chính, chính vì vậy, chi phí đầu tư xây dựng hệ thống tuyến ống cấp nước gặp nhiều khó khăn, chi phí cao và vướng mặt bằng nhà dân. Đồng thời, quá trình xây dựng nông thôn mới, phát triển hệ thống đường giao thông sẽ gây phá hủy hạ tầng ngành nước và tuyến ống hiện có.


Thay đổi mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao độngNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTThay đổi mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2019/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, thay thế cho Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
4/22/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 15/11/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2019/NĐ-CP Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, thay thế cho Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định này quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, áp dụng cho người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động và cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động.

Tại khoản 1, Điều 3, Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động tăng từ 150.000 đồng đến 240.000đồng/tháng so với Nghị định số 157/2018/NĐ-CP như sau:


Theo danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/01/2020, các huyện, thành phố thuộc tỉnh Tây Ninh chủ yếu thuộc vùng II và vùng III, cụ thể: Thành phố Tây Ninh và Thị xã Trảng Bàng, Gò Dầu thuộc vùng II. Thị xã Hòa Thành và các huyện còn lại thuộc thuộc vùng III. Như vậy, mức lương của nhân viên quản lý tại các trạm cấp nước tập trung của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tăng từ 180.000 đồng đến 210.000 đồng/người.

Đồng thời, tại khoản 1, Điều 5, Nghị định số 90/2019/NĐ-CP đã nêu rõ từ ngày 01/01/2020 mức lương tối thiểu đối với người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng, cụ thể:


Cụ thể, những người có bằng cấp, chứng chỉ sau đây được xác định là đã qua học nghề, đào tạo nghề:

- Chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học chuyên nghiệp, bằng trung học nghề, bằng cao đẳng, chứng chỉ đại học đại cương, bằng đại học, bằng cử nhân, bằng cao học hoặc bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ theo quy định tại Nghị định 90-CP ngày 24/11/1993;

- Bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ; văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp; văn bằng giáo dục đại học và văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên theo quy định tại Luật Giáo dục 1998 và Luật Giáo dục 2005;

- Chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề quy định tại Luật Dạy nghề;

- Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được cấp theo Luật Việc làm;

- Văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; đào tạo thường xuyên và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp;

- Bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo của giáo dục đại học theo quy định tại Luật Giáo dục đại học;

- Văn bằng, chứng chỉ của cơ sở đào tạo nước ngoài;
Ngoài ra, người đã được doanh nghiệp đào tạo nghề hoặc tự học nghề và được doanh nghiệp kiểm tra, bố trí làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề cũng được xác định là đã qua học nghề, đào tạo nghề.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn khuyến khích, ưu tiên tuyển dụng cho những người có trình độ, đã qua học nghề, đào tạo nghề. Đây là lực lượng lao động đã qua đào tạo, có khả năng tiếp thu nhanh, dễ tiếp thu công việc và có kỹ năng khắc phục sự cố hư hỏng, ứng phó với những vấn đề rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động.

Đồng thời, đầu năm 2020, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã tiến hành rà soát, xây dựng hợp đồng lao động với nhân viên quản lý tại các trạm cấp nước tập trung, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 90/2019/NĐ-CP. Mặt khác, chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Các khoản phụ cấp, bổ sung khác, trợ cấp, tiền thưởng thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, đảm bảo quyền lợi của người lao động./.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Người lao động trực tiếp quản lý, vận hành  các công trình cấp nướcNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Người lao động trực tiếp quản lý, vận hành  các công trình cấp nước/PublishingImages/2019-09/TTNS_Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2019.jpg
Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT.
Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019.
10/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Nhằm tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2019 theo Quyết định số 49/QĐ-SNN ngày 28/01/2019 của Sở Nông nghiệp và PTNT những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm 2019 của ngành Nông nghiệp và PTNT;

Trên cơ sở nhiệm vụ được Sở giao năm 2019, ngày 16/4/2019 và ngày 31/5/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (Trung tâm Nước sạch) tổ chức họp toàn thể viên chức, người lao động trực tiếp quản lý, vận hành các công trình cấp nước tập trung, đánh giá những kết quả đạt được năm 2018, triển khai đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2019;

          

Toàn cảnh: Cuộc họp triển khai nhiệm vụ năm 2019

             Hiện nay, Trung tâm Nước sạch trực tiếp quản lý 68 công trình cấp nước tập trung trên địa bàn các huyện, thành phố, chủ yếu tại các xã vùng nông thôn, biên giới. Với công suất thiết kế: 8.720 m3/ngày-đêm, cung cấp nước trên: 19.000 tổ chức, hộ dân sử dụng nước. Hoạt động này đã giúp người dân nghèo, đồng bào dân tộc ở vùng nông thôn, biên giới được sử dụng nguồn nước sạch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo sức khỏa của người dân; đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông mới, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh. Để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao năm 2019, Trung tâm Nước sạch cần tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ, cụ thể như sau:

          - Nâng cao chất lượng, an toàn đối với các công trình cấp nước đạt tỷ lệ quy chuẩn 02:2009/BYT là: 62,33% toàn tỉnh, các xã nông thôn mới đạt thấp nhất: 65%. Kiểm tra, đánh giá chỉ tiêu 17.1, Tiêu chí 17– Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019;

- Định kỳ 3 tháng tổ chức lấy mẫu xét nghiệm mẫu nước giám sát theo quy định tại các công trình cấp nước và xét nghiệm mẫu nước: 06 xã xây dựng nông thôn mới năm 2019, làm cơ sở nâng cao chất lượng nước nước sạch tại các công trình cấp nước tập trung đạt QCVN 02:2009/BYT;

          - Rà soát giảm số lượng công trình cấp nước yếu kém không bền vững, tăng số lượng công trình cấp nước bền vững. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhắc nhở người lao động công tác quản lý, vận hành, khai thác, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời hư hỏng các công trình cấp nước; giữ gìn bảo vệ tài sản, vệ sinh sạch sẽ;

  - Xây dựng quy chế phối hợp giữa Trung tâm Nước sạch và UBND các xã có công trình cấp nước, giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động cấp nước: Giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ tài sản, di dời tuyến ống nước, hỗ trợ cắt nước các hộ dân nợ tiền nước, giới thiệu người địa phương làm việc tại các công trình cấp nước, vận động người dân nâng cao ý thức trách nhiệm sử dụng nước sạch tiết kiệm, đúng mục đích, đóng tiền theo quy định;

          - Xây dựng kế hoạch sử dụng tiết kiệm điện, hạn chế thất thoát nước, triển khai trực tiếp người lao động quản lý, vận hành công trình cấp nước, giảm bơm nước trong giờ cao điểm, đối với công trình cấp nước số lượng người dân sử dụng nước ít giảm giờ bơm nước; sử dụng tiết kiệm điện, giảm tỷ lệ thất thoát nước dưới mức 25%;

          - Thường xuyên kiểm tra: Đường ống nước, đồng hồ nước các hộ dân, khắc phục kịp thời bể đường ống, hạn chế thất thoát nước, trộm nước sau đồng hồ. Rà roát các hộ dân đang sử dụng nước, đồng hồ bị mờ, hư lập danh sách thay mới; hạn chế tối đa thất thoát nước;

          Qua buổi triển khai thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2019, toàn thể viên chức và người lao động, nhận thức vai trò trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ được giao. Đặc biệt quan tâm chỉ đạo công tác quản lý, vận hành, khai thác, duy tu, bảo dưỡng, khắc phục sự cố các công trình cấp nước tập trung, đảm bảo chất lượng nước đạt quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT. Tăng cường phối hợp các cơ quan, đơn vị, UBND xã có công trình cấp nước, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động cấp nước, đáp ứng chỉ tiêu 17.1 xây dựng nông thôn mới và nhu cầu sử dụng nước của người dân trên địa bàn tỉnh, phấn đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu, nhiệm vụ được Sở Nông nghiệp và PTNT giao năm 2019./.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Hòa Thạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, mở rộng tuyến ống nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước người dân trên địa bàn xãNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp UBND xã Hòa Thạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, mở rộng tuyến ống nước, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước người dân trên địa bàn xã/PublishingImages/2019-09/TTNS_LÀM VIỆC VỚI XÃ HÒA THẠNH.jpg
Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế.
10/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Hiện nay, trên địa bàn xã Hòa Thạnh, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước: ấp Hiệp Bình và ấp Hiệp Phước. Công trình cấp nước ấp Hiệp Bình được xây dựng từ năm 2006, công suất thiết kế 150 m3/ng.đêm, cung cấp nước 73 hộ dân sử dụng nước; công trình cấp nước ấp Hiệp Phước được xây dựng từ năm 2000, công suất thiết kế 120 m3/ng.đêm, cung cấp nước 92 hộ dân sử dụng nước; đến nay đã xuống cấp, số lượng người dân sử dụng từ 02 công trình cấp nước ít, doanh thu tiền nước thấp, không đủ chi phí, nên hoạt động cấp nước chưa mang lại hiệu quả, còn nhiều hạn chế,

Nhằm khắc phục những tồn tại khó khăn trong hoạt động cấp nước, hạn chế thất thoát nước. Ngày 12/6/2019 và ngày 11/7/2019, Trung tâm Nước sạch phối hợp với UBND xã Hòa Thạnh, tổ chức họp bàn biện pháp tiếp tục duy trì hoạt động tại 02 công trình cấp nước, để việc cung cấp nước sạch đối với các hộ dân trên địa bàn xã mang lại hiệu quả.


Toàn cảnh: Buổi làm việc tại UBND xã Hòa Thạnh

Dự họp có Đại diện Lãnh đạo UBND xã Hòa Thạnh, Lãnh đạo Trung tâm Nước sạch, Trưởng ấp: Hiệp Phước và Hiệp Bình, người lao động quản lý vận hành 02 công trình cấp nước và các hộ dân đang sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước ấp Hiệp Phước và ấp Hiệp Bình. Trung tâm Nước sạch đã trao đổi tình hình vận hành cấp nước và những tồn tại khó khăn trong thời gian qua, đề xuất giải pháp mở rộng tuyến ống, vận động hộ dân sử dụng nước sạch, tăng doanh thu để tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước; đồng thời giải đáp những ý kiến của người dân. Qua buổi làm việc đã thống nhất giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Hòa Thạnh và các hộ dân đang sử dụng nước, cụ thể:

          * Ý kiến các hộ dân sử dụng nước:

          - Thời gian bơm nước chưa đảm bảo, nếu giảm giờ bơm nước và thời gian xúc phèn đơn vị phải có thông báo cụ thể thời gian để bà con chuẩn bị dụng cụ chứa nước, không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân;

- Giá nước từ 4000 đồng/1m3 nước tăng lên 5.500 đồng/m3 cao, ảnh hưởng đến chi phí của người dân;

- Cung cấp nước thời gian từ 9h-12 nước yếu, thỉnh thoảng nước bị đục, vàng, đề nghị đơn vị xem xét khắc phục cấp nước phải an toàn, sạch, chất lượng;

- Quản lý công trình cấp nước phải thường xuyên có mặt tại công trình cấp nước để kịp thời khắc phục sự cố hư hỏng và tiếp xúc gần gũi tạo mối quan hệ với người dân sử dụng nước;

- Một số đồng hồ nước các hộ dân sử dụng đã lâu, bị mờ, hỏng đề nghị thay mới. Các hộ dân không có nhu cầu sử dụng nước cắt nước từ đường ống chính, hạn chế trộm nước, sử dụng nước phải đóng tiền, đảm bảo công bằng.

* Ý kiến của Lãnh đạo UBND xã Hòa Thạnh:

- Số lượng các hộ dân hiện đang sinh sống tại ấp Hiệp Phước và ấp Hiệp Bình ít, đa số dân nghèo, người dân tộc, thu nhập thấp, không ổn định; do vậy thời gian tới Trung tâm Nước sạch cần phối hợp với UBND xã tuyên truyền vận động người dân nâng cao ý thức sử dụng nước sạch;

- Thông báo thời gian vận hành bơm nước, thời gian xúc phèn dán trước công trình cấp nước và UBND xã, ấp để bà con được biết và chủ động dụng cụ chứa nước không ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Làm bảng ghi số điện thoại của Quản lý công trình cấp nước để người dân tiện liên hệ;

- Khảo sát thực tế các hộ dân có nhu cầu sử dụng nước sạch, mở rộng tuyến ống mới, tăng hộ dân sử dụng nước sạch, có kinh phí tiếp tục duy trì hoạt động cấp nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu 17.1 về nước sạch đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới;

* Ý kiến kết luận của Trung tâm Nước sạch:

- UBND xã Hòa Thạnh, Trưởng 02 ấp: Hiệp Bình, Hiệp Phước tuyên truyền vận động người dân sử dụng nước sạch, ký hợp đồng sử dụng nước, bảo quản đồng hồ nước, không tự ý phá đồng hồ nước;

          - Tiến hành khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng nước của người dân, lập danh sách ký tên đồng ý sử dụng nước, xây dựng dự toán chi phí lắp đặt và trao đổi thống nhất các hộ dân;

          - Thông báo thời gian vận hành bơm nước và thời gian xúc phèn để người dân được biết và chủ động dụng cụ chứa nước, khắc phục tình trạng nước bị vàng (trong thời gian xúc phèn), đảm bảo chất lượng nước các hộ dân sử dụng nước theo quy định;

          - Kiểm tra trực tiếp các hộ dân đang sử dụng nước đồng hồ bị mờ, hư lập danh sách thay mới. Đối với những hộ không còn sử dụng nước tiến hành cắt nước từ đường ống chính, hạn chế thất thoát nước, trộm nước sau đồng hồ;

          - Giải đáp ý kiến thắc mắc các hộ dân giá nước từ 4000 đồng tăng lên 5.500 đồng và chính sách hỗ trợ giá nước của UBND tỉnh, Trung tâm Nước sạch đã có thông báo gửi UBND các xã có công trình cấp nước và người lao động quản lý vận hành công trình cấp nước thông báo trực tiếp đến người dân sử dụng nước.

          Qua buổi làm việc giữa Trung tâm Nước sạch, UBND xã Hòa Thạnh và các hộ dân sử dụng nước tại 02 công trình cấp nước, đã trao đổi giải quyết những tồn tại, khó khăn trong thời gian qua. Đặc biệt biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, khai thác công trình cấp nước trên địa bàn xã, nhằm duy trì hoạt động cấp nước, nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người dân xã biên giới. Tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân sử dụng nước sạch, đảm bảo số lượng và chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu xã xây dựng nông thôn mới năm 2020 về chỉ tiêu 17.1-Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định. Đồng thời thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tây Ninh trong việc xây dựng nông mới trên địa bàn tỉnh./.

GIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚCNước sạch nông thônBài viếtGIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚC/PublishingImages/2019-09/TTNS_GIỚI THIỆU DỊCH VỤ VIETTELPAY TRIỂN KHAI THU TIỀN NƯỚC.jpg
Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.
9/30/2019 5:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.

 

Toàn cảnh buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay

Nhằm hỗ trợ và mang lại tiện ích cho khách hàng trong việc thanh toán tiền nước hàng tháng, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã liên kết với Viettel Tây Ninh tiến hành triển khai thử nghiệm hình thức hỗ trợ thanh toán tiền nước bằng dịch vụ ViettelPay. Theo đó, các khách hàng đang sử dụng nước của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn có thể tiến hành thanh toán tiền nước hàng tháng tại các cửa hàng giao dịch của Viettel trên toàn tỉnh.

Ngoài ra, khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ ViettelPay của Viettel còn có thể thanh toán tiền nước qua điện thoại di động tại bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào, không giới hạn dòng điện thoại di động (ứng dụng ViettelPay trên Smartphone và USSD trên các dòng máy điện thoại bàn phím không cần internet),  không cần tài khoản ngân hàng….Giao dịch được thực hiện an toàn tuyệt đối ở bất cứ nơi nào có sóng Viettel với chính sách bảo mật 2 lớp gồm mã PIN và mã xác thực giao dịch dùng 1 lần (OTP).

Ngày 23/7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Viettel Tây Ninh tổ chức buổi giới thiệu dịch vụ ViettelPay triển khai thu tiền nước qua trung gian cho nhân viên tại trung tâm và các nhân viên quản lý, vận hành tại các công trình cấp nước tập trung.

 

Thanh toán tiền nước qua ứng dụng ViettelPay trên Smartphone

Kết thúc buổi giới thiệu dịch vụ mới, Lãnh đạo hai đơn vị thống nhất tiếp tục nỗ lực, sáng tạo để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, an toàn và tiết kiệm nhất.


Ban hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn  trên địa bàn tỉnh Tây NinhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTBan hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2019-06/20190126_152416.jpg
Ngày 09/7/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND  về việc Ban hành biểu giá nước sạch sinh hoạt tại đô thị, khu vực nông thôn và nước dùng cho cơ quan hành chính sự nghiệp, khu công nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND). Theo đó, giá nước sạch khu vực nông thôn như sau: hộ dân cư - 4.000 đồng/m3, cơ quan hành chính sự nghiệp - 6.000 đồng/m3, hoạt động sản xuất vật chất - 7.000 đồng/m3, kinh doanh dịch vụ - 8.000 đồng/m3.
6/28/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

Ngày 09/7/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND  về việc Ban hành biểu giá nước sạch sinh hoạt tại đô thị, khu vực nông thôn và nước dùng cho cơ quan hành chính sự nghiệp, khu công nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND). Theo đó, giá nước sạch khu vực nông thôn như sau: hộ dân cư - 4.000 đồng/m3, cơ quan hành chính sự nghiệp - 6.000 đồng/m3, hoạt động sản xuất vật chất - 7.000 đồng/m3, kinh doanh dịch vụ - 8.000 đồng/m3.

Giá nước sạch nông thôn được cấu thành từ các chi phí gồm chi phí vật tư trực tiếp (điện, hóa chất), chi phí nhân công trực tiếp (lương, các khoản bảo hiểm: y tế, bảo hiểm xã hội, thất nghiệp), chi phí quản lý (quản lý khách hàng, các khoản chi phục vụ công tác thu), chi phí bán hàng (đấu nối, thay thế đồng hồ, hóa đơn), chi phí sản xuất chung (xét nghiệm mẫu nước, khấu hao, duy tu, sửa chữa), thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, phí dịch vụ môi trường rừng.

Tuy nhiên, sau 06 năm thực hiện Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND, giá nước sạch nông thôn chịu ảnh hưởng bởi các chi phí nhân công và vật tư trực tiếp tăng cao như:

+ Tăng lương cơ sở : 04 lần (Từ 01/07/2013 đến hết tháng 4/2016: 1.150.000 đồng; Từ 01/05/2016 đến hết tháng 6/2017: 1.210.000 đồng, Từ 01/07/2017 đến hết tháng 6/2018: 1.300.000 đồng, Từ 01/07/2018 đến hết tháng 6/2019: 1.390.000 đồng) ;

+ Tăng giá điện : 04 lần (Giá điện bình quân - Năm 2013: 1.508,58 đồng/Kwh, Năm 2015: 1.622,05 đồng/Kwh, Năm 2017: 1.720,65 đồng/Kwh; Năm 2019: 1.864,04 đồng/Kwh);

+ Tăng thuế tài nguyên nước: 02 lần (Đối với nước ngầm - Năm 2013: 180 đồng/m3, Năm 2015: 400 đồng/m3, Năm 2018: 400 đồng/m3);

+ Chi phí phát sinh: phí dịch vụ môi trường rừng tăng 02 lần (Năm 2013: 40 đồng/m3, Năm 2016 : 52 đồng/m3);

Các chi phí cấu thành giá nước sạch nông thôn tăng cao và phí dịch vụ môi trường rừng phát sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến biểu giá cấu thành nước sạch khu vực nông thôn, dẫn đến đơn vị cấp nước gặp nhiều khó khăn trong quá trình duy tu, bảo trì bảo dưỡng và nâng cấp, sữa chữa thường xuyên các thiết bị, hạng mục công trình.

Do đó, ngày 25/4/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND về việc ban hành biểu giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thay thế Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND ngày 09/7/2013 và có hiệu lực từ ngày 06/5/2019. Theo đó, giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn của các hộ dân cư là 5.500 đồng/m3 (đã bao gồm thuế VAT).

Đồng thời, ngày 24/5/2019, trên cơ sở Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn ra Quyết định số 211/QĐ-TTNS về việc điều chỉnh giá nước sạch cho các đối tượng khác (trừ hộ dân cư khu vực nông thôn). Theo đó, áp dụng từ kỳ hóa đơn tháng 6/2019 cho các đối tượng sử dụng nước sạch có giá lần lượt như sau: cơ quan hành chính sự nghiệp : 9.500 đồng/m3 (tăng 3.500 đồng/m3), hoạt động sản xuất vật chất : 10.000 đồng/m3 (tăng 3.000 đồng/m3), kinh doanh dịch vụ : 12.500 đồng/m3 (tăng 4.500 đồng/m3).

Giá nước sạch sinh hoạt khu vực nông thôn khi được tính đúng, tính đủ sẽ góp phần giúp đơn vị cung cấp nước sạch đảm bảo hoạt động cấp nước, duy tu sửa chữa, nâng cao chất lượng nước cấp và các hoạt động liên quan đến cấp nước an toàn./.

Kết quả thực hiện Chương trình Nước ngọt vùng biên năm 2018Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTKết quả thực hiện Chương trình Nước ngọt vùng biên năm 2018/PublishingImages/2019-03/TTNS_KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC NGỌT VÙNG BIÊN 2018.png
4/4/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Năm 2018, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiếp nhận vốn hỗ trợ của Hội đồng quản lý quỹ "Vì biển đảo quê hương, vì tuyến đầu Tổ Quốc" Thành phố Hồ Chí Minh từ UBMTTQVN tỉnh Tây Ninh với tổng kinh phí: 931,8 triệu đồng, để thực hiện xây dựng công trình cấp nước sạch cho xã vùng biên giới, vùng rất khó khăn về nguồn nước (nguồn nước ngầm bị nhiễm phèn nên không thể sử dụng để ăn uống, sinh hoạt), bao gồm:

(1) Thực hiện đầu tư Công trình cấp nước sạch ấp Phước Hưng, Phước Chỉ, Trảng Bàng: 431,8 triệu đồng, gồm các hạng mục đầu tư xây dựng như tuyến ống cấp nước PVC D60mm dài 2.840 m, 150 đồng hồ đo nước D15mm và đường ống D27mm cấp nước đến từng hộ dân;

Bên cạnh đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đối ứng 35 triệu đồng để bổ sung bồn chứa 10 m3 và 150 m ống PVC D49mm, cấp nước thêm cho 29 hộ dân, nâng tổng số hộ dân được thụ hưởng cấp nước sạch từ công trình là 179 hộ dân.

(2) Thực hiện đầu tư Công trình cấp nước sạch ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành: 500.000.000 đồng, gồm các hạng mục đầu tư xây dựng: giếng khoan 10m3/h, cụm xử lý 10m3/h, nền móng, thiết bị bơm và 1.000 m ống nhựa PVC D60mm cung cấp nước cho 50 hộ dân. Sau 02 tháng thi công (bắt đầu từ ngày 25/10/2018) và dưới sự giám sát của cộng đồng, UBND xã Biên Giới, đến nay, Công trình cấp nước sạch ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành hoàn thành, đưa vào sử dụng cấp nước cho 34 hộ dân. Trong đó, có 15 hộ đồng bào dân tộc Khmer (Do các hộ dân sống rãi rác nên tuyến ống cấp nước dài 1.000m chỉ cung cấp được cho 34 hộ dân sử dụng nước sạch).

Đồng thời, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đối ứng bổ sung 70 triệu đồng, thực hiện: san nền đá mi diện tích 100 m2; lắp bộ biến tần 5,5KW và 220m ống PVC D60mm, cấp nước cho 10 hộ dân đồng bào dân tộc, nâng tổng số hộ dân được thu hưởng cấp nước sạch từ công trình là 44 hộ (Trong đó, 25/44 hộ là đồng bào dân tộc Khmer). Đồng thời, nâng tổng số hộ được cấp nước từ công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn xã Biên Giới là 246 hộ (chiếm 20,28 % dân số toàn xã).

Với nguồn kinh phí viện trợ xây dựng công trình cấp nước đã góp phần cung cấp nước sạch cho nhân dân, cán bộ chiến sĩ biên phòng đóng quân tại địa bàn ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng và ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Trảng Bàng, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng và nâng cao tiêu chí nước sạch trong xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, nâng cao nhận thức sử dụng nước sạch của người dân vùng biên giới, đồng bào dân tộc và đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng vùng biên giới.

Một số hình ảnh tại Buổi lễ bàn giao Công trình nước ngọt vùng biên năm 2018 tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành.


Ông Đinh Hùng Danh - Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn báo cáo Kết quả thực hiện xây dựng Công trình cấp nước sạch ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành 

 

Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (Chủ tịch HĐND Tp HCM), ông Nguyễn Thành Tâm (Chủ tịch HĐND tỉnh Tây Ninh) và ông Nguyễn Văn Hợp (Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh Tây Ninh) cắt băng khánh thành Công trình "Nước ngọt vùng biên"


Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm - Chủ tịch HĐND Tp.HCM chia sẻ niềm vui, cảm súc đối với người dân xã Biên Giới và cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng Vàm Trảng Trâu.

Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm (Chủ tịch HĐND Tp HCM), ông Nguyễn Văn Mấy (Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tây Ninh) và ông Đinh Hùng Danh (Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh) kiểm tra chất lượng nước sau xử lý của công trình "Nước ngọt vùng biên"
Ban hành Bộ chỉ số Đánh giá - Thẽo dõi Nước sạch nông thôn  và tài liệu hướng dẫn triển khaiNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTBan hành Bộ chỉ số Đánh giá - Thẽo dõi Nước sạch nông thôn  và tài liệu hướng dẫn triển khai/PublishingImages/2019-03/TTNS_Ban hành Bộ chỉ số.png
4/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 22/10/2012, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Quyết định 2570/QĐ-BNN-TCTL về việc phê duyệt điều chỉnh Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn nhằm mục đích theo dõi, đánh giá các kết quả đạt được so với mục tiêu của Chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn. Cuối năm 2015, CTMTQG Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn kết thúc; kể từ năm 2016 nội dung triển khai về nước sạch nông thôn là một trong những nhiệm vụ của CTMTQG về xây dựng Nông thôn mới.

Để kế thừa các kết quả của Bộ chỉ số theo Quyết định 2570/QĐ-BNN-TCTL. Đồng thời, để không gây lãng phí đối với toàn bộ kinh phí và số liệu điều tra Bộ chỉ số từ năm 2008 đến 2015 thì cần thiết phải rà soát, điều chỉnh và xây dựng một số chỉ số mới nhằm đảm bảo Bộ chỉ số là một công cụ để Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng như các địa phương tăng cường công tác quản lý giai đoạn 2016 -2020 và những năm tiếp theo trong lĩnh vực Nước sạch nông thôn.

Bên cạnh đó, đáp ứng nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước về chế độ báo cáo thống kê ngành Nông nghiệp; thực hiện công tác Theo dõi, giám sát và đánh giá CTMTQG xây dựng Nông thôn mới; trong đó tập trung vào các chỉ số để theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.


(Nguồn: Tài liệu hướng dẫn Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn 2018)

Do đó, ngày 07/12/2018, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành quyết định số 4826/QĐ-BNN-TCTL về việc ban hành Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn và tài liệu hướng dẫn triển khai thay thế Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL ngày 22/10/2012.

Theo đó, Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn có 05 chỉ số (Chỉ số 1: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh (%); Chỉ số 2: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước đạt Quy chuẩn Việt Nam (%); Chỉ số 3: Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước hợp vệ sinh (%); Chỉ số 4: Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng nước đạt Quy chuẩn Việt Nam (%); Chỉ số 5: Tỷ lệ các công trình cấp nước tập trung hoạt động hiệu quả, bền vững (%), theo cấp độ: Bền vững, tương đối bền vững, kém bền vững và không hiệu quả), giảm 03 chỉ số so với Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn của Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL.

Hiện nay, Hướng dẫn triển khai Bộ chỉ số Đánh giá - Theo dõi Nước sạch nông thôn đã được Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức hướng dẫn, triển khai tại 03 địa điểm: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh./.

Quy định hạn chế khai thác nước dưới đấtNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTQuy định hạn chế khai thác nước dưới đất/PublishingImages/2019-03/TTNS_Quy định hạn chế khai thác nước dưới đất.png
4/1/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 26/12/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 167/2018/NĐ-CP về việc quy định hạn chế khai thác nước dưới đất. Nghị định bao gồm 3 Chương, 17 Điều, quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất ở các vùng chứa nước ngọt thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 10/02/2018.

Theo Nghị định số 167/2018/NĐ-CP có 05 vùng hạn chế khai thác nước dưới đất (vùng hạn chế 1, vùng hạn chế 2, vùng hạn chế 3, vùng hạn chế 4, vùng hạn chế hỗn hợp). Trong đó, nguyên tắc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất như sau:

- Bảo đảm yêu cầu bảo vệ nguồn nước dưới đất, đồng thời phải bảo đảm hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, bao gồm cả việc bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (nếu có) trong trường hợp bị thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật;

- Tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp hạn chế khai thác được áp dụng cụ thể đối với từng vùng, từng khu vực hạn chế và thứ tự thực hiện đối với từng đối tượng, trường hợp theo quy định của Nghị định này. Không áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác nước dưới đất khác với các biện pháp quy định tại Nghị định này;

- Ưu tiên cho việc cấp nước sinh hoạt, cấp nước phục vụ phòng, chống thiên tai;

- Thực hiện theo phương án, lộ trình phù hợp được phê duyệt, đảm bảo không gây gián đoạn việc cấp nước.

Hiện nay, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành và khai thác 70 công trình cấp nước (Trong đó, 69/70 công trình cấp nước khai thác nguồn nước dưới đất, 01/70 công trình cấp nước khai thác nguồn nước mặt) với công suất 8.728/9.662 m3/ngày.đêm, đạt 90% công suất thiết kế, cấp nước cho 18.385/21.315 hộ sử dụng, đạt 86,25% số hộ thiết kế. Vì vậy, để đảm bảo việc thực hiện theo đúng quy định về cấp phép khai thác nước và các quy định khác về tài nguyên nước, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã thực hiện thủ tục và được cấp phép khai thác nước dưới đất theo đúng quy định.

Theo Quy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020 do Liên đoàn Điều tra, quy hoạch tài nguyên nước Miền Nam lập, nguồn nước dưới đất tỉnh Tây Ninh có 8 tầng chứa nước (Trong đó, có 5 tầng chứa nước lỗ hổng: qp2-3, qp1, n22, n21 và n13 có khả năng khai thác với quy mô lớn; Tầng chứa nước lỗ hổng qp3 và quanh vùng lộ của các tầng chứa nước khe nứt qp2 và ps-ms có khả năng khai thác nhỏ lẻ đến qui mô vừa) với tổng trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất của tỉnh là 5.099.887m3/ngày (Trong đó: trữ lượng tĩnh là 3.453.597 m3/ngày, trữ lượng động là 1.646.290 m3/ngày).

Mặt khác, tại một số vị trí quan trắc mực nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh do Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc Gia, (Bản tin thông báo, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước dưới đất tháng 11/2018 vùng Đông Nam Bộ) theo dõi, quan trắc, thì các tầng chứa nước qp3, qp2-3, qp1, n22, n21 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có xu thế mực nước dưới đất hạ vào tháng 01/2019.

Hình ảnh: Sơ đồ mực nước dưới đất tháng 11 tầng qp3 của tỉnh Tây Ninh.

(Dự báo: mực nước dưới đất có xu thế hạ)

Với trữ lượng khai thác nước dưới đất dồi dào nhưng công tác kiểm tra, giám sát, thẩm định khai thác, cấp phép khai thác nước dưới đất còn hạn chế, sẽ dẫn đến sự suy giảm mực nước (mực nước hạ) và biến đổi chất lượng nước dưới đất.

Do đó, việc quản lý khai thác, cấp phép khai thác và hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh là vấn đề, yêu cầu cấp thiết và còn nhiều khó khăn đối với các cơ quan quản lý nhà nước./.

 

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạtNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/1/2019 8:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 14/12/2018, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư số 41/2018/TT-BYT "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt" bao gồm 99 chỉ tiêu (Trong đó, 08 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm A và 91 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm B), có hiệu lực từ ngày 15/6/2019. Quy chuẩn này thay thế Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01: 2009/BYT) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT).

Điểm mới của Quy chuẩn này là 08 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm A do Bộ Y tế ban hành, 91 chỉ tiêu thuộc thông số nhóm B do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành (tùy từng địa phương) và phương pháp thử theo tiêu chuẩn quốc gia.

Khi Thông tư số 41/2018/TT-BYT có hiệu lực thì Thông tư số 50/2015/TT-BYT ngày 11/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định việc kiểm tra vệ sinh, chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt hết hiệu lực và Thông tư số 04/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT), Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT) tiếp tục có hiệu lực để áp dụng cho các đối tượng quy định tại Khoản 2, Điều 4, Thông tư số 41/2018/TT-BYT đến hết ngày 30/6/2021.

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong thời hạn quy định tại Khoản 3, Điều 3 thuộc Thông tư số 41/2018/TT-BYT, đơn vị cấp nước có thể áp dụng một trong hai trường hợp sau:

- Áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt ban hành kèm theo Thông tư số 41/2018/TT-BYT nhưng phải thử nghiệm toàn bộ các thông số chất lượng nước sạch trong danh mục quy định tại Điều 4 của Quy chuẩn (99 chỉ tiêu).

- Tiếp tục áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (QCVN 02:2009/BYT) cho đến hết ngày 30/6/2021.

Ngoài ra, theo Thông tư số 41/2018/TT-BYT, các viện chuyên ngành thuộc Bộ Y tế có trách nhiệm báo cáo tình hình chất lượng nước sạch của các tỉnh trong địa bàn phụ trách theo định kỳ 6 tháng/lần; Sở Y tế các tỉnh chỉ đạo các đơn vị trực thuộc kiểm tra, giám sát chất lượng nước; Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh và Trung tâm Y tế huyện ngoại kiểm định kỳ, đột xuất chất lượng nước sạch của các đơn vị cấp nước sạch cho các hộ gia đình định kỳ theo quý, 6 tháng, năm.

Đồng thời, quy định trách nhiệm của UBND tỉnh như tổ chức và kiểm tra việc thực hiện Thông tư số 41/2018/TT-BYT tại địa phương; ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt bảo đảm có hiệu lực trước ngày 01/7/2021; bố trí ngân sách và chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch đột xuất hoặc định kỳ hằng năm; đầu tư nâng cấp trang thiết bị phòng thử nghiệm cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh để có đủ khả năng thực hiện thử nghiệm các thông số chất lượng nước sạch theo quy định của Thông tư số 41/2018/TT-BYT.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt được ban hành đã xóa bỏ sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn nước, tăng tính chủ động của các địa phương và vai trò, trách nhiệm của các cơ sở cung cấp nước trong hoạt động đảm bảo an toàn cấp nước.

BẢNG CHỈ TIÊU NHÓM A DO BỘ Y TẾ BAN HÀNH

TTTên thông sốĐơn vị tínhNgưỡng giới hạn chophép
Các thông số nhóm A
Thông số vi sinh vật
1.ColiformCFU/100 mL<3
2.E.Coli hoặc Conform chịu nhiệtCFU/100 mL<1
Thông số cảm quản và vô cơ
3.Arsenic (As)(*)mg/L0.01
4.Clo dư tự do(**)mg/LTrong khoảng 0,2 - 1,0
5.Độ đụcNTU2
6.Màu sắcTCU15
7.Mùi, vị-Không có mùi, vị lạ
8.pH-Trong khoảng 6,0-8,5

(*): Chỉ áp dụng cho các đơn vị cấp nước khai thác nước ngầm;

(**):Chỉ áp dụng cho các đơn vị cấp nước sử dụng Clo làm phương pháp khử trùng

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thực hiện chỉ tiêu 17.1 – Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy địnhNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTTrung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá thực hiện chỉ tiêu 17.1 – Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định/PublishingImages/2018-11/TTNS_Hình Kiểm tra nguồn nước giếng khoan tại hộ dân ấp Long Thạnh, xã Long Chữ.jpg
Thực hiện Kế hoạch số 103/KH-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2018; Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh đã triển khai Kế hoạch số 432/KH-TTNS ngày 07/11/2018 về việc Kiểm tra, đánh giá các xã đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới năm 2018.
11/28/2018 2:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Kế hoạch số 103/KH-UBND ngày 11/01/2018 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Tây Ninh năm 2018; Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Tây Ninh đã triển khai Kế hoạch số 432/KH-TTNS ngày 07/11/2018 về việc Kiểm tra, đánh giá các xã đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nướca sạch, nước hợp vệ sinh theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới năm 2018.

Ngày đầu tiên triển khai thực hiện Kế hoạch, Đoàn đã tiến hành kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu 17.1 tại xã Long Chữ, huyện Bến Cầu. Xã Long Chữ, huyện Bến Cầu là xã vùng nông thôn nằm trong Kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2018 với tổng số hộ dân trên địa bàn xã là 1.522 hộ với công trình cấp nước tập trung ấp Long Hòa 1 đang vận hành cung cấp nước cho 284 hộ dân trên địa bàn xã.

Qua một buổi làm việc với UBND xã Long Chữ đồng thời kết hợp kiểm tra thực tế tại một số hộ dân thuộc các ấp trên địa bàn xã. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đánh giá:

Đối với các hộ dân sử dụng nước tại công trình cấp nước tập trung người dân có mong muốn chính quyền tiếp tục duy trì việc cấp nước sạch phục vụ người dân, đồng thời tăng cao việc cấp nước liên tục trong các mùa nắng nóng.

Hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tại ấp Long Hòa, xã Long Chữ

Đối với các hộ dân chưa được tiếp cận với nguồn nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung chủ yếu khoan giếng tại gia đình để sử dụng trong sinh hoạt. Tuy nhiên, do chất lượng nguồn nước giếng khoan chưa đảm bảo theo quy chuẩn nước sạch nên các hộ dân này phải sử dụng nước bình thay thế trong ăn uống hàng ngày. Trong buổi tiếp xúc với đoàn kiểm tra, người dân đã bày tỏ nguyện vọng mong muốn nước sạch sẽ được phủ mạng lưới đường ống về tới gia đình mình để chất lượng cuộc sống được nâng cao, không còn phải hàng ngày mua nước bình dùng phục vụ sinh hoạt, ăn uống.

   

Kiểm tra nguồn nước giếng khoan tại hộ dân ấp Long Thạnh, xã Long Chữ

Kết thúc buổi làm việc, dựa trên các số liệu về số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh do UBND xã Long Chữ cung cấp và số liệu về kết quả xét nghiệm nước hộ gia đình đạt Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT kết hợp với việc kiểm tra thực tế tại một số hộ dân trên địa bàn xã. Đoàn kiểm tra kết luận xã Long Chữ, huyện Bến Cầu đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định trong đó Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh là 99,08% ( tương đương 1508 hộ/1522 hộ) theo quy định phải ≥ 98%; Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT là 74,84% (tương đương 1139 hộ/1522 hộ) theo quy định phải ≥ 65%; đồng thời đề nghị xã tiếp tục duy trì, nâng cao thực hiện chỉ tiêu 17.1 kết hợp với việc tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức về việc sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh trên địa bàn xã./.

Hội nghị về công tác quản lý nước sạch nông thônNước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTHội nghị về công tác quản lý nước sạch nông thôn/PublishingImages/2018-11/TTNS_Ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì Hội nghị.png
11/28/2018 10:00 AMNoĐã ban hành

Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh, Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội nghị về công tác quản lý nước sạch nông thôn. Chủ trì Hội nghị Ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT và Ông Nguyễn Tiến Nhường - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh.

Tham dự Hội nghị có lãnh đạo UBND tỉnh Bình Định, Trà Vinh; đại diện các bộ: Nông nghiệp và PTNT, Tài chính , Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban dân tộc, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam; Hiệp hội cấp nước nông thôn Đồng bằng sông Cửu long; các tổ chức quốc tế, một số doanh nghiệp cáp nước, các nhà cung cấp công nghệ, thiết bị ngành nước; đại diện Sở Nông Nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy lợi, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT các tỉnh/thành phố tham gia.

       

Ảnh: Ông Hoàng Văn Thắng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì Hội nghị (Ảnh trích nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh)

Sau khi nghe Tổng cục Thủy lợi báo cáo về công tác quản lý nước sạch nông thôn và báo cáo tham luận của các dơn vị: Trung tâm Quốc gia Nước sạch và VSMTNT, Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi - Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT tỉnh Sơn La, Hiệp hội Cấp nước nông thôn Đồng Bằng Sông Cửu Long và ý kiến của các đại biểu Trung ương, địa phương, các tổ chức quốc tế, Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng đánh giá cấp nước nông thôn đã đạt được mục tiêu đề ra, góp phần dạt được mục tiêu thiên niên kỷ mà Chính phủ đã cam kết với cộng đồng quốc tế (Theo báo cáo thực hiện Bộ chỉ số Theo dõi - Đánh giá (M&E) của các địa phương, tới nay, có khoảng 88,5% số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó gần 51% sử dụng nước đạt QC 02:2009/BYT "Quy chuẩn kỹ thuạt quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt", với khoảng 44% dân số nông thôn (hơn 28,5 triệu người) được cấp nước từ công trình cấp nước tập trung, 56% dân số nông thôn (36,3 triệu người) còn lại sử dụng công trình cấp nước quy mô gia đình - nguồn: Tổng cục Thủy lợi), góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Tuy nhiên, công tác nước sạch nông thôn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và cơ hội.

Qua hội nghị, để đảm bảo phát triển bền vững thành quả đã đạt được, không ngừng cải thiện, nâng cao tỷ lệ cấp nước, chất lượng dịch vụ cấp nước nông thôn, Thứ trưởng kết luận, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị cần triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

1.  Đối với các cơ quan Trung ương

Tổng cục Thủy lợi tiếp tục phối hợp với các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT và các Bộ, ngành liên quan rà soát cơ chế chính sách về cấp nước sạch nông thôn; đề xuất điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các chính sách phù hợp, khả thi, tài liệu kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và cung cấp dịch vụ cấp nước.

Chỉ đạo việc lồng ghép các nguồn lực từ các Chương trình, dự án hiện có để đầu tư, sửa chữa, nâng cấp các công trình cấp nước nông thôn gắn với yêu cầu đầu ra về cấp nước bền vững và các tiêu chí về xã nông thôn mới. Chú trọng thúc đẩy các giải pháp cấp nước, xử lý, trữ nước hộ gia đình.

Phối hợp với Sở Nông Nghiệp và PTNT trong việc triển khai các hoạt động nâng cao năng lực cho các dơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nước sạch nông thôn ở địa phương, đặc biệt là Chi cục Thủy Lợi.

Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đầu tư, quản lý và cung cấp dịch vụ cấp nước sạch nông thôn tại các địa phương, đặc biệt lưu ý vấn đề bảo vệ chất lượng nguồn nước cấp, đảm bảo cấp nước an toàn.

Đẩy mạnh các chương trình đào tạo, tập huấn cho các địa phương về quản lý, vận hành công trình cấp nước; thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn. Áp dụng các giải pháp khoa học, công nghệ và tự động hóa trong quản lý rủi ro, kiểm soát chất lượng nước cấp.

Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ với chính quyền địa phương, các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong thu hút nguồn lực đầu tư, mô hình hợp tác doanh nghiệp - doanh nghiệp, giới thiệu các quỹ, mô hình liên kết đầu tư, thí điểm và chuyển giao các sản phẩm khoa học công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn.

Rà soát kế hoạch truyền thông về nước sạch nông thôn theo từng giai đoạn (5 năm) đảm bảo thúc đẩy các sáng kiến mới về truyền thông, thay đổi mục tiêu truyền thông từ truyền thông nâng cao nhận thức sang truyền thông thay đổi hành vi; đồng thời triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.

2.  Đối với các địa phương

Sở Nông nghiệp và PTNT chủ động tham mưu UBND tỉnh phương án kiện toàn tổ chức của Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đảm bảo hộ máy tinh gọn, hiệu quả, làm tốt nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nước sạch nông thôn.

Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về cấp nước nông thôn đối với Chi cục Thủy Lợi trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, bố trí cán bộ có chuyên môn và kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ.

Ưu tiên bố trí kinh phí từ các chương trình, dự án cho sửa chữa, nâng cấp, mở rộng các công trình cấp nước trên địa bàn. Gắn điều kiện đầu tư với điều kiện về tổ chức quản lý, khai thác và kết quả đầu ra.

Tăng cường phối hợp giữa các ngành: Nông nghiệp, Y tế và các sở, ngành liên quan trong tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động của các đơn vị cấp nước nông thôn trên địa bàn.

Bố trí kinh phí duy trì thực hiện Bộ chỉ số theo dõi, giám sát đánh giá về nước sạch nông thôn trên địa bàn.

Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cấp nước nông thôn, tăng cường nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, chi trả tiền nước và sử dụng nước tiết kiệm./.

Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh vui đón tết cùng đồng bào dân tộc Khmer Nước sạch nông thônBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTCông trình cấp nước ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh vui đón tết cùng đồng bào dân tộc Khmer /PublishingImages/2018-11/Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông, xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh vui đón tết cùng đồng bào dân tộc Khmer.jpg
Hưởng ứng tết Sen-Đolta của đồng bào dân tộc Khmer, chung tay đón tết vui vẻ, an toàn Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn chỉ đạo quản lý công trình cấp nước tích cực chuẩn bị công tác bảo trì, sửa chữa đường ống cấp nước: bảo trì, bảo dưỡng máy bơm, thiết bị điện, sửa chữa, khắc phục kịp thời sự cố vỡ đường ống cấp nước, vệ sinh cụm xử lý, bể chứa tại Công trình cấp nước ấp Thạnh Đông nhằm đảm bảo cấp nước ổn định, liên tục, chất lượng nước đảm bảo QCVN 02:2009/BYT “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt” góp phần đáp ứng nhu c