Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 29/04/2019, 18:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lúa
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
29/04/2019 | Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
Tại Tây Ninh các vùng sản xuất lúa tập trung chủ yếu vào 02 loại hình: Đất giàu hữu cơ, trũng thấp, ven sông Vàm Cỏ được bổ sung phù sa hàng năm; sản xuất 02 vụ lúa chính/năm với năng suất lúa đạt khá cao tương đương vùng ĐBSCL, không sản xuất vụ 3 do ngập. Đất triền gò, cát pha, nguồn nước tưới được cung cấp đầy đủ từ hệ thống thủy lợi, có thể sản xuất 03 vụ lúa /năm hoặc luân canh từ 01 – 02 vụ trồng cây rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên loại đất này thường cho năng suất đạt không cao so với đất phù sa ven sông

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY LÚA

 

I. YÊU CẦU VỀ SINH THÁI

1. Đất trồng

Đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa. Ngoài ra, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động nước.

2. Nước tưới

Lượng mưa: Yêu cầu 900 - 1100 mm cho một vụ lúa. Tại Tây Ninh hàng năm có tổng lượng mưa khoảng 1.800 mm, phù hợp để trồng lúa. Ngoài ra, lượng nước còn được bổ sung từ hệ thống thủy lợi cung cấp đủ để tưới cho các vùng trồng lúa.

3. Ánh sáng 

Cây lúa có yêu cầu thời gian chiếu sáng < 13 giờ/ngày và thích hợp nhất từ 9 – 10 giờ/ngày.

4. Nhiệt độ  

Tây Ninh có nhiệt độ cao quanh năm và tương đối ổn định từ 26 – 32oC nên có thể trồng lúa quanh năm và thích hợp nhất từ 26-28oC. Nhiệt độ trên 40oC hoặc dưới 17oC, cây lúa tăng trưởng chậm lại. Dưới 13oC cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài 1 tuần lễ cây lúa sẽ chết.

II. CÁC VÙNG SẢN XUẤT

Tại Tây Ninh các vùng sản xuất lúa tập trung chủ yếu vào 02 loại hình:

Đất giàu hữu cơ, trũng thấp, ven sông Vàm Cỏ được bổ sung phù sa hàng năm; sản xuất 02 vụ lúa chính/năm với năng suất lúa đạt khá cao tương đương vùng ĐBSCL, không sản xuất vụ 3 do ngập.

Đất triền gò, cát pha, nguồn nước tưới được cung cấp đầy đủ từ hệ thống thủy lợi, có thể sản xuất 03 vụ lúa /năm hoặc luân canh từ 01 – 02 vụ trồng cây rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên loại đất này thường cho năng suất đạt không cao so với đất phù sa ven sông.

III. CÁC GIỐNG LÚA PHỔ BIẾN

Chọn giống lúa có năng suất cao, chống chịu được một số sâu bệnh hại và phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương như:

- Giống có thời gian sinh trưởng từ 85 – 90 ngày: IR 50404 (hạn chế trồng trên diện tích lớn).

- Giống có thời gian sinh trưởng từ 90 – 100 ngày: OM 4900, OM 5451, OM 6162, OM 6976, OM 7347, OM 4218, OM 2517,…

- Giống có thời gian sinh trưởng từ 100 – 115 ngày (trung vụ): OM 1352, OM 576 (trâu nằm, hầm trâu),….

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC           

1. Thời vụ trồng

Tại Tây Ninh, một năm có thể gieo trồng 3 vụ lúa, thời điểm xuống giống từng vụ thường tập trung vào thời gian:

- Vụ Hè thu: tháng 4–5 (DL).

- Vụ Mùa (vụ Thu đông): tháng 8–9 (DL).

- Vụ Đông xuân: tháng 11–12 (DL).

Thời điểm gieo sạ cụ thể từng vụ tuân thủ theo lịch xuống giống tập trung của ngành Nông nghiệp.

2. Chuẩn bị giống

a. Chuẩn bị hạt giống

- Sử dụng hạt giống lúa cấp xác nhận.

- Trước khi ngâm ủ nên phơi lại dưới nắng nhẹ khoảng 2 – 3 giờ, sau đó mới tiến hành ngâm ủ. Tốt nhất lấy một ít hạt giống đại diện kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, trong trường hợp tỷ lệ nảy mầm đạt > 80%, mầm mọc đều, khỏe thì  tiến hành ngâm ủ chính thức. Để loại bỏ hạt lép lững, có thể xử lý trong nước sạch hoặc nước muối 15%  (15 kg muối + 100 lít nước /100 kg giống /10 phút) và xả lại bằng nước nhiều lần cho sạch muối mới đem ngâm ủ hạt giống.

- Ngâm giống: Ngâm hạt giống trong 12 - 24 giờ, trong quá trình ngâm cần rửa chua, nhờn thay nước sạch  từ 1-2 lần. Trong trường hợp  lúa giống mới thu hoạch còn miên trạng, cần ngâm giống trong dung dịch Axit nitric (HNO3) có liều lượng 100 ml/100 lít nước/ 100 kg lúa giống/ 24–36 giờ, sau đó rửa giống cho sạch hết axit và tiến hành ủ bình thường.

- Ủ giống: Cho hạt giống vào bao (bao không giữ nước), ủ kín trong thời gian 12 – 24 giờ, cho đến khi mầm lúa được 0,5 – 1,0 mm để thuận lợi cho việc kéo hàng. Thường xuyên kiểm tra đống ủ nhằm đảo bảo hạt giống đủ m, nhiệt độ không nóng hoặc quá lạnh sẽ làm giảm sức nẩy mầm của hạt.

b. Biện pháp gieo sạ, mật độ sạ

Lượng hạt giống cho sạ lan: 100–120 kg/ ha; sạ hàng: 80–100 kg/ ha.

Gieo hàng bằng công cụ sạ hàng kéo tay hoặc liên hợp với máy kéo.

3. Chuẩn bị đất (làm đất)

- Cày đất bằng máy với độ sâu từ 15–20 cm. Nếu có điều kiện nên cày phơi ải đất thời gian 15-20 ngày.

- Bừa, trục và san bằng mặt ruộng bằng máy kéo bánh lồng có công cụ trang phẳng mặt ruộng kèm theo, trường hợp có điều kiện nên sử dụng máy san phẳng mặt ruộng bằng tia laser.

Chú ý: Mặt ruộng bằng phẳng, đánh rãnh thoát nước và và quản lý nước tốt để hạn chế cỏ dại, ốc bươu vàng, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt,...

4. Phân bón:

Lượng phân bón cần cho 1 ha lúa: Phân hữu cơ 8-10 tấn hoặc phân hữu cơ vi sinh 1.000–1.500 kg, vôi bột 300–400 kg và (80–100) N – (50–60) P2O5 – (80–100) K2O.

Tuỳ theo mùa vụ và độ phì nhiêu của đất mà quy đổi  lượng phân bón sử dụng cho phù hợp.

Cách bón:

- Bón lót: Toàn bộ vôi, phân chuồng hoai và lân (vôi bột: bón trước khi sạ 15 – 20 ngày lúc cày phơi ải; phân chuồng hoai và lân bón trước khi bừa trục lần cuối).

- Bón thúc lần 1 (7 – 10 NSS): 1/3 N + 1/3 K2O

- Bón thúc lần 2 (18 – 22 NSS): 1/3 N.

- Bón thúc lần 3 (38 – 45 NSS): 1/3 N + 2/3 K2O (bón khi lúa có tim đèn).

Ghi chú: - NSS: ngày sau sạ

Sử dụng phân đơn bón cho lúa để tính toán lượng phân bón cân đối phù hợp theo nhu cầu của cây. Ngoài ra, hiện nay trên thị trường đã có nhiều loại phân bón chuyên dùng cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa có thể lựa chọn bổ sung cho phù hợp.

5. Quản lý nước

Áp dụng phương pháp tưới nước tiết kiệm "ướt khô xen kẽ". Trong đó:

- Giai đoạn cây con (0–7 NSS): Rút cạn nước trước khi sạ, đảm bảo ruộng đủ độ ẩm.

- Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (08 – 42 NSS): Giữ nước trên mặt ruộng ở mức 5 cm. Trong giai đoạn khoảng 30 – 35 NSS tùy theo thời gian sinh trưởng của giống, cần tháo cạn nước cho đất nứt nẻ chân chim, lá lúa hơi vàng, sau đó cho nước mới vào để bón phân lần 3.

- Giai đoạn sinh trưởng sinh thực (42 – 65 NSS): Giai đoạn này lúa cần nước nhiều, phải thường xuyên giữ nước trong ruộng ở mức 3–5 cm.

- Giai đoạn chín (65–95 NSS): Giữ nước trong ruộng ở mức 2–3 cm đến giai đoạn chín vàng (7–10 ngày trước khi thu hoạch) tháo cạn nước trong ruộng.

6. Phòng trừ cỏ dại:

- Sử dụng thuốc hóa học để phun trừ cỏ, gồm có 02 nhóm thuốc:

+ Thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm phun vào thời điểm từ 1–3 ngày sau sạ: Hoạt chất Pretilachlor, Pyrazosulfuron Ethyl, ...

+ Thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm phun vào thời điểm từ 5–10 ngày sau sạ: Cyhalofop-butyl, Quinclorac,...

* Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng thuốc hóa học để trừ cỏ:

- Chuẩn bị đất kỹ: ruộng cần phải bừa trục kỹ, mặt ruộng tương đối bằng phẳng để thuốc phân bố đều và tiếp xúc tốt với cỏ.

- Quản lý nước:

+ Rút cạn nước, đất phải đủ ẩm trước khi phun thuốc trừ cỏ.

+ Sau khi phun thuốc 2–3 ngày, lấy nước vào láng mặt ruộng, đất cần được giữ ẩm tốt trong vòng 3 – 5 ngày sau khi phun nhằm đảm bảo cho thuốc có đủ thời gian diệt cỏ hữu hiệu. Không nên để mặt ruộng bị khô, nứt nẻ.

- Thời điểm phun thuốc càng sớm càng hiệu quả, nhất là đối với thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm.

- Sử dụng đúng theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên bao bì (nhãn  thuốc).

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

Áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM). Thời kỳ trước 40 NSS không nên phun thuốc trừ sâu. Hạn chế tối đa sử dụng thuốc hóa học, nhất là các loại thuốc trừ  sâu phổ rộng để bảo tồn thiên địch tự nhiên trên ruộng, hạn chế bùng phát rầy nâu ở giai đoạn sau trổ.

Thăm đồng thường xuyên, theo dõi sự xuất hiện của sâu bệnh hại và đưa ra biện pháp phòng trị hiệu quả.

1. Ốc bươu vàng (Pomacea sp.)

Ốc bươu vàng là loại ốc sống ở nước ngọt, ăn tạp, có tính thích nghi cao, trong điều kiện  nước bẩn, nước phèn ,… chúng đều sống và phát triển được; kết hợp đặc tính sinh sản nhanh nên ốc bươu vàng đã lây lan và phát triển rộng khắp các vùng trồng lúa.

Trên lúa ốc bươu vàng gây hại từ khi mọc mầm đến hết tuổi mạ, làm mất cây, tốn công dặm và làm giảm năng suất. Khi mật số cao gây hại nặng phải gieo sạ lại.

Ốc đẻ tập trung từng cụm từ 25 – 500 trứng, thường đẻ vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối. Ốc có tập tính đẻ trứng lên các  cây, cọc và các vật cứng khác cách mặt nước 0,3 – 0,5 m. Từ khi đẻ đến lúc trứng nở 7 – 14 ngày. Trứng ốc mới đẻ có màu đỏ hồng, sau nhạt dần, khi gần nở trứng có màu hồng nhạt.


Ốc mới nở có vỏ mềm, rơi xuống nước thì nổi lập lờ trên mặt nước. Sau 2 ngày thì vỏ ốc cứng, có kích thước 2 – 5 mm. Ốc sống và phát triển mạnh ở dưới nước trong các ao, hồ, kênh, mương, sông ngòi, ruộng ngập nước, nhưng cũng sống được một thời gian trên cạn. Khi trời nóng thì ốc lặn sâu dưới mặt nước và thường tập trung ở nơi bóng râm. Khi ruộng, ao, hồ cạn nước, ốc chui sâu trong bùn, ngủ nghĩ. Thời gian ngủ nghĩ có thể kéo dài đến  6 tháng. Khi có nước ốc lại tiếp tục phát triển. Ruộng nào có nước quanh năm thì ốc cũng hiện diện quanh năm. Thời kỳ ốc non từ 15 – 25 ngày, thời kỳ ốc trưởng thành 26 – 59 ngày. Ốc trưởng thành bắt đầu giao phối và đẻ trứng. Ốc trưởng thành  có thể sống đến 3 năm.

Phòng trừ:

- Biện pháp canh tác:

+  Làm rãnh quanh ruộng cho ốc tập trung xuống rãnh để dễ thu lượm.

+  Bắt ốc vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối là lúc ốc hoạt động mạnh. Bắt ốc theo các rãnh, lưới chắn. Chú ý ốc thường ở nơi có mực nước sâu hơn so với mực nước chung trên mặt ruộng. Thường xuyên bắt ốc từ khi gieo sạ - thu hoạch.

+ Cắm cọc ven bờ khoảng cách 3 – 4 m/ cây ở những nơi có nước chảy và chổ rảnh sâu để dẩn dụ ốc đến đẻ trứng, dể thu lượm và diệt trứng ốc. Diệt trứng ốc bằng cách đập nát hoặc đánh rơi xuống nước và trứng sẽ thối.

- Biện pháp hóa học:

Thuốc hóa học trừ diệt ốc bươu vàng thường rất độc với người, động vật thủy sinh và môi trường, chỉ sử dụng khi cần thiết và theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Có thể sử dụng một số loại thuốc có hoạt chất như: Metaldehyde, Niclosamide, Pentacyclic triterpenoids alcaloid, Saponin, Cafein + Nicotine Sulfate + Azadirachtin,  hoặc hợp chất phối hợp có trong danh mục được phép sử dụng ở VN.

2. Bọ trĩ  (Baliothrips oryzae)

Bọ trĩ (bù lạch) thường gây hại khi lúa có 2 lá mầm đến đẻ nhánh. Ấu trùng và thành trùng chích vào mô lá để hút nhựa cây, chúng thường phá hại mạnh ở phiến lá của những lá non. Những lá bị hại có những đường sọc màu bạc, hai mép lá cuộn vào trong theo chiều dọc lá tạo thành nơi trú ẩn cho cả thành trùng và ấu trùng. Khi bị hại nặng,  mô diệp lục lá bị mất chỉ còn lại màng biểu bì trong suốt, lá bị vàng và cuốn từ chóp lá trở vào.

Bọ trĩ gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết nóng, khô; ruộng thiếu nước, thiếu phân.


Hình 2: Triệu chứng gây hại của bọ trĩ (sưu tầm)

Phòng trị:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ quanh bờ nhất là nhóm cỏ họ hòa bản.

+ Khi ruộng bị gây hại, cho nước vào ruộng làm ngập đọt lúa khoảng 2 ngày để diệt bọ trĩ.

+ Bón phân sớm, đầy đủ, cân đối và cung cấp đủ nước tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng mạnh, tăng khả năng đền bù.

+ Khi phát hiện 15% tép, dảnh lúa bị hại, có thể sử dụng thuốc BVTV một trong số hoạt chất như: Abamectin, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid..... Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

3. Sâu phao (Nymphula depunctatus Guenee)

Sâu phao thường gây hại ở chân ruộng ngập nước và tấn công trên lúa giai đoạn mạ đến đẻ nhánh, chúng cắn lá để cuốn lại thành bao làm lá bị đứt ngang giống như kéo cắt. Sâu non tuổi nhỏ nằm trong phao và ló đầu ra cạp mô diệp lục của lá, chỉ để lại lớp biểu bì mỏng xơ trắng, vết cạp của sâu nằm theo chiều ngang lá lúa. Sâu non tuổi lớn cắn cụt đầu lá, tạo thành các phao lá nổi trên mặt nước ruộng. Ruộng bị tấn công nặng có màu hơi trắng vì đầu lá bị hư. Thông thường sâu phao chỉ xuất hiện 1 đợt trong 1 vụ lúc lúa tuổi mạ đến cuối đẻ nhánh. Trong ruộng lúa, cùng có sự xuất hiện gây hại của ruồi đục lá và sâu đục thân thì tác hại càng lớn.


Hình 3: Sâu phao hại lúa (sưu tầm)

Phòng trị: Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại. Khi sâu phao xuất hiện nhiều, có mật số ≥ 20 con/m2 ,tháo cạn nước, thu gom các tổ sâu lại đem hủy; có thể dùng thuốc hóa học có hoạt chất sau để phun xịt như: Abamectin, Azadirachtin,  Chlorantraniliprole, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Lambda-cyhalothrin, Cypermethrin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,…… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

4. Sâu keo, sâu đàn   (Spodoptera mauritia)

Sâu keo có khả năng phát sinh thành dịch ở những vùng lúa sau vụ ngập lụt. Tùy theo tuổi sâu mà có triệu chứng gây hại khác nhau: Sâu non tuổi 1,2 ăn phần thịt lá, chỉ để lại biểu bì có vệt trắng dài. Tuổi 3: ăn khuyết lá. Từ tuổi 4, 5, 6 vết khuyết càng lớn hoặc cắn cụt lá, thân mạ. Khi thành dịch, sâu cắn cả 1 vạt lúa như trâu bò ăn.


Hình 4: Sâu keo và triệu chứng gây hại (sưu tầm)

Phòng trị: Khi phát hiện trên ruộng có mật số sâu ≥ 2 con/m2 , có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để phun xịt như: Abamectin, Chlorantraniliprole, Cartap, Azadirachtin, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,… Lưu ý: Phun vào lúc chiều tối và liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

5. Sâu năn hại lúa (Orseolia oryzae)

Còn gọi là muỗi lá hành, sâu ống hành.

Triệu chứng điển hình là lá ngọn của lúa cuốn tròn lại như lá hành, có màu xanh nhạt, phía đầu lá hành được bịt kín bằng một nút cứng do mô lá tạo thành.          Khi sâu non mới xâm nhập vào đỉnh sinh trưởnglàm gốc dảnh lúa tròn và to lên. Khi lá hành chưa vươn ra ngoài còn ở trong thân lúa, làm thân lúa hoặc mạ phình lên rõ rệt. Ống hành thường xuất hiện trong khoảng thời gian 7 – 10 ngày sau khi sâu non xâm nhập vào đỉnh sinh trưởng. Dảnh lúa bị biến thành ống hành sẽ không trỗ bông được nhưng có thể mọc chồi mới để bù lại số chồi bị hại. Nếu ruộng bị hại sớm, khả năng đền bù cao sẽ ít ảnh hưởng đến năng suất.


Hình 5: Triệu chứng gây hại của sâu năn - muỗi hành (sưu tầm)

Sâu năn phát triển trong điều kiện thời tiết tương đối ẩm, có mưa và ít nắng. Sâu thường phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết âm u, mưa nhiều, nhiệt độ từ 22-250C, ẩm độ từ 80-90%. Ngoài cây lúa, sâu năn còn có thể sinh sống trên các ký chủ phụ như lúa chét, lúa ma, một số các loại cỏ hòa bản như cỏ lồng vực (Echinochloa colona, E. crusgalli), cỏ san nước (Paspalum distichum), cỏ mỡ (Ischaemum aristatum), cỏ bắc (Leersia hexandra), cỏ ống (Panicum repens), cỏ lông tây (Brachiaria mutica), … trong thời kỳ không có lúa trên đồng.

Phòng trị:

- Vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ lúa chét, cỏ dại và các ký chủ phụ của sâu năn. Gieo sạ đồng loạt trên từng cánh đồng. Dùng bẫy đèn để diệt muỗi và dự báo đợt sâu gây hại. Kịp thời tháo nước phơi ruộng hạn chế sự lây lan phát triển của sâu, nhất là khi phát hiện trên ruộng chớm có dảnh lúa bị hại. Bón phân cân đối giữa N – P – K, tránh bón thừa đạm; bón phân đúng lúc giúp lúa đẻ nhánh tập trung. Sâu năn có nhiều loại thiên địch, nhất là loài ong ký sinh trên sâu non. Thường sau một đợt sâu năn phát sinh rộ, mật độ ký sinh cũng tăng làm giảm hẳn mật độ sâu của lứa sau, do đó khi sử dụng thuốc phòng trừ cần chú ý đặc điểm này.

- Khi phát hiện trên ruộng ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh có tỷ lệ ≥ 20%; giai đoạn làm đòng – trổ có tỷ lệ ≥ 10% và sâu chưa hóa nhộng, muỗi thì có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để rải hoặc phun xịt như: Chlorantraniliprole, Cartap, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, … Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý: Không phun, rải thuốc khi sâu đã hóa nhộng, hóa muỗi.

6. Sâu đục thân

Gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của lúa (kể cả giai mạ). Ở giai đoạn mạ - làm đòng, sâu non đục lổ chui vào thân cắn đứt ngang đọt lúa làm đọt lúa bị héo, sau đó dảnh lúa này chết. Vào giai đoạn lúa trổ, sâu cắn đứt ngang cuốn bông làm bông lúa không kết hạt được, bị bạc trắng (hiện tượng bông bạc). Dảnh lúa bị héo và bông bạc do sâu đục thân có thể rút ra dễ dàng. Sâu có thể gây hại các vụ lúa trong năm và thường xuất hiện 2 đợt/vụ: lúc lúa đẻ nhánh và lúc lúa trổ,  giai đoạn lúa trổ bị hại nặng nhất.


Hình 6: Triệu chứng gây hại của sâu đục thân (sưu tầm)

Phòng trị:

+ Sau khi thu hoạch dọn hết rơm rạ, cày lật đất để tiêu diệt sâu non và nhộng.

+ Trong thời gian mạ ngắt bỏ ổ trứng ngăn ngừa lứa sâu non.

+ Bón phân cân đối đầy đủ, quản lý nước, làm sạch cỏ dại ,… tạo điều kiện lúa sinh trưởng tốt tăng khả năng đền bù.

+ Dùng bẫy đèn thu bắt bướm để dự báo lứa sâu non phát sinh gây hại.

+ Khi phát hiện mật độ ổ trứng từ 0,5 ổ/m2; 10 % tép, dảnh lúa bị héo ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh hoặc 0,3 ổ trứng/m2; 5% bông bạc ở giai đoạn làm đòng - trỗ thì có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để rải hoặc phun xịt như: Chlorantraniliprole, Cartap, Fipronil, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, … Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý: Các dạng thuốc hạt dùng rải trên ruộng và giữ mực nước từ 3 – 5 cm.

7. Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis)

Sâu non gặm mô diệp lục chừa lại lớp biểu bì lá tạo thành những vệt trong và trắng theo chiều dọc của phiến lá. Sâu nhả tơ cuốn 2 mép lá lại  thành hình ống, sinh sống, gây hại và hóa nhộng bên trong. Ruộng lúa bị hại nặng, mỗi cây có nhiều lá bị cuốn trắng xơ xác và héo khô. Khi lúa ở giai đoạn đòng – trổ, sâu thường xuất hiện gây hại trên lá đòng và bị hại nặng sẽ ảnh hưởng đến năng suất.


Hình 7: Sâu cuốn lá và triệu chứng gây hại (sưu tầm)

Sâu cuốn lá nhỏ phát triển mạnh trong điều kiện: Gieo sạ quá dày. Bón phân không cân đối, bón quá nhiều phân đạm. Trong ruộng lúa và quanh bờ có nhiều cỏ họ hòa bản là ký chủ phụ của loài sâu này. Phun xịt các loại thuốc trừ  sâu phổ rộng sớm trước 40 NSS làm chết các thiên địch đồng ruộng.

Phòng trị: Khi mật số sâu cuốn lá cao, giai đoạn < 40 NSS có mật số ≥ 50 con/m2 hoặc giai đoạn > 40 NSS có mật số ≥ 20 con/m2, có thể dùng thuốc có hoạt chất sau để phun xịt như: Chlorantraniliprole,  Cartap,  Emamectin benzoate +  Avermectin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,…  

Lưu ý: Để hiệu quả phòng trừ nên phun lúc sâu còn tuổi nhỏ và vào lúc chiều mát. Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất trên bao bì sản phẩm.

8. Sâu phao đục bẹ

Triệu chứng gây hại: Tuổi 1,2 cạp nhu mô, cắn thủng lá lúa nhiều chỗ làm mép lá lúa bị rách răng cưa hai bên mép lá, làm lá bị gãy nằm dài xuống mặt nước; thấy nhiều phao trên mặt nước. Tuổi 3, 4, 5 đục vào thân cây rất nhiều chỗ làm cây lúa bị héo vàng hoặc thân lúa bị chết đọt, lúa bị lùn, chậm phát triển và chết nhanh sau đó.


Hình 8: Sâu phao đục bẹ và triệu chứng gây hại (sưu tầm)

Phòng trị: Tránh để ruộng ngập sâu trong giai đoạn đầu của cây lúa nhằm hạn chế sự phát triển mật số của sâu phao đục bẹ. Khi phát hiện có sâu gây hại nên rút cạn nước phơi ruộng để hạn chế sự lây lan. Có thể sử dụng một trong các hoạt chất sau để trị như: Carbosulfan,  Chlorantraniliprole, Cartap, Fipronil, Lambda-cyhalothrin, … Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

9. Rầy nâu (Nilaparvata lugens)

Rầy nâu trú ẩn ở phần gốc của cây lúa gần sát mặt nước để chích hút nhựa ở bẹ lá lúa lúa làm lá bị héo vàng, cây lúa sinh trưởng kém, nếu mật độ rầy cao có thể làm cây lúa bị khô cháy gọi là hiện tượng cháy rầy. Khi bị khua động thì lẫn trốn bằng cách bò ngang hoặc nhảy sang cây khác. Rầy trưởng thành có xu hướng ánh sáng mạnh. Rầy nâu còn là vectơ truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá hại lúa.


Hình 9: Rầy nâu (sưu tầm) và triệu chứng cháy rầy

Rầy nâu phát sinh mạnh trong điều kiện: Thời tiết nóng ẩm. Sạ dày, bón thừa đạm.  Gieo trồng giống nhiễm rầy. Phun thuốc trừ sâu nhiều, tiêu diệt hết lượng thiên địch làm cho rầy bùng phát gây hại nặng.

Phòng trị:

- Gieo sạ vào thời điểm ngay sau đợt rầy nâu di trú vào đèn rộ để có thể né rầy.

- Sử dụng giống kháng rầy nâu.

- Khi phát hiện mật số rầy nâu cao (≥ 03con / tép, nhánh lúa), có thể sử dụng thuốc đặc trị rầy có hoạt chất như: Buprofezin, Pymetrozine, Fenobucarb, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid hoặc các sản phẩm hỗn hợp các hoạt chất trên lại với nhau để phun xịt. Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

10. Bọ xít đen  (Scotinophora lurida)

Chích hút nhựa lúa, làm nghẽn mạch dẫn, lá bị vàng. Cây lúa sinh trưởng kém, ít đẻ nhánh. Khi bị nặng làm bông lép lững, cây lúa bị cháy khô, giống như cháy do rầy nâu.

Bọ xít đen phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm và có mưa nhiều.   Giống lúa dài ngày bị hại nhiều hơn giống ngắn ngày. Trong vụ lúa thường gây hại ở giai đoạn đẻ nhánh rộ đến làm đòng.


Hình 10: Bọ xít đen hại lúa (sưu tầm)

Phòng trị: Vệ sinh đồng ruộng sau thu họach, không để rơm rạ, lúa chét là nguồn thức ăn để bọ xít duy trì lây lan gây hại. Dùng bẫy đèn để thu bắt trưởng thành và dự báo sự xuất hiện của loài này. Bơm nước cao 15-20 cm, giữ nước trong 36-48 giờ để diệt các ổ trứng dưới gốc lúa. Khi phát hiện mật số bọ xít ≥ 20 con/m2, có thể dùng sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để phun xịt như: Dimethoate,  Deltamethrin, Lambda –cyhalothrin, Pymetrozine, Fenvalerate, Fipronil, … hoặc một số hoạt chất phối hợp có trong danh mục được phép sử dụng ở VN. Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý : Bọ xít thường tập trung ở gốc lúa, nên đưa vòi phun xuống tận gốc lúa để bọ xít dễ chết.

11. Bọ xít hôi, bọ xít dài (Leptocorisa acuta)

Bọ xít non và trưởng thành chích hút sữa của bông lúa non làm cho bông lúa bị lững lép, vỏ trấu bị đen, gạo xay dễ vỡ, năng suất và phẩm chất gạo đều giảm. Gây hại lúa từ giai đoạn trổ trở đi, nặng nhất là lúc lúa ngậm sữa.

Phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm, mưa nhiều. Những ruộng trổ sớm hoặc trổ muộn hơn các ruộng khác trong cánh đồng; ruộng lúa gần bìa rừng, gần ruộng rau màu và có nhiều cỏ dại thường bị hại nặng.


Hình 11: Bọ xít hôi, bọ xít dài hại lúa (sưu tầm)

Phòng trị: Gieo sạ tập trung đúng thời vụ. Vệ sinh đồng ruộng nhằm hạn chế thức ăn và nơi cư trú. Khi phát hiện mật số bọ xít ≥ 6 con/m2 ở giai đoạn trổ đều – ngậm sữa, có thể dùng sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để phun xịt như: Dimethoate,  Deltamethrin, Lambda –cyhalothrin, Pymetrozine, Fenvalerate, Fipronil, … hoặc một số hoạt chất phối hợp có trong danh mục được phép sử dụng ở VN. Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm. 

12. Chuột  (Rattus – rattus argentiventure)

Tác hại: Trong sản xuất nông nghiệp: Chuột là dịch hại quan trọng đối với nhiều cây trồng như lúa, mía, đậu phọng, dứa,… Trên  cây lúa, chúng phá hại hầu hết tất cả các giai đoạn sinh trưởng, đặc biệt gây nặng nhất là giai đoạn mới gieo sạ chuột ăn mầm lúa chỉ chừa lại vỏ trấu; giai đoạn đòng trổ chúng cắn phá đòng, bông lúa. Chúng phá hại mương, cống, đê điều,...

Chuột là loài gặm nhấm có những đặc tính sau:

Phạm vi hoạt động rộng, quen đi theo lối mòn. Thích sống nơi rậm rạp. Đào hang, bơi lội và leo trèo giỏi,  hay liếm lông. Ăn nhiều, ăn tạp nhưng không ăn những vật lạ. Răng cửa sắc nhọn và mọc liên tục. Đa nghi và tinh khôn. Nhận biết nhanh những thay đổi của môi trường. Chúng thường hoạt động  lúc trời nhá nhem tối khoảng 18 – 21 giờ và lúc trời tờ mờ sáng 3 – 5 giờ. Sinh sản nhanh, 2 tháng bắt đầu đẻ, khoảng 3 – 4 lứa/năm, mỗi lứa khoảng 5 – 8 con. Chuột có thể sống hơn 1 năm.

Ngoài đồng, giai đoạn mới gieo sạ chuột ăn mầm lúa chỉ chừa lại vỏ trấu; giai đoạn đòng trổ chúng cắn phá đòng, bông lúa. Lúc này chuột thường gây hại lớn do cắn lúa làm thức ăn và để mài răng.

Phòng trừ:

- Biện pháp canh tác:

+ Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, phát hoang bụi rậm tiêu diệt nơi ẩn nấp của chuột. Tìm và phá ổ chuột ngay từ đầu vụ. Sau thu hoạch, dọn sạch rơm rạ, tàn dư cây trồng để hạn chế nơi cư trú của chuột.

+  Gieo trồng và thu hoạch tương đối đồng loạt nhằm cắt nguồn thức ăn liên tục trên đồng và nơi trú ẩn của chuột.

+ Giữ mực nước trong ruộng khoảng 10 – 15 cm để hạn chế chuột phá hại.

- Biện pháp cơ học:

+ Đào và săn bắt chuột. Đây là biện pháp mang tính chất cộng đồng và rất có hiệu quả, huy động nhân dân, thanh niên đào hang để bắt chuột. Nên thực hiện lúc nước nổi, chuột tập trung vào hang hiệu quả sẽ cao hơn.

+  Dùng bẩy sập, bẫy lồng.

+ Dùng ny lông bao quanh ruộng.

+  Dùng bẫy cây trồng: Đây là biện pháp làm giảm mật số chuột đáng kể, có hiệu quả trong các biện pháp phòng trừ  chuột, mang tính cộng đồng đã được áp dụng rộng rãi.

Chọn ruộng 1000 m2 ở khu vực trung tâm để làm bẫy, ruộng chọn làm bẫy cần sạ sớm hơn các ruộng khác trong khu vực khoảng 15 – 20 ngày để dẫn dụ chuột vào bẫy trước khi vụ sản xuất bắt đầu, một bẫy cây trồng có khả năng bảo vệ khoảng 20 –25 ha ruộng.

Cách làm bẫy cây trồng: Lấy nylon bao quanh ruộng chọn, cách 1 –2 m cắm một cọc tre để cột giữ nylon và chống gió, lấy bùn hoặc đất đắp lên khoảng 10cm nylon ở chân rào phía ngoài để chuột không cắn và chui qua được. Mỗi ruộng đặt khoảng 8 –9 bẫy hom phía trong rào cản, cửa hom hướng ra ngoài áp sát vách nylon và cố định chắc chắn bằng khung tre, đục lổ nylon chổ cửa hom. Xung quanh ruộng bẫy tốt nhất nên có rảnh nước để cản trở khả năng leo trèo và nhảy của chuột, nếu có rảnh cần lưu ý đắp một mô đất ở cửa hom tạo điều kiện cho chuột vào bẫy. Thường xuyên thăm bắt chuột vào bẫy.

-  Biện pháp sinh học:

Bảo tồn các thiên địch của chuột như: trăn, rắn, mèo, chó, …

-  Biện pháp hóa học: sử dụng dưới dạng bả mồi.

Bã mồi có thể là lúa mộng, gạo tấm, dế, cào cào, cám thực phẩm, tôm, cua cá,… trộn với thuốc diệt chuột. Sử dụng các loại thuốc diệt chuột có hoạt chất trong danh mục được phép sử dụng trong nông nghiệp do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành như: Alkaloid, Brodifacoum, Bromadiolone, Coumatetralyl, Diphacinone, Flocoumafen, Warfarin. Ưu tiên sử dụng các loại thuốc ít độc hại với môi trường. Đặt mồi trộn ở bờ ruộng, nơi gần hang hoặc gần đường đi của chuột, trên bờ mương, chân đê để diệt chuột. Nơi đặt bả phải cách xa nguồn nước sinh hoạt, xa các bãi chăn thả gia súc, gia cầm. Đặt bả vào chiều tối và sáng sớm hôm sau phải thu nhặt bả thừa và xác chuột chết đem chôn. Thực hiện liên tục trong vài ngày. Để tránh hiện tượng nhát bã, cần đặt bã mồi không có thuốc liên tiếp 3 – 5 ngày, sau đó thêm thuốc diệt chuột theo liều khuyến cáo. Lưu ý, biện pháp đánh bã tuy hiệu quả nhưng rất nguy hiểm cho vật nuôi, con người và gây ô nhiễm môi trường.

 Lưu ý : Để diệt chuột có hiệu quả nên tổ chức diệt đồng loạt, thường xuyên, liên tục, diệt sớm từ đầu vụ và kết hợp nhiều biện pháp. Nghiêm cấm sử dụng điện dưới mọi hình thức để bẫy bắt chuột, đây là biện pháp tuy hiệu quả nhưng rất nguy hiểm và dễ gây chết người. Tuyệt đối không dùng thuốc diệt chuột ngoài danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam.

13. Nhện gié (Oligonycus oryzae)

Nhện chích hút nhựa ở bẹ lá, cuống bông, cuống gié và vỏ hoa lúa trước khi trổ.

Trên bẹ lá tạo thành những sọc thối đen kéo dài có thể nhìn thấy từ phía ngoài bẹ lá, làm bẹ lá có màu thâm nâu ( giống như bã trầu). Khi lúa có đòng, nhện hút nhựa đòng làm bông lúa trỗ ra có nhiều hạt lép hoặc lép cả bông.

Giai đoạn lúa trổ, mật số nhện trong bẹ lúa tăng cao, nhện bò lên và gây hại trên gié và bông lúa. Nếu nhẹ, nhánh gié lúa bị quăn queo. Nếu bị hại khá nặng, bông lúa sẽ có nhiều hạt vừa lép vừa bị lem ngoài vỏ trấu, hoặc hạt lúa vào chắc được nhưng vỏ trấu bị lem có màu đen nhợt nhạt. Nếu bệnh nặng hơn, gié lúa bị teo lại, khi trổ ra chỉ là một sợi chỉ quăn queo, không có hạt hoặc có những hạt bị thoái hóa nhỏ, trắng.

Nhện thường mang theo bào tử nấm gây bệnh thối bẹ lúa.

Nhện hại lúa phát triển thích hợp trong điều kiện thời tiết nóng và khô, lúa Hè Thu sớm ( tháng 5 – 6: có đòng – trỗ).


Hình 13. Triệu chứng nám bẹ do nhện gié gây ra

Phòng trừ:

- Cày lật gốc rạ sớm, diệt lúa chét giữa các vụ để hạn chế nguồn nhện lan truyền.

- Gieo cấy thời vụ tập trung.

- Phun thuốc hóa học khi phát hiện một số ít dảnh mới có triệu chứng bị hại – khi lúa sắp có đòng ( bẹ lá bị đỏ  bả trầu): Amitraz, Azadirachtin, Azocyclotin, Hexythiazox, Fenpyroximate, Propargite, Pyridaben, Abamectin,… Nếu có điều kiện chủ động nước tưới thì trước khi phun thuốc, nên bơm nước vào ruộng  để đuổi nhện lên cao dễ tiếp xúc với thuốc. Cần phun thuốc thấp xuống để thuốc đến được bẹ lá lúa bên trên mặt nước.

14. Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá do virus gây ra.

- Triệu chứng của bệnh vàng lùn : có 2 dạng

+ Vàng lùn (lúa cỏ dòng 2): Màu sắc của cây lúa bệnh: lá lúa từ xanh nhạt → vàng nhạt → vàng cam → vàng khô. Vị trí lá bị vàng: lá dưới bị vàng trước, lần lượt lan dần lên các lá bên trên. Vết vàng trên lá: vàng từ chóp lá lần vào bẹ. Lá của cây lúa bệnh có khuynh hướng xòe ngang. Bệnh làm giảm chiều cao và số chồi của bụi lúa. Ruộng lúa bị bệnh ngả màu vàng, chiều cao cây không đồng đều.

+  Lúa cỏ (lúa cỏ dòng 1): Bụi lúa lùn, cho ra nhiều dảnh (tép), mọc thẳng, có dạnh giống như bụi cỏ. Lá ngắn, hẹp, màu xanh vàng hoặc vàng cam. Lá non có nhiều đốm rỉ sắt hoặc màu vàng đỏ.

 - Triệu chứng của bệnh lùn xoắn lá: Cây bị lùn, lá có màu xanh đậm. Rìa lá bị rách và gợn sóng, dọc theo gân lá có bướu. Chóp lá bị biến dạng xoăn tít lại. Lúa không trổ được, bị nghẹn đòng, hạt lép.

Có trường hợp trên cùng bụi lúa đồng thời xuất hiện cả hai triệu chứng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá.


Hình 14: (sưu tầm): a.Vàng lùn (dòng 2);     b. Lúa cỏ (dòng 1);       c. Lùn xoắn lá

-  Cây lúa càng nhỏ mẫm cảm với bệnh càng cao, nhất là lúa non 20 ngày đầu sau sạ, trong giai đoạn này bị nhiễm bệnh thì thiệt hại rất nặng.

- Tác nhân gây bệnh: Do virus gây ra và rầy nâu là môi giới truyền bệnh. Bệnh vàng lùn có tên quốc tế : Rice Grassy Stunt Virus (RGSV). Bệnh lùn xoắn lá có tên quốc tế: Rice Ragged Stunt Virus (RRSV). Rầy nâu mang vi rút có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết, nhưng không truyền vi rút qua trứng rầy, vi rút không truyền qua đất, nước, không khí, hạt giống.

Phòng trừ: Bệnh do virus gây ra, cho đến nay chưa có thuốc đặc trị. Gieo sạ tập trung, vào thời điểm có thể né rầy nâu di trú để bảo vệ lúa ở giai đoạn còn non hạn chế thiệt hại do bệnh nhiễm sớm gây ra. Quản lý tốt rầy nâu côn trùng môi giới truyền bệnh. Thường xuyên thăm đồng, phát hiện sớm, nhổ và vùi xuống ruộng những chồi lúa bệnh để hạn chế lây lan.

15. Bệnh đạo ôn (Piricularia oryzae)

Triệu chứng: Trên lá, vết bệnh ban đầu là chấm nhỏ màu nâu, sau phát triển lớn dần có dạng hình thoi, hai đầu nhọn dọc theo gân lá, rìa màu nâu đỏ, rộng ở giữa và có màu bạc trắng. Bệnh nặng các vết bệnh liên kết với nhau làm cho lá lúa có màu vàng nâu, rồi lá lúa khô chết. Trên cổ lá: Nấm bệnh tấn công cổ lá lúa tạo ra vết màu nâu nơi cổ lá làm lá gãy gục. Sau vài ngày lá lúa bị cháy khô. Để tạo ra triệu chứng đạo ôn cổ lá, trên lá lúa có vết bệnh đang sinh bào tử và có giọt nước lăn qua vết bệnh xuống đọng lại ở cổ lá và bào tử nấm xâm nhập vào gây hại. Trên thân: xuất hiện ở đốt thân tạo thành vết màu nâu bao quanh đốt, làm đốt khô teo lại, cây lúa đễ gãy gục. Trên cổ bông, cổ gié: Xuất hiện chấm nhỏ màu nâu xám trên cổ bông sau phát triển lớn dần và bao vòng quanh cổ bông. Nếu bệnh bị nhiễm sớm, nặng bông lúa có thể bị bạc trắng toàn bộ, bông và gié lúa dễ bị gãy. Trên cuống hạt: Nấm bệnh tấn công lên cuống hạt vào giai đoạn cong trái me trở về sau, làm lững hạt và là nguyên nhân quan trọng làm hạt bị rụng nhiều khi thu hoạch (nông dân còn gọi là muối hạt).


Hình 15. Triệu chứng gây hại của bệnh đạo ôn (sưu tầm)

Tác nhân là do nấm Pirycularia oryzae gây ra, nấm sản sinh bào tử và lây lan nhờ gió. Bệnh phát sinh mạnh trong điều kiện: Gieo sạ giống nhiễm bệnh. Bón phân không cân đối, bón quá nhiều phân đạm. Thời tiết âm u, thiếu nắng, có mưa kéo dài; nhiệt độ về đêm thấp, đêm và sáng có sương. Ruộng khô hạn, thiếu nước.

Biện pháp phòng trị: Nên áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao.

+ Gieo sạ giống chống chịu bệnh, sử dụng giống cấp xác nhận, sạ thưa, sạ hàng.

+  Bón cân đối tỷ lệ N:P:K, bón phân đạm theo nhu cầu của cây.

+ Không để ruộng khô, thiếu nước nhất là trong lúc dịch bệnh đang phát triển.

+ Thường xuyên thăm đồng để phát hiện và phòng trị kịp thời. Đối với bệnh trên lá, chỉ dùng thuốc hóa học khi bệnh có chiều hướng phát triển. Đối với bệnh trên cổ bông, gié nên phun thuốc hóa học trừ bệnh 02 lần vào thời điểm 5 – 7 ngày trước khi lúa trổ hoặc lúa trổ 5% và ngay sau khi lúa trổ đều. Có thể sử dụng các hoạt chất sau để phun:Tricyclazole, Isoprothiolane, Fenoxanil, Iprobenfos, Propiconazole + Tricyclazole, Isoprothiolane + Tricyclazole, Isoprothiolane + Kasugamycin, Kasugamycin + Tricyclazole, Difenoconazole  + Tricyclazole , Hexaconazole + Tricyclazole, Azoxystrobin + Difenoconazole, Fenoxanil + Tricyclazole, Difenoconazole + Isoprothiolane + Tricyclazole,… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý: Khi lúa ở giai đoạn trổ nên phun lúc chiều mát và đảm bảo lượng nước từ 400 – 600 lít/ha. Khi cây lúa đang nhiễm bệnh nên ngưng ngay việc bón phân đạm, tuyệt đối không phun phân qua lá có hàm lượng đạm. Phun khi lá lúa đã ráo sương.

16. Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani)

Còn gọi là bệnh khô vằn, ung thư, bệnh úng, bã trầu ,… Đây  là loại bệnh xuất hiện rất phổ biến trên lúa.

Triệu chứng: Bệnh gây hại trên bẹ, trên lá và cả trên gié lúa. Vết bệnh xuất hiện đầu tiên  là những đốm có màu nâu nhạt đến xám, thường ở bẹ lá phía  dưới, chỗ gốc lúa tiếp giáp mặt nước và có kích thước khác nhau với đường viền màu nâu. Vết bệnh phát triển có nhiều viền vằn vện chồng chất lên nhau. Trong điều kiện ẩm độ cao có thể quan sát thấy lớp tơ nấm trên vết bệnh.Vết bệnh sau đó lây lan sang theo chiều ngang do tiếp xúc với cây lúa bên cạnh. Bệnh tiếp tục  lây lan dần lên trên khi cây lúa phát triển tán lá khép kín. Bệnh có thể tấn công lên lá đòng và cả cổ bông lúa. Vào cuối giai đoạn phát triển trên vết bệnh hình thành các hạch nấm.

Hạch nấm ban đầu có màu trắng sau hóa nâu, kích thước từ 0,5 – 3 mm. Hạch nấm dể dàng rơi rụng và là nguồn lây lan cho mùa sau Bệnh nặng làm bông lúa lép lững, cây lúa cháy khô từng chòm như cháy rầy. Trên ruộng bệnh xuất hiện thành từng ổ, sau đó có thể lan ra cả ruộng, làm năng suất lúa nghiêm trọng.


Hình 16. Triệu chứng gây hại của bệnh đốm vằn hại lúa (sưu tầm)

Tác nhân là do nấm Rhizoctonia solani gây ra. Bệnh lây lan  do hạch nấm. Hạch nấm có thể sống được 1 thời gian dài trong đất. Nguồn bệnh chủ yếu do hạch nấm tồn tại trên đất ruộng và sợi nấm ở gốc rạ, lá bệnh còn lại sau thu họach hoặc do hạch nấm di chuyển  theo nguồn nước.

Bệnh phát sinh mạnh trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao, gieo sạ quá dầy, bón thừa đạm.

Phòng trị: Khó thực hiện biện pháp phòng ngừa do hạch nấm tồn tại trong đất. Ruộng bị nặng nên cày ải phơi khô đất. Vệ sinh đồng ruộng và trên các mương dẫn nước: làm sạch cỏ dại, tiêu huỷ tàn dư thực vật, loại bỏ các cây ký chủ lưu tồn bệnh như cỏ lồng vực, cỏ ống, lục bình,… Sử dụng lưới ngăn hạch nấm từ bên ngoài vào ruộng theo nước tưới. Dùng thuốc hóa học có hoạt chất: Validamycin, Nano Ag, Nano Cu, Cyproconazole, Pencycuron, Tebuconazole, Tebuconazole + Tricyclazole, Tebuconazole + Trifloxystrobin, Azoxystrobin + Difenoconazole, Azoxystrobin + Hexaconazole, Hexaconazole + Tricyclazole, Cyproconazole  + Propiconazole, Difenoconazole + Propiconazole,… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

17. Bệnh vàng lá chín sớm

Tác nhân do nấm Gonatophragmium sp. gây ra.

Triệu chứng, tác hại: Bệnh phát sinh gây hại chủ yếu trên lá. Vết bệnh lúc đầu là những chấm trong mờ, sau đó phát triển thành những đốm vàng cam, hình tròn hay bầu dục dài không có rìa rỏ rệt. Vết bệnh tiếp tục phát triển dọc theo gân lá hướng về phía chóp lá. Nhiều vết bệnh liên kết với nhau làm toàn bộ lá bị vàng. Đôi khi vết bệnh cũng xuất hiện cả trên bẹ lúa. Bệnh bắt đầu từ những lá phía dưới sau đó lan dần lên các lá trên. Trong những điều kiện thuận lợi bệnh phát triển rất nhanh làm toàn bộ lá bị vàng trước khi thu hoạch nên được gọi là " vàng lá chín sớm".


Hình 17: Triệu chứng vết bệnh vàng lá chín sớm trên lúa (sưu tầm)

Bệnh thường xuất hiện từ khi cây lúa khép tán nhưng phát triển mạnh lúc làm đòng – trổ. Trong điều kiện ruộng lúa sạ dày; nhiệt độ, ẩm độ cao; bón nhiều phân đạm, ít Kali … bệnh phát triển rất nhanh, có khi chỉ trong 1 tuần bệnh có thể phát triển đến cả lá đòng. Nhiều thí  nghiệm cho thấy khi bệnh vàng lá chín sớm xuất hiện trễ ở giai đoạn sau trổ thì không ảnh hưởng đến năng suất.

Phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng loại bỏ các cây ký chủ phụ của bệnh.  Bón phân cân đối, không bón thừa đạm, tăng cường phân kali cho ruộng lúa. Khi bệnh xuất hiện sớm trước khi lúa trổ, có thể sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Benomyl,  Azoxystrobin + Difenoconazole, Cymoxanil + Famoxadone, Cymoxanil + Mancozeb,… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

18. Bệnh cháy bìa lá (bạc lá) (Xanthomonas oryzae pv. Oryzae)

Có 03 dạng triệu chứng của bệnh. Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh: Vết bệnh ban đầu là sọc thấm nước xuất hiện trên bìa lá. Sau đó lan rộng thành một vết cháy ở mép và đỉnh lá, màu vàng xám nhạt. Có ranh giới là một đường nâu sẫm hình gợn sóng giữa vết cháy và phần xanh còn lại của lá. Vết bệnh phát triển mạnh làm cả phiến lá bị khô bạc trắng. Bệnh phát triển chậm ở giai đoạn trước khi lúa trổ, nhưng phát triển rất nhanh sau khi lúa trổ cho đến gần thu hoạch. Trong điều kiện ẩm ướt do mưa đêm hoặc sáng sớm khi còn ướt sương, vết bệnh có dạnh thấm nước và có màu xanh lợt; bên dưới mặt lá lúa tại nơi vết bệnh sinh những giọt màu vàng ướt hoặc khô lại thành hạt nhỏ như trứng cá. Đây là những giọt dịch vi khuẩn tiết ra từ vết bệnh. Giống nhiễm, vết bệnh lan xuống phía dưới làm phiến lá cuốn dọc lại hoặc xuống cả bẹ lá làm toàn bộ lá bị héo. Giống chống chịu bệnh hơn, vết bệnh cháy vệt dài ven mép lá không lan rộng vào trong phiến lá. Bệnh phát triển mạnh làm toàn bộ lá, kể cả lá đòng bị khô rạc nhanh chóng  trước khi lúa chín, hạt lép lững và làm đen vỏ trấu. Triệu chứng " Kresek" còn gọi là triệu chứng héo lụi cây non, thường xuất hiện trên các dảnh lúa non mới đẻ sau khi cấy, làm các lá có màu xanh xám nhạt và cuộn dọc lại theo gân chính, sau đó cả lá bị héo, nhánh lúa bị thối nhũn và chết rụi ( hiện tượng này do vi khuẩn xâm nhập gây bệnh từ các vết cắt  ở đầu lá mạ rồi truyền sang các dảnh  lúa non). Triệu chứng vàng tái thường xuất hiện sau khi lúa trỗ. Lá già phía dưới xanh bình thường, các lá non phía trên biến vàng hoặc có các sọc màu vàng xám nhạt. Trường hợp này do vi khuẩn tập trung ở đỉnh thân và các đốt phía dưới lá bệnh, làm hạn


Hình 18. Triệu chứng gây hại của bệnh cháy bìa lá (bạc lá) (sưu tầm)

Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây hại. Vi khuẩn có một roi nên di chuyển (lội) rất tốt trong nước, vi khuẩn có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 10 – 40oC, thích hợp nhất là từ 26 – 30oC.

Bệnh phát sinh mạnh trong điều kiện: Khí hậu nóng, ẩm, mưa gió nhiều, ruộng ngập nước, tù đọng. Bệnh phát triển rất nhanh từ giai đoạn lúa trổ - chín. Bón nhiều phân đạm (N), bón thúc muộn, thiếu P, K làm bệnh phát triển. Nhiễm khuẩn từ các tàn dư cây bệnh (rơm rạ) vụ trước, cỏ dại là nguồn ký chủ phụ của vi khuẩn trên đồng; lây lan qua nước, các vết thương do xây xát và lan rộng ra.

Phòng trừ: Bón phân N.P.K cân đối và hợp lý. Không để ruộng mạ, lúa ngập úng lâu, nên thay nước thường xuyên. Khi bệnh phát triển ngưng bón phân đạm, bón kali, thay nước ruộng và phun thuốc đặc trị vi khuẩn. Bệnh cháy bìa lá khó trị vì vi khuẩn nằm trong mạch nhựa của lá lúa. Hầu hết các thuốc trị vi khuẩn không trị hết hẳn bệnh cháy bìa lá lúa mà chỉ diệt vi khuẩn trên mặt lá và giúp ngăn sự lây lan của vi khuẩn sang lá lúa lân cận. Do đó cần phải phát hiện bệnh sớm và phun thuốc kịp thời để hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc trừ bệnh có hoạt chất như: Thuốc gốc đồng để phun ngừa, Bismerthiazol, Bronopol, Chlorobromo isocyanuric acid, Quaternary Ammonium Salts, Oxolinic acid, Kasugamycin, Ningnanmycin, Copper Oxychloride + Kasugamycin, Gentamicin sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride, Oxytetracycline hydrochloride + Streptomycin sulfate, Copper Oxychloride + Streptomycin,… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý: Khi phun cần hạ thấp cần phun để thuốc tiếp xúc nhiều với lá, nên phun thuốc vào chiều mát, khô ráo.

19. Bệnh thối gốc do vi khuẩn (Erwinia Chrysanthemi)

Đây là loại bệnh mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Bệnh thường gây hại trên lúa từ 15 – 35 ngày sau sạ.

Triệu chứng: Đầu tiên, ở bẹ lá lúa, phần sát gốc có vết thối màu nâu sậm, dạng như thấm nước. Sau đó cả bẹ lá bị thối nhũn. Lá lúa ở bẹ mắc bệnh, ngã màu vàng, rồi cháy khô và gục xuống. bẹ lá bệnh có thể bị rứt đứt dễ dàng và có mùi thối. Bệnh lan dần cho cả bụi lúa, làm cho tất cả bẹ đều thối. Cả gốc và rễ lúa bệnh đều bị thối và ngả màu đen. Bệnh làm cả bụi lúa bị chết khô. Bệnh nặng làm cả ruộng lúa bị cháy rụi.


Hình 19. Triệu chứng của thối gốc lúa do vi khuẩn (sưu tầm)

Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Erwinia Chrysanthemi gây ra. Vi khuẩn này có nhiều roi (đuôi) nên lội tốt trong nước.

Điều kiện để bệnh phát sinh: Vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào bẹ lá lúa ở gần gốc và gây vết thối trên bẹ sau 2 ngày và làm chết bụi lúa sau 3 – 4 ngày. Bệnh xâm nhập qua vết thương ở bẹ lá hay rễ thối vì ngộ độc acid hữu cơ. Vi khuẩn từ bụi lúa bệnh lan ra nước ruộng và lây lan ra các bụi lúa chung quanh. Sau vụ lúa, vi khuẩn lưu tồn trong rạ của bụi lúa bệnh và gây bệnh cho vụ lúa kế tiếp.         Vi khuẩn gây bệnh thối gốc lúa thích nhiệt độ cao và ẩm ướt. Bệnh gây hại nặng ở vụ Hè thu (nắng mưa xen kẽ) và Thu đông. Trong ruộng, bệnh thường gây hại ở chỗ trũng, nơi có mực nước cao và nơi tụ tập phân đạm của ruộng. Bón phân không cân đối, bón thừa đạm.

Phòng trừ: Rải vôi với lượng 200kg/ha lúc trục đất để diệt vi khuẩn trong đất và nước ruộng. Làm đất tốt, cày vùi rơm rạ sâu vào đất. San bằng mặt ruộng, không để lồi lõm. Khi ruộng mới chớm xuất hiện bệnh cần thực hiện các thao tác: Tháo nước ra khỏi ruộng. Rải vôi bột với lượng 200kg/ha, tập trung rải ở vùng có bệnh và xung quanh. Sau khi rải vôi, cho nước vào lấp xấp để hòa tan vôi thành dung dịch sát khuẩn để trừ vi khuẩn trên mặt đất và trong nước. Có thể sử dụng một trong các thuốc trừ vi khuẩn có hoạt chất sau để phun xịt như: Thuốc gốc đồng để phun ngừa, Bismerthiazol, Bronopol, Chlorobromo isocyanuric acid, Quaternary Ammonium Salts, Oxolinic acid, Kasugamycin, Ningnanmycin, Copper Oxychloride + Kasugamycin, Gentamicin sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride, Oxytetracycline hydrochloride + Streptomycin sulfate, Copper Oxychloride + Streptomycin,… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

20. Thối rễ do ngộ độc axit hữu cơ

Thường gặp ở vùng lúa sản xuất từ 2- 3 vụ lúa/năm.

Triệu chứng, tác hại:

- Trong giai đoạn đẻ nhánh, lúa ngả màu vàng xỉn màu, nhảy chồi kém và hơi lùn so với lúa bình thường. Trong ruộng, nơi trũng thường bị trước rồi sau đó đến toàn ruộng. nhổ bụi lúa lên, rửa sạch rễ sẽ thấy rễ bị thối đen và có mùi hôi.

- Ngộ độc axit hữu cơ nếu không xử lý đúng cách sẽ làm giảm năng suất đáng kể, có thể giảm từ 20 – 40 % năng suất. Ngoài ra, vết thối ở rễ lúa sẽ mở đường cho vi khuẩn xâm nhập vào bụi lúa gây bệnh thối gốc do vi khuẩn. Bụi lúa bị suy yếu do thối rễ cũng là cơ hội cho nhiều bệnh tấn công gây hại cho lúa như bệnh đạo ôn kết hợp với bệnh thối gốc, ..

Nguyên nhân: Do rơm rạ trên ruộng của vụ lúa trước để lại chưa kịp phân hủy thì được vùi vào trong đất và cho đất ngập nước để sản xuất vụ kế tiếp. Rơm rạ được phân hủy trong điều kiện ngập nước nên sinh ra các axit hữu cơ rất chua và làm rễ bị thối. Nếu thời gian rễ lúa bị thối kéo dài, rễ lúa sẽ không hấp thu đủ phân nên bụi lúa sẽ suy yếu và lá lúa có màu vàng (do thiếu N), bụi lúa kém đâm chồi và lùn.

Biện pháp xử lý:

- Xả rửa và thay nước ruộng;

- Nếu rễ bị thối nhiều, sau khi xả nước, rải 20 kg vôi bột/1000 m2. Công dụng của vôi hòa với nước có trong đất thành dung dịch kiềm, giúp trung hòa phần đất mặt, giúp lúa đâm rễ non ra ngay trên mặt đất. Sau khi rải vôi, có thể cho nước mới vào lấp xấp mặt ruộng. Ba ngày sau, nếu thấy lúa bún rễ non ra ngang mặt đất thì có thể tiến hành rải thêm ít phân giúp cây lúa phát triển trở lại, có thể bón 1kg ure + 1kg DAP + 1 kg KCL. Bên cạnh đó, có thể phun các các loại phân bón lá có hàm lượng lân cao giúp tạo rễ mới. 

21. Ngộ độc phèn

Triệu chứng, tác hại:

Ruộng lúa bị phèn, lá lúa ngả màu vàng, nhất là vàng phần trên của lá và chót lá bị cháy khô. Bụi lúa lùn, đâm chồi kém. Lúc lúa trổ bông, bông lúa nhỏ. Khi lúa vào chắc, trên bông có nhiều hạt lép, nhất là các hạt trong cậy. Nhổ bụi lúa lên, rửa sạch rễ thấy rễ ngả màu vàng và xù xì, nếu vuốt dưới ngón tay sẽ cảm thấy nhám.

Khi đất ruộng bị phèn, rễ lúa bị hại vì độ chua của phèn (Fe +++, Al +++) bao quanh rễ làm rễ lúa không hấp thu được dinh dưỡng. Ngoài ra, do ảnh hưởng của phèn, phân lân bị cố định và rễ lúa không lấy đủ phân dù bón đầy đủ phân lân.

Biện pháp xử lý:

- Khi phát hiện ruộng lúa bị ngộ độc phèn, phải xả phèn ngay. Trong trường hợp ruộng có nước, cần tháo nước thoát ra, chắt cho thật cạn nước, kể cả nước trong đất. Sau đó cho nước mới vào ruộng. Trường hợp trong ruộng không có nước, cần bơm nước vào ngập đất và để yên 01 đêm; ngày hôm sau xả thật cạn nước ra.

- Nếu ruộng bị phèn nặng, xả phèn + rải vôi bột với lượng từ 20 – 50 kg/1000 m2 tùy theo mức độ nhiễm.

- Sau khi xả phèn và rải vôi khoảng 3 ngày sau, lúa có thể đâm rễ non ngang mặt đất. Lúc này bón thêm phân, 2kg ure + 2 kg DAP + 1 kg KCL. Ngoài ra có thể phun các các loại phân bón lá có hàm lượng lân cao giúp tạo rễ mới. 

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng cây lúa

và hoạt chất thuốc sử dụng

Giai đoạn sinh trưởng

Đối tượng gây hại

Phòng trừ

 

Mạ

1. Ốc bươu vàng

Metaldehyde, Niclosamide, Pentacyclic triterpenoids alcaloid, Saponin, Cafein + Nicotine Sulfate + Azadirachtin,  hoặc hợp chất phối hợp có trong danh mục được phép sử dụng ở VN.

2. Chuột

Alkaloid, Brodifacoum, Bromadiolone, Coumatetralyl, Diphacinone, Flocoumafen, Warfarin

3. Bọ trĩ

Abamectin, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid....

 

 

 

 

 

 

 

Đẻ nhánh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đẻ nhánh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đẻ nhánh

Bọ trĩ

Abamectin, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid....

Sâu phao

Abamectin, Azadirachtin,  Chlorantraniliprole, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Lambda-cyhalothrin, Cypermethrin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin

Sâu phao đục bẹ

Abamectin, Azadirachtin,  Chlorantraniliprole, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Lambda-cyhalothrin, Cypermethrin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin

Sâu keo

Abamectin, Chlorantraniliprole, Fipronil, Cartap, Chlorpyrifos Ethyl, Acephate, Azadirachtin, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin

Sâu cuốn lá nhỏ

Chlorantraniliprole, CartapEmamectin benzoate +  Avermectin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,…

Sâu đục thân

Chlorantraniliprole, Cartap, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, …

Rầy nâu

Buprofezin, Pymetrozine, Fenobucarb, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid hoặc các sản phẩm hỗn hợp các hoạt chất trên lại với nhau.

Bọ xít đen

Dimethoate,  Deltamethrin, Lambda –cyhalothrin, Pymetrozine, Fenvalerate,...

Tuyến trùng hại rễ

Clinoptilolite, Benfuracarb, Carbosulfan,...

Sâu năn, muỗi hành

Chlorantraniliprole, Cartap, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, …

Đạo ôn lá

Tricyclazole, Isoprothiolane, Fenoxanil, Iprobenfos, Propiconazole + Tricyclazole, Isoprothiolane + Tricyclazole, Isoprothiolane + Kasugamycin, Kasugamycin + Tricyclazole, Difenoconazole  + Tricyclazole , Hexaconazole + Tricyclazole, Azoxystrobin + Difenoconazole, Fenoxanil + Tricyclazole, Difenoconazole + Isoprothiolane + Tricyclazole,…

Đốm vằn, khô vằn

Validamycin, Nano Ag, Nano Cu, Cyproconazole, Pencycuron, Tebuconazole, Tebuconazole + Tricyclazole, Tebuconazole + Trifloxystrobin, Azoxystrobin + Difenoconazole, Azoxystrobin + Hexaconazole, Hexaconazole + Tricyclazole, Cyproconazole  + Propiconazole, Difenoconazole + Propiconazole,…

Thối gốc vi khuẩn

Thuốc gốc đồng để phun ngừa, Bismerthiazol, Bronopol, Chlorobromo isocyanuric acid, Quaternary Ammonium Salts, Oxolinic acid, Kasugamycin, Ningnanmycin, Copper Oxychloride + Kasugamycin, Gentamicin sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride, Oxytetracycline hydrochloride + Streptomycin sulfate, Copper Oxychloride + Streptomycin,

Ngộ độc hữu cơ

Xả chua axit hữu cơ, rải vôi bột, phun phân bón lá có hàm lượng lân cao

Ngộ độc phèn

Xả phèn, rải vôi bột, phun phân bón lá có hàm lượng lân cao

Vàng lùn, lùn xoắn lá

Kiểm soát tốt rầy nâu; nhổ vùi cây bệnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Làm đòng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Làm đòng

Sâu cuốn lá nhỏ

Chlorantraniliprole, CartapEmamectin benzoate +  Avermectin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,…

Sâu đục thân

Chlorantraniliprole, Cartap, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, …

Rầy nâu

Buprofezin, Pymetrozine, Fenobucarb, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid hoặc các sản phẩm hỗn hợp các hoạt chất trên lại với nhau.

Bọ xít đen

Dimethoate,  Deltamethrin, Lambda –cyhalothrin, Pymetrozine, Fenvalerate,...

Sâu năn, muỗi hành

Chlorantraniliprole, Cartap, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, …

Sâu phao đục bẹ

Abamectin, Azadirachtin,  Chlorantraniliprole, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Lambda-cyhalothrin, Cypermethrin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin

Nhện gié

Amitraz, Azadirachtin, Azocyclotin, Hexythiazox, Fenpyroximate, Propargite, Pyridaben, Abamectin,…

Chuột

Alkaloid, Brodifacoum, Bromadiolone, Coumatetralyl, Diphacinone, Flocoumafen, Warfarin

Đạo ôn lá

Tricyclazole, Isoprothiolane, Fenoxanil, Iprobenfos, Propiconazole + Tricyclazole, Isoprothiolane + Tricyclazole, Isoprothiolane + Kasugamycin, Kasugamycin + Tricyclazole, Difenoconazole  + Tricyclazole , Hexaconazole + Tricyclazole, Azoxystrobin + Difenoconazole, Fenoxanil + Tricyclazole, Difenoconazole + Isoprothiolane + Tricyclazole,…

Đốm vằn, khô vằn

Validamycin, Nano Ag, Nano Cu, Cyproconazole, Pencycuron, Tebuconazole, Tebuconazole + Tricyclazole, Tebuconazole + Trifloxystrobin, Azoxystrobin + Difenoconazole, Azoxystrobin + Hexaconazole, Hexaconazole + Tricyclazole, Cyproconazole  + Propiconazole, Difenoconazole + Propiconazole,…

Vàng lùn, lùn xoắn lá

Kiểm soát tốt rầy nâu; Nhổ vùi cây lúa bệnh

Vàng lá chín sớm

Benomyl,  Azoxystrobin + Difenoconazole, Cymoxanil + Famoxadone, Cymoxanil + Mancozeb,…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trổ - chắc xanh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trổ - chắc xanh

 

 

 

 

Rầy nâu

Buprofezin, Pymetrozine, Fenobucarb, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid hoặc các sản phẩm hỗn hợp các hoạt chất trên lại với nhau.

Bọ xít hôi

Dimethoate,  Deltamethrin, Lambda –cyhalothrin, Pymetrozine, Fenvalerate,

Nhện gié

Amitraz, Azadirachtin, Azocyclotin, Hexythiazox, Fenpyroximate, Propargite, Pyridaben, Abamectin,…

Chuột

Alkaloid, Brodifacoum, Bromadiolone, Coumatetralyl, Diphacinone, Flocoumafen, Warfarin

Sâu cuốn lá nhỏ

Chlorantraniliprole, CartapEmamectin benzoate +  Avermectin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,…

Đạo ôn cổ bông

Tricyclazole, Isoprothiolane, Fenoxanil, Iprobenfos, Propiconazole + Tricyclazole, Isoprothiolane + Tricyclazole, Isoprothiolane + Kasugamycin, Kasugamycin + Tricyclazole, Difenoconazole  + Tricyclazole , Hexaconazole + Tricyclazole, Azoxystrobin + Difenoconazole, Fenoxanil + Tricyclazole, Difenoconazole + Isoprothiolane + Tricyclazole,…

Đốm vằn, khô vằn

Validamycin, Nano Ag, Nano Cu, Cyproconazole, Pencycuron, Tebuconazole, Tebuconazole + Tricyclazole, Tebuconazole + Trifloxystrobin, Azoxystrobin + Difenoconazole, Azoxystrobin + Hexaconazole, Hexaconazole + Tricyclazole, Cyproconazole  + Propiconazole, Difenoconazole + Propiconazole,…

Cháy bìa lá

Thuốc gốc đồng để phun ngừa, Bismerthiazol, Bronopol, Chlorobromo isocyanuric acid, Quaternary Ammonium Salts, Oxolinic acid, Kasugamycin, Ningnanmycin, Copper Oxychloride + Kasugamycin, Gentamicin sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride, Oxytetracycline hydrochloride + Streptomycin sulfate, Copper Oxychloride + Streptomycin,

Vàng lá chín sớm

Benomyl,  Azoxystrobin + Difenoconazole, Cymoxanil + Famoxadone, Cymoxanil + Mancozeb,…


Ghi chú: Sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng và theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây lúa


1. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

a. Trồng và chăm cây khoẻ:

- Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

- Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

- Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

b. Thăm đồng thường xuyên: Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước... để có biện pháp xử lý kịp thời.

c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng. Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

d. Phòng trừ dịch hại: Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn. Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

e. Bảo vệ thiên địch. Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

2. Nội dung quản lý dịch hại tổng hợp

Biện pháp canh tác

a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng: Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh,... là những môi giới truyền các bệnh virus nguy hiểm như bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá.

Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

b. Luân canh

Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác.

c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

d. Sử dụng hạt giống khoẻ, giống chống chịu sâu bệnh, giống ngắn ngày.

- Hạt giống khoẻ, sạch bệnh giúp cho cây lúa phát triển thuận lợi.

- Sử dụng giống chống chịu giảm sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh; giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ được thiên địch; giữ được cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp.

- Giống lúa ngắn ngày với thời gian sinh trưởng khoảng 100- 110 ngày, trồng trong vụ sớm có thể tránh được sâu đục thân, sâu cắn gié. Giống lúa cực ngắn với thời gian sinh trưởng 80-90 ngày cũng là biện pháp phòng trừ rầy nâu hiệu quả, vì rầy nâu không kịp tích luỹ số lượng đủ gây hại nặng trên những giống cực ngắn ngày.

e. Gieo trồng với mật độ hợp lý.

Mật độ và kỹ thụật gieo, cấy phụ thuộc vào giống lúa, thời vụ, đất và dinh dưỡng, tuổi mạ, chất lượng mạ, trình độ thâm canh,...

Mật độ quá dầy hoặc quá thưa đều ảnh hưởng đến năng suất, đồng thời còn ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của sâu bệnh, cỏ dại.

Các ruộng lúa gieo quá dầy thường khép hàng sớm, gây nên ẩm độ cao, tạo điều kiện cho rầy nâu và bệnh khô vằn phát sinh phá hại mạnh vào cuối vụ.

f. Sử dụng phân bón hợp lí

Bón phân quá nhiều hoặc bón phân không hợp lý sẽ làm cho cây phát triển không bình thường và dễ bị sâu bệnh phá hại. Ruộng lúa bón quá nhiều phân dễ bị lốp và nhiễm các bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá...

Biện pháp thủ công

Bẫy đèn bắt bướm côn trùng trưởng thành, ngắt ổ trứng, dùng rào chà tước lá phun sâu cuốn lá, đào hang bắt chuột,…

Biện pháp sinh học

a. Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại:

- Bảo vệ thiên địch tránh khỏi độc hại do dùng thuốc hoá học bằng cách sử dụng những loại thuốc chọn lọc, thuốc có phổ tác động hẹp, dùng thuốc khi thật cần thiết và phải dựa vào ngưỡng kinh tế...

- Tạo nơi cư trú cho thiên địch sau vụ gieo trồng bằng cách trồng xen, trồng cây họ đậu trên bờ ruộng, làm bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp...

- Áp dụng các kỹ thuật canh tác hợp lí tạo điều kiện cho thiên địch phát triển.

b. Ưu tiên sử dụng các loại thuốc Bảo vệ thực vật sinh học. Các loại thuốc sinh học chỉ có tác dụng trừ dịch hại, không độc hại với các loại sinh vật có ích an toàn với sức khỏe con người và môi trường.

Biện pháp hoá học

a. Sử dụng hợp lý thuốc hoá học BVTV

- Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế: Tiết kiệm được chi phí, giữ cân bằng sinh học trên đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường.

- Sử dụng thuốc an toàn với thiên địch: Lựa chọn thuốc ít độc hại, chọn thời gian và phương thức xử lý ít ảnh hưởng với thiên địch.

- Sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng:

+ Đúng chủng loại:

Mỗi loại sâu hay bệnh đều có những loại thuốc thích hợp để phòng trừ. Dùng không đúng thuốc sẽ không diệt được sâu bệnh mà còn gây lãng phí và ảnh hưởng tới thiên địch và môi trường.

+ Đúng liều l­ượng và nồng độ:

Liều lượng: Là lượng thuốc quy định cho một đơn vị diện tích (ha, sào hay công đất... mét khối kho tàng...)

Nồng độ sử dụng: Là độ pha loãng của thuốc dạng lỏng, dạng bột để phun lên cây, lượng đất bột, cát để trộn với thuốc hạt rắc vào đất.

Dùng thuốc không đủ liều lượng và nồng độ hiệu quả sẽ kém, dịch hại dễ nhờn thuốc. Sử dụng quá liều lượng và nồng độ (lạm dụng thuốc) vừa lãng phí, vừa độc hại.

Phun rải thuốc không đúng cách hiệu quả sẽ kém, thậm chí không có hiệu quả.

+ Đúng thời điểm (Đúng lúc):

Tác hại của dịch hại cây trồng chỉ có ý nghĩa khi mật độ quần thể đạt tới số lượng nhất định, gọi là ngưỡng kinh tế. Do vậy, chỉ sử dụng thuốc đối với sâu hại khi mật độ của chúng đạt tới ngưỡng kinh tế. Các biện pháp "phun phòng" chỉ nên áp dụng trong những trường hợp đặc biệt. Phun thuốc định kỳ theo lịch có sẵn hoặc phun theo kiểu cuốn chiếu là trái với nguyên tắc của phòng trừ tổng hợp.

+ Đúng kỹ thuật (đúng cách):

Dùng thuốc phải căn cứ vào đặc điểm của sâu bệnh hại. Ví dụ khi phun thuốc trừ rầy nâu phải rẽ hàng lúa để đưa vòi phun vào phần dưới của khóm lúa, nơi rầy tập trung chích hút bẹ lá.

b. Sử dụng thuốc có chọn lọc

Trong quản lý dịch hại tổng hợp, ưu tiên dùng các loại thuốc có phổ tác động hẹp hay còn gọi là thuốc có tác động chọn lọc. Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về tác động chọn lọc và độ an toàn của thuốc đối với thiên địch còn rất ít.

Các thời điểm, căn cứ để phát hiện phòng trừ sâu, bệnh và chuột

1. Bọ trĩ: Giai đoạn mạ - đẻ nhánh, thời tiết khô hạn, nắng nóng, ruộng thiếu phân, thiếu nước. Thường phát sinh mạnh trên trà lúa Đông xuân gieo sạ muộn và đầu vụ Hè thu.

2. Sâu phao: Giai đoạn đẻ nhánh, ruộng trũng thấp bị ngập nước, có nhiều phao nổi.

3. Sâu năn (muỗi hành): Muỗi vào đèn rộ dự báo lứa sâu non để phòng trừ.

4. Rầy nâu: Theo dõi giống bị nhiễm rầy (đặc tính giống, kinh nghiệm ở những vụ trước), ấu trùng tuổi 2- 3 (màu trắng hơi nâu).

5. Sâu cuốn lá nhỏ: Theo dõi ruộng sạ dày, trũng hẩu, thừa phân đạm. Giai đoạn làm đòng – trỗ đều.

6. Sâu đục thân 2 chấm: Bướm vào đèn rộ.

7. Bệnh đạo ôn: Thời tiết âm u, ấm và ẩm, giống nhiễm bệnh.

8. Bệnh khô vằn, thối bẹ lá đòng: nước không đều, cấy dày, lúa quá tốt, giống lá xoè.

9. Bệnh bạc lá: Cấy quá dày, dùng nhiều đạm, ít phân chuồng.

10. Bệnh lúa vàng lùn, lùn xoắn lá: Có rầy nâu, cây lúa bị bệnh.

11. Chuột hại: Phải tổ chức cộng đồng, từ tháng 11- 2 và tháng 7- 8 hàng năm.

VI. THU HOẠCH

Thu hoạch khi thấy 85 – 90% số hạt trên bông đã chín vàng. Thu hoạch sớm hay muộn đều làm tăng tỷ lệ hao hụt.

VII. SƠ CHẾ, BẢO QUẢN

Vụ đông xuân, phơi thóc trên sân gạch, xi măng hoặc sân đất. Nên sử dụng lưới nilon lót dưới trong quá trình phơi, phơi từ 2-3 ngày là được. Vụ Hè thu thời tiết mưa nhiều lúc thu hoạch nên sử dụng máy sấy để làm khô lúa.

Sau khi làm khô, rê sạch và sử dụng bao sạch để đựng. Bảo quản lúa ở những nơi khô ráo và thoáng. Nếu bảo quản trong thời gian dưới 3 tháng, độ ẩm thóc đạt 13-14%. Nếu thời gian bảo quản trên 3 tháng, độ ẩm phải dưới 13%./.

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Lượt người xem:  Views:   165
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật