Tài liệu kỹ thuật
Thứ 5, Ngày 25/04/2019, 21:00
Kỹ thuật chung về nuôi cá nước ngọt
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
25/04/2019 | Chi cục Chăn nuôi thú y

MỞ ĐẦU

Tây Ninh có nguồn nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản chủ yếu ở 02 thủy vực chính là hồ Dầu Tiếng và sông Vàm Cỏ Đông; ngoài ra, còn một số khu vực suối, kênh rạch, các bàu trũng ngập nước thường xuyên.

Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Tây Ninh khoảng 748 ha; phân bố chủ yếu tại các huyện Dương Minh Châu, Châu Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng; đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá nước ngọt phổ biến như: Thát lát cườm, cá Tra, cá Mè, cá Chép, cá Rô phi, cá Điêu hồng ... phục vụ cho thị trường tiêu thụ nội địa là chính; nuôi trồng thủy sản còn mang tính chất nhỏ lẻ, bán thâm canh, quy mô hộ gia đình. Riêng tại địa bàn xã Hưng Thuận, huyện Trảng Bàng, Công ty TNHH Công nghệ Thực phẩm Miền Đông thực hiện quy trình nuôi cá tra thương phẩm đạt chứng nhận VietGAP, hình thức nuôi cá tra thâm canh khép kín từ giai đoạn ương giống tới giai đoạn chế biến, xuất khẩu, quy mô 32 ha.

Nuôi thủy sản nước ngọt những năm gần đây trở thành một hướng phát triển quan trọng trong ngành nông nghiệp. Mặt khác, sản phẩm thủy sản là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe con người nên được nhiều người ưa chuộng. Điều này cũng góp phần đáng kể thúc đẩy phát triển nuôi cá nước ngọt.

Nuôi thủy sản nước ngọt không đòi hỏi quá nhiều vốn, quy trình công nghệ không cao, thời gian thu hồi vốn nhanh, có thể thu hoạch sản phẩm quanh năm. Với các đặc điểm này, ngày nay nuôi trồng thủy sản đã giúp nhiều nông hộ từ "xóa đói" đến "làm giàu". Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp hiệu quả từ nuôi trồng thủy sản chưa cao hay trong quá trình nuôi còn xảy ra những vấn đề dịch bệnh.

Những dịch bệnh xảy ra và hiệu quả nuôi trồng thủy sản chưa cao là do người nuôi thủy sản chưa quan tâm nhiều đến kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, các biện pháp giúp nâng cao hiệu quả nuôi trồng và các biện pháp hạn chế, đề phòng những dịch bệnh xảy ra trong suốt quá trình nuôi. Để nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả như mong muốn, người nuôi cần trang bị cho mình những kiến thức nhất định.

Chi cục Chăn nuôi và Thú y hướng dẫn tài liệu kỹ thuật chung về nuôi cá nước ngọt để người nuôi trồng thủy sản tham khảo và vận dụng tùy theo điều kiện thực tế của bản thân.

PHẦN I

GIỚI THIỆU MỘT SỐ LOÀI CÁ NUÔI PHỔ BIẾN

1. Cá Trắm cỏ

Cá Trắm cỏ thích sống trong môi trường nước sạch, sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng nước dưới trong ao.

Cá thích sống trong môi trường nước ngọt, tuy nhiên có thể sống được trong môi trường nước lợ độ mặn đến 9%0 (chín phần ngàn).

Cá trưởng thành ăn thức ăn chủ yếu là thực vật, gồm các loại: bèo tấm, bèo cám, rong.

Ngoài ra cá có thể ăn các loại thức ăn tinh như: các loại hạt, củ, lúa, bắp, khoai mì và thức ăn viên tổng hợp.

Cá Trắm cỏ có khả năng tăng trọng khá nhanh, nuôi 1 năm có thể đạt 1,5 - 2 kg/con.


(Hình 1: Cá Trắm cỏ)

2. Cá Chép

Cá Chép thích sống ở tầng đáy và tầng giữa. thức ăn chính là các loài động vật đáy gồm: các loại giun, các loại ốc, giáp xác, côn trùng.

Cá Chép còn ăn thức ăn tinh như: bột sắn, bột ngô, cám; các loại hạt: thóc, bắp và thức ăn viên tổng hợp.

Cá Chép tăng trọng tương đối nhanh, nuôi 1 năm có thể đạt 01 kg/con.

 

(Hình 2: Cá Chép)

3. Cá Mè trắng

Cá Mè trắng thích sống ở vùng nước tĩnh, cá sống chủ yếu ở tầng mặt và tầng giữa.

Thức ăn của Cá Mè trắng là sinh vật phù du mà thực vật phù du là chủ yếu (chiếm 60 - 70%).

Cá Mè trắng có khả năng tăng trọng tương dối nhanh, nuôi 1 năm có thể đạt 1 - 1,5 kg/con.


(Hình 3: Cá Mè trắng)

4. Cá Mè hoa

Cá Mè hoa thích sống ở tầng nước mặt và tầng giữa. thức ăn là sinh vật phù du chủ yếu là động vật phù du (chiếm 60 - 70%).

Cá Mè hoa có khả năng tăng trọng của nhanh, nuôi 1 năm tuổi có thể đạt 1 - 2 kg/con.

 


(Hình 4: Cá Mè hoa)

5. Cá Rô phi

Cá Rô phi là loại cá dễ nuôi và phổ biến, cá sống được trong môi trường nước ngọt và nước mặn.

Cá Rô phi là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng là thực vật, mùn bã hữu cơ, sinh vật phù du, côn trùng. Cá còn ăn thức ăn tinh như: các loại bột, thức ăn viên.

Cá Rô phi nuôi 1 năm có thể đạt 1kg/con. Nhưng do mắn đẻ, giao phối gần dần dần giống bị thoái hóa nên chậm lớn.

Cá Rô phi có thể nuôi thâm canh với năng suất cao.

 


(Hình 5: Cá Rô Phi)

6. Cá Tra

Cá có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp, có thể nuôi với mật độ cao và có thể sống được ở vùng nước lợ (nồng độ muối 7‰ - 10‰).

Cá Tra là loài ăn tạp và thiên về động vật. Cá có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như: thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp, cám, tấm, rau muống…

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, 1 năm đạt từ 1 - 1,5 kg/con.

Cá Tra có thể nuôi thâm canh với năng suất cao.

 


(Hình 6: Cá Tra)

 

7. Cá Thát lát cườm

Cá Thát lát cườm sống được ở thủy vực có lượng oxy thấp, cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, cá thích sống trong môi trường có nhiều thực vật thuỷ sinh lớn.

Cá Thát lát cườm rất dữ, thuộc nhóm ăn tạp, thức ăn ưa thích của Thát lát cườm là giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể.

Cá Thát lát cườm có tốc độ sinh trưởng nhanh, thông thường cá sau 1 năm tuổi có chiều dài trung bình khoảng 30 - 40 cm và nặng từ 800 - 1.200 g/con. Trong ao nuôi, cá Thát lát cườm có thể đạt kích cỡ 500 - 600 g/con sau 6 tháng nuôi.

 

(Hình 7: Cá Thát Lát Cườm)

8. Cá Lăng nha

Cá Lăng nha sống ở tầng đáy, nơi có nước chảy nhẹ, cá thích sống sạch, nếu nuôi cá trong ao thì chúng thích sống trên gió, ở nơi có nhiều giá thể để trú ẩn và hoạt động bắt mồi về đêm.

Cá sinh trưởng tốt ở nước ngọt, nước lợ có độ mặn 5 - 7 0/00, pH nước từ 6,5 - 7,5. Do cá không có cơ quan hô hấp phụ nên đòi hỏi hàm lượng oxy hòa tan phải cao ( >4 mg O2/l).

Cá Lăng nha là loài cá ăn tạp thiên về động vật, cá thường chui rúc vào các hốc cây để tìm thức ăn. Trong tự nhiên cá thích ăn các loài cá nhỏ và giáp xác, trong quá trình nuôi có thể tập cho cá ăn thức ăn nổi.

Cá lớn chậm ở năm nuôi thứ nhất, tăng trưởng nhanh hơn vào các năm sau, cá 1 năm tuổi đạt trọng lượng 0,7 -  1 kg, 2 năm tuổi đạt 1,5 - 3kg.

 

(Hình 8: Cá Lăng Nha)

PHẦN II

KỸ THUẬT NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT

 

I. MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA CÁ

Cá luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường nước. Toàn bộ đời sống của cá và các sinh vật làm thức ăn tự nhiên cho cá đều gắn bó với nước. Bởi vậy, các yếu tố thủy lý, thủy hóa, thủy sinh của môi truờng nước luôn ảnh hưởng đến đời sống của cá.

1. Độ pH

pH là một ký hiệu dùng để diễn tả mức độ chua hoặc kiềm của nước và đất. Người ta chia độ pH ra làm 14 bậc, pH = 7 là môi trường trung tính, pH < 7 là môi trường axit, pH > 7 là môi trường kiềm.

Độ pH để cá sinh trưởng và phát triển tốt là pH = 7 - 8,5. Nếu pH càng thấp hoặc càng cao thì đều ảnh hưởng xấu đến đời sống của cá và có thể làm cho cá bị chết.

Độ pH ở trong ao nuôi cá thường dao động không lớn lắm.

2. Nhiệt độ nước

Nhiệt độ thích hợp để cá sinh trưởng và phát triển tốt nhất nằm trong khoảng 25 - 320C. Ngoài phạm vi nhiệt độ trên sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống của cá, nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều có thể làm cho cá bị chết.

Nhiệt độ nước ao hồ thường phụ thuộc vào nhiệt độ không khí, nhưng mức độ biến thiện chậm hơn nhiệt độ không khí. Càng xuống sâu nhiệt độ càng ổn định hơn. Bởi vậy về mùa lạnh, nước ở tầng đáy các ao hồ ấm hơn ở tầng mặt và ngược lại về mùa nóng nước ở tầng đáy mát hơn.

Do đó ở các ao hồ nuôi cá, để hạn chế ảnh hưởng xấu của nhiệt độ nước đến cá người ta thường sử dụng ao đảm bảo độ sâu mực nước đạt từ 1,2 - 1,5 m để nuôi cá.

3. Hàm lượng Ôxy hòa tan trong nước (DO)

Cũng như các loài động vật khác, cá rất cần có oxy để thở. Khác với động vật trên cạn, cá sống trong nước, hô hấp bằng mang nhờ oxy hòa tan trong nước. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước thích hợp để cá sinh trưởng và phát triển tốt là > 4 mg/l. Nếu hàm lượng oxy < 2 mg/l thì cá có thể bị ngạt cục bộ, nổi đầu, nếu kéo dài có thể gây chết cá.

Ở điều kiện thông thường, do hoạt động quang hợp của tảo, ở những ao có nhiều thực vật phù du thì hàm lượng oxy sẽ cao về ban ngày và thấp về ban đêm, đó là lý do cá thường bị nổi đầu vào ban đêm và lúc sáng sớm do thiếu oxy để thở.

Do vậy, ở các ao hồ nuôi cá cần phải giữ ổn định mức độ phát triển của thực vật phù du ở mức vừa phải để khắc phục tình trạng thiếu oxy trong ao.

4. Hàm lượng khí Cacbonic (CO2)

Khí CO2 có hại cho sự hô hấp của cá. Hàm lượng CO2 trong nước cao sẽ làm cho cá ngạt thở.

Nguồn CO2 được tạo ra trong nước ao nuôi là do sự hoà tan CO2 từ trong không khí vào nước và do quá trình hô hấp của sinh vật ở trong nước tạo ra. Ngoài ra, CO2 còn do quá trình phân giải chất hữu cơ trong nước, đây là nguồn tạo ra CO2 chủ yếu.

5. Hàm lượng khí Sunfuahydro (H2S)

Khí H2S là một khí rất độc cho cá.

Khí H2S được tạo ra bởi quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh lắng đọng dưới đáy ao hồ.

Những ao nuôi cá có lớp bùn, bả hữu cơ dày, nếu không được xử lý cải tạo kỹ trước khi thả cá, trong quá trình nuôi, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi có thể cá bị chết do hàm lượng khí H2S quá cao.

Do vậy để hạn chế ảnh hưởng của khí H2S đối với cá, những ao nuôi lâu ngày có lớp bùn, bả hữu cơ dày thì cần phải nạo vét hoặc phơi đáy, cải tạo kỹ càng. Đồng thời trong quá trình nuôi cần phải quản lý kỹ lượng thức ăn cho cá ăn tránh để dư thừa thức ăn.

II. CHUẨN BỊ AO NUÔI

1. Tiêu chuẩn ao nuôi thủy sản

Ao nuôi cá nên có diện tích từ 100 m2 trở lên, độ sâu tốt nhất từ 1 - 1,5 m nước, ao có 1 lớp bùn đáy dày từ 10 - 20 cm.

Mặt ao phải thoáng, bờ ao không bị rò rỉ và cao hơn mực nước từ 0,4 - 0,5 m; có cống cấp nước và tháo nước thuận tiện, gần nguồn nước sạch.

Nên chọn ao nuôi ở những vùng đất có nền đáy đất thịt, thịt pha sét hoặc bùn cát, không bị chua phèn hay nhiễm mặn.

Ao ở gần nguồn nước sạch, có thể chủ động cấp và thay được nước.

Ao nuôi nên làm theo hình chữ nhật hoặc hình vuông.

2. Chuẩn bị ao nuôi

Chuẩn bị ao trước khi vào vụ nuôi là một công tác hết sức quan trọng Việc xử lý, cải tạo môi trường nước trước khi thả nuôi ảnh hưởng lớn đến thành công của vụ nuôi. Xử lý môi trường nuôi tốt làm giảm các yếu tố gây hại có trong môi trường nước nuôi; giúp thủy sản nuôi khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh.

Nếu là ao cũ thì tát hoặc tháo cạn, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ ao, cống; vét bớt lượng bùn đáy nếu lượng bùn quá nhiều. Sau đó phơi nắng từ 5 - 7 ngày, đến khi nứt chân chim là đạt yêu cầu.

Nếu là ao mới đào thì cần tháo rữa đáy ao bằng cách cho nước vào ao, ngâm từ 1 - 2 ngày rồi tháo nước ra, làm như vậy từ 3 - 4 lần.

Rải đều vôi tôi (Ca(OH2)) khắp đáy ao để diệt mầm bệnh, giảm độ chua phèn của nền đáy ao nuôi, giữ cho độ pH trong nền đáy được ổn định và diệt các mầm bệnh có trong ao với lượng từ 7 - 10 kg/100m2 đáy ao. Nên rải vôi vào những ngày nắng. Có thể rải vôi quanh bờ ao để hạn chế phèn rỉ xuống ao nuôi.

Sau khi rải vôi 03 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao từ 20 - 30 kg phân chuồng. Cho nước vào ao khoảng 0,3 - 0,4 m, ngâm ao trong 2 - 4 ngày, tiếp tục cho nước vào ao với độ sâu 1m.

Có thể sử dụng Chlorine với nồng độ 30 ppm hoặc thuốc tím KMnO4 nồng độ 20 ppm hoặc Saponin nồng độ 18 ppm hoặc Rotenon nồng độ 15 ppm tạt đều khắp ao vào lúc sáng sớm để diệt tạp trong ao.

Lưu ý: Không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các chất cấm.

Nước lấy vào ao cần phải lọc bằng đăng hoặc lưới để đề phòng cá dữ, cá tạp xâm nhập. Sau 3 - 4 ngày quan sát thấy nước có màu xanh đọt chuối là được.

Nếu nước chưa lên màu có thể bổ sung thêm phân vô cơ gồm các loại: urê, lân, NPK. Có thể bón Urê: lân với tỷ lệ 2 : 1, hoặc NPK, liều lượng bón khoảng 0,2 kg/100m2.

Chú ý: phân vô cơ phải được hoà tan vào nước riêng rẽ từng loại rồi tạt đều xuống ao chứ không bón nguyên hạt,

Mục đích của việc bón phân nhằm tăng cường các chất dinh dưỡng, tạo thức ăn tự nhiên cho cá để sau khi thả là cá có sẵn thức ăn tự nhiên, cá sẽ ít hao hụt và chóng lớn.

III. CHỌN VÀ THẢ CÁ GIỐNG

1. Chọn giống

 Chất lượng con giống có ảnh hưởng rất lớn đến vụ nuôi sau này, con giống đạt chất lượng tốt góp phần vào thành công của vụ nuôi, vì vậy cần phải lựa chọn nguồn giống tốt.

Chọn con giống phải khoẻ mạnh, bơi lội hoạt bát, phản ứng nhanh với tiếng động, không xây xát, không dị hình, dị tật, không mầm bệnh, đồng đều về kích cỡ.

Kích cở giống: cá giống phải đảm bảo kích cỡ để khi nuôi đỡ bị hao hụt.

+ Cá Mè, cá Trắm: kích cỡ 12 - 15 cm.

+ Cá Chép, cá Tra: kích cở 8 - 12 cm.

+ Cá Rô phi, Lăng nha, Thát tát cườm: kích cở: 6 - 8 cm.

2. Thả giống

Thời điểm thả cá giống tốt nhất vào buổi sáng hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào lúc trời đang mưa to hay nắng gắt có thể làm cá bị sốc nhiệt.

Cách thả giống:

Trước khi thả cá nên tắm cho cá bằng nước muối 2% (20 gam muối + 1 lít nước) trong thời gian 5 - 10 phút để loại trừ ký sinh trùng và chống nhiễm trùng các vết xây xát.

Đối với cá giống được đóng trong túi nilon thì trước khi thả nên ngâm túi đựng cá vào trong nước ao khoảng 10 - 15 phút, để nhiệt độ trong túi nilon cân bằng với nhiệt độ môi trường nước ao nuôi, tạo điều kiện cho cá làm quen với môi trường sống mới. Khi thả một tay mở miệng túi cho nước chảy từ từ vào để cá bơi tự nhiên ra, đồng thời tay còn lại vỗ trên mặt nước tạo Oxy cho cá, khi cá ra khỏi túi 1/2 - 2/3 số con mới dốc túi cho cá ra hết.

Đối với cá giống được vận chuyển chở bằng ô tô quây bạt, trước khi thả giống cần cân bằng môi trường giữa nước ao với môi trường nước trên xe bằng cách vừa xả bớt nước trên thùng ra, đồng thời cấp thêm nước ở ao nuôi vào để cá không bị sốc môi trường, sau đó mới tiến hành thả cá từ từ.

Nếu có điều kiện, có thể quây lưới mắt nhỏ tại góc ao, sau đó thả cá giống vào đó và lắp máy bơm tạo dòng chảy nhẹ để tăng oxy cho cá. Đợi khi cá ổn định mới tiến hành thả cá ra ao, thì tỷ lệ sống sẽ cao hơn.

Có thể sử dụng Chlorine với nồng độ 5 pmm, Iodine nồng độ 10 ppm tạt đều khắp ao để loại trừ ký sinh trùng và chống nhiễm trùng các vết xây xát.

IV. XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ CHĂM SÓC, QUẢN LÝ AO TRONG QUÁ TRÌNH NUÔI

1. Sự cần thiết của xử lý môi trường

Trong quá trình nuôi, ao nuôi tích tụ rất nhiều chất độc do sự phân hủy các thức ăn thừa, bùn đáy nhiều, các chất hữu cơ lơ lững tích tụ, tảo phát triển, tích tụ mầm bệnh gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước nuôi. Tạo điều kiện cho dịch bệnh, hạn chế sự tăng trưởng và phát triển của thủy sản.

 Có thể sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước trong quá trình nuôi, quá trình này được duy trì định kỳ suốt cả vụ nuôi nhằm tạo ra môi trường tối ưu cho thủy sản sinh trưởng và phát triển.

Có thể sử dụng biện pháp hút bùn đáy trong quá trình nuôi nhằm hạn chế sự tích tụ khí độc, các chất hữu cơ lơ lững trong ao. Hút bùn đáy có thể thực hiện từ 01 - 02 lần trong quá trình nuôi.

2. Hiệu quả đạt được khi áp dụng xử lý ao nuôi trồng thủy sản

Xử lý môi trường nuôi nhằm tạo môi trường tối ưu cho thủy sản sinh trưởng và phát triển. Xử lý môi trường làm giảm các yếu tố gây hại có trong môi trường nước nuôi; giúp thủy sản nuôi khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh; hạn chế được dịch bệnh; rút ngắn quá trình nuôi, giảm chi phí cho việc điều trị bệnh, giảm hao hụt, nâng cao năng suất và chất lượng thủy sản nuôi.

3. Quản lý ao nuôi cá

Quản lý tốt ao nuôi cá sẽ giúp vụ nuôi thành công, nguời nuôi cá cần phải thăm ao hàng ngày để phát hiện các sự cố như sạt lở bờ, địch hại, ô nhiễm môi trường, bệnh cá, mưa lớn cá tràn ra … Hàng tháng, phải kiểm tra tốc độ lớn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp với nhu cầu của cá. Kịp thời thay nước, bổ sung nước, xử lý bệnh tật khi phát hiện các sự cố về môi trường.

4. Phòng bệnh chung cho cá nước ngọt

- Thực hiện quy định tại Điều 14, Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 15 của Luật thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Thiết kế cơ sở đảm bảo các hoạt động vệ sinh, khử trùng, khoanh vùng và xử lý khi dịch bệnh xảy ra thuận lợi, hiệu quả.

- Nguồn nước phải được xử lý mầm bệnh, kiểm soát các yếu tố môi trường, bảo đảm đủ Điều kiện vệ sinh thú y trước khi đưa vào sản xuất; nước thải, chất thải phải xử lý đạt yêu cầu theo quy định trước khi xả thải.

- Sử dụng giống thủy sản:

+ Phải có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, đảm bảo an toàn dịch bệnh và đáp ứng các Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về giống thủy sản;

+ Giống thủy sản từ cơ sở sản xuất ngoài tỉnh, nhập khẩu phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch; kiểm tra chất lượng theo quy định.

- Trường hợp sử dụng thức ăn tự chế, thức ăn tươi sống phải đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường.

- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật về nuôi, phòng bệnh, quản lý môi trường theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành thú y thủy sản, nuôi trồng thủy sản trong quá trình hoạt động của cơ sở; khuyến khích sử dụng vắc xin được phép lưu hành trong phòng bệnh động vật thủy sản.

V. NHỮNG BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CÁ NUÔI

A. NHÓM BỆNH DO KÝ SINH TRÙNG

1. Bệnh nấm thuỷ mi

a. Tác nhân gây bệnh

Gây bệnh là một số loài thuộc các giống: Leptolegnia, SaprolegniaAchlya.

Đây là các nấm dạng sợi, thuộc nhóm nấm bậc thấp, cấu tạo sợi nấm đa bào nhưng không có các vách ngăn. Sợi nấm có chiều dài từ 3 - 5 mm, đường kính sợi nấm khoảng 20 - 42µm, có phân nhánh và chia làm 2 phần, một phần gốc bám chắc vào cơ thể cá, phần ngọn tự do ngoài môi trường nước.

b. Triệu chứng

Khi cá bị bệnh nhẹ rất khó phát hiện bằng mắt thường, khi phát hiện được bằng mắt thường thì bệnh đã nặng.

Đầu tiên, trên da cá xuất hiện các vùng trắng xám, sau vài ngày tại đó mọc lên các sợi nấm mảnh và phát triển lên thành từng búi nấm trắng như bông.

Bệnh thường gặp vào mùa Đông và mùa Xuân.

c. Phòng bệnh:

Nuôi cá với mật độ thích hợp, hạn chế những tác động cơ học làm thủy sản nuôi bị thương tổn tạo điều kiện cho nấm xâm nhập.

Bổ sung Vitamin C định kỳ 2 - 3 lần/tuần để tăng cường sức đề kháng cho cá, hạn chế bệnh.

Diệt khuẩn định kỳ nguồn nước ao nuôi.

d. Trị bệnh:

Tắm cho cá bằng thuốc tím nồng độ 5 - 10 g/ m3 nước. Thời gian tắm 15 - 30 phút.

Sử dụng Chlorine với nồng độ 15 ppm (phần triệu), Iodine nồng độ 20 ppm tạt đều khắp ao để điều trị.


(Hình 9: Nấm thủy mi trên cá)

2. Bệnh trùng mỏ neo:

a. Tác nhân gây bệnh

Gây bệnh là giống Lernaea gây nên; cơ thể dài từ 6 - 12 mm, con đực nhỏ hơn con cái. Đầu có đôi sừng có hình dạng giống mỏ neo đâm sâu vào cơ thể ký chủ.

b. Triệu chứng

 Trùng ký sinh trên toàn bộ phần phía ngoài cơ thể cá như da, vây, đuôi, mắt, mũi, xoang miệng và mang, hút chất dinh dưỡng và gây nên những vết thương chảy máu.

Cá bị nhiễm trùng mỏ neo, thường gầy yếu, ngứa ngáy khó chịu, bơi lội chậm chạp, khả năng bắt mồi giảm dần. 

Nhiệt độ thích hợp cho trùng mỏ neo phát triển từ 18-30 độ C.

Bệnh xảy ra quanh năm và tỷ lệ nhiễm cao.

c. Phòng bệnh

Giữ nước ao sạch, không dùng nguồn nước ở các ao cá bệnh đưa vào ao nuôi.

Bổ sung Vitamin C định kỳ 2 - 3 lần/tuần để tăng cường sức đề kháng cho cá, hạn chế bệnh.

Diệt khuẩn định kỳ nguồn nước ao nuôi.

d. Trị bệnh

Tắm cho cá bằng thuốc tím nồng độ 5 - 10 g/ m3 nước. Thời gian tắm 15 - 30 phút.

Sử dụng Chlorine với nồng độ 15 - 20 pmm, Iodine nồng độ 20 ppm tạt đều khắp ao để điều trị.


(Hình 10: Trùng mỏ neo ký sinh trên cá)

3. Bệnh rận cá

a. Tác nhân gây bệnh

 Do các loài thuộc giống Argulus và Alitropus màu trắng ngà gây ra.

Ngoại hình rận có hình dạng giống con rệp, nên còn gọi là rận cá hoặc bọ cá, bọ vè. Rận cá có chiều dài cơ thể khoảng 4 - 8mm, mắt thường có thể nhận thấy được.

b. Triệu chứng

Trùng ký sinh bám trên da, vây, mang cá, chúng hút máu cá, đồng thời da bị hoại tử, làm viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng khác xâm nhập. Vì vậy nên nó thường cùng lưu hành với bệnh đốm trắng, bệnh đốm đỏ, lở loét dẫn đến làm cá chết hàng loạt.

Mặc khác chúng còn dùng tuyến độc qua ống miệng tiết chất độc phá hoại ký chủ làm cá có cảm giác ngứa ngáy, vận động mạnh trên mặt nước, bơi lội cuồng dại, cường độ bắt mồi giảm.

Cá bị bệnh này thường tách đàn bơi lờ đờ quanh bờ, khi bơi đầu hơi ngoi lên đuôi cắm xuống đáy.

Bệnh thường gặp vào mùa Xuân, mùa Thu.

c. Phòng bệnh

Giữ nước ao sạch, không dùng nguồn nước ở các ao cá bệnh đưa vào ao nuôi.

Bổ sung Vitamin C định kỳ 2 - 3 lần/tuần để tăng cường sức đề kháng cho cá, hạn chế bệnh.

Diệt khuẩn định kỳ nguồn nước ao nuôi.

d. Trị bệnh

Tắm cho cá bằng thuốc tím nồng độ 5 - 10 g/ m3 nước. Thời gian tắm 15 - 30 phút.

Sử dụng Chlorine với nồng độ 15 - 20 pmm, Iodine nồng độ 20 ppm tạt đều khắp ao để điều trị.

 

(Hình 11: Rận cá)

4. Bệnh xuất huyết (đốm đỏ) do vi khuẩn:

a. Tác nhân gây bệnh

Bệnh do nhiều loại vi khuẩn như: Aeromonashydrophila, Pseudomonas sp, E.ictaluri, Clostridium sp, … gây ra.

b. Triệu chứng

Cá kém ăn hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước.

Xuất hiện các đốm đỏ trên da, vảy và gốc vây; hậu môn xuất huyết; xoang bụng trương to và có nhiều dịch màu vàng; mang cá nhợt nhạt. 

Cơ quan nội tạng sưng to, xuất huyết.

Bệnh xuất hiện quanh năm, phát triển mạnh vào mùa mưa, thường gặp ở cá giống và cá thịt.

c. Phòng bệnh

Chọn cá giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh.

Quản lý môi trường nuôi tốt: xử lý môi trường định kỳ, hút bùn đáy, thay nước thường xuyên.

Bổ sung Vitamin C định kỳ 2 - 3 lần/tuần để tăng cường sức đề kháng cho cá, hạn chế bệnh.

Diệt khuẩn định kỳ nguồn nước ao nuôi.

d. Trị bệnh

Có thể dùng Kanamyxin: 50 mg/kg cá nuôi, cho ăn 7 ngày.


(Hình 12: Bệnh xuất huyết trên cá Diêu hồng)


(Hình 13: Bệnh xuất huyết trên cá Tra)

5. Bệnh gan thận mủ trên cá tra

a. Tác nhân gây bệnh

Bệnh mủ gan hay gan thận mủ (bệnh đốm trắng trên gan, thận) trên cá tra, cá basa do nhóm vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra

b. Triệu chứng

Mức độ nhẹ: Bên ngoài thân cá bình thường không biểu hiện xuất huyết, mắt hơi lồi nhưng khi mổ ra thì gan, thận, tỳ tạng có nhiều đốm trắng (như đốm mủ). Đó là biểu hiện bệnh lý đặc trưng nhất của bệnh mủ gan.

Mức độ nặng: Cá bệnh bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, cá thường nhào lộn và xoay tròn. Khi bệnh nặng cá không phản ứng với tiếng động. Một số cá xuất huyết tất cả các vi hoặc xuất huyết toàn thân. Có khi cá xuất huyết trầm trọng, khi nhấc lên khỏi mặt nước máu sẽ chảy ra từ da và mang cá.

Một số cá bệnh còn biểu hiện màu sắc nhợt nhạt, có nhiều vết xuất huyết lớn, nhỏ trên da. Số lượng cá chết hằng ngày khá cao và tỷ lệ tăng dần.

Bệnh thường xảy ra nhiều vào mùa mưa lũ kéo dài đến mùa khô, bệnh thường gặp ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá.

c. Phòng bệnh

Chọn cá giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh.

Quản lý môi trường nuôi tốt: xử lý môi trường định kỳ, hút bùn đáy, thay nước thường xuyên.

Bổ sung Vitamin C định kỳ 2 - 3 lần/tuần để tăng cường sức đề kháng cho cá, hạn chế bệnh.

Diệt khuẩn định kỳ nguồn nước ao nuôi.

d. Trị bệnh

Có thể dùng Florfenicol với liều 10 mg/kg thể trọng liên tục cho ăn trong 10 - 12 ngày hoặc có thể kết hợp với Doxycyclin với liều 20 mg/kg thể trọng cho ăn liên tục trong 07 ngày.

Hoặc sử dụng Amoxicillin với liều lượng 25 mg/kg thể trọng cho ăn liên tục 7 - 10 ngày.


(Hình 14: Bệnh gan thận mủ trên cá Tra)

Chi cục Chăn nuôi và Thú y

Lượt người xem:  Views:   217
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật