Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 29/04/2019, 19:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc sầu riêng
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
29/04/2019 | Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
Sầu riêng là loại cây ăn quả lâu năm. Nếu được chăm sóc tốt, giai đoạn kiến thiết cơ bản thường kéo dài đến hết năm thứ 4, sau đó cây bắt đầu cho trái với năng suất tăng nhanh dần, cho thu hoạch ổn định ở năm thứ 7 và năng suất vườn sẽ giảm nhanh ở giai đoạn cuối. Thời gian kinh doanh của cây sầu riêng trung bình là 25 năm

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY SẦU RIÊNG

Sầu riêng là loại cây ăn quả lâu năm. Nếu được chăm sóc tốt, giai đoạn kiến thiết cơ bản thường kéo dài đến hết năm thứ 4, sau đó cây bắt đầu cho trái với năng suất tăng nhanh dần, cho thu hoạch ổn định ở năm thứ 7 và năng suất vườn sẽ giảm nhanh ở giai đoạn cuối. Thời gian kinh doanh của cây sầu riêng trung bình là 25 năm.


Hình 1: Quả sầu riêng  (Nguồn: sưu tầm)

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

- Loại đất: Sầu riêng thích hợp với đất có tầng canh tác dày, giàu chất hữu cơ, thoát nước tốt trong mùa mưa và có khả năng cung cấp nước trong mùa khô. Cây không phát triển ở các vùng đất nhiễm mặn, phèn, đất có tỷ lệ sét cao và độ phì nhiêu kém.

- Độ pH: đảm bảo độ pH nằm trong khoảng 5,5 – 6,5 để cây phát triển tốt nhất và đồng thời hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora palmivora gây hại. Để nâng pH đất hiệu quả: cần thực hiện bón vôi hằng năm. Nếu độ pH đất vẫn khó được cải thiện rất có thể đất đã bị thoái hóa nghiêm trọng và cần được cải tạo trước khi trồng.

2. Nước

- Cây có thể sinh trưởng, phát triển ở nơi có lượng mưa từ 1.600 – 3.000 mm/năm (tốt nhất là 2.000 mm/năm)

3. Ánh sáng

- Khi cây còn nhỏ: cây ưa bóng râm, nên muốn cây mọc tốt cần che nắng cho cây nhưng không nên che quá 30 – 40% ánh nắng mặt trời.

- Khi cây lớn: cần nhiều ánh sáng để quang hợp, hình thành hoa quả thuận lợi.

4. Nhiệt độ, ẩm độ không khí

- Khoảng nhiệt độ thích hợp cho sầu riêng sinh trưởng là 24 – 300C và ẩm độ vào khoảng 75 – 80%. Riêng giai đoạn ra hoa, cây cần có nhiệt độ từ 20 – 220C, ẩm độ 50 – 60%.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Điều kiện tự nhiên trong canh tác nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh như sau:

 Điều kiện khí hậu: Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo; lượng mưa trung bình/năm từ 1.500 – 2.400 mm và mùa khô kéo dài (6 tháng); nhiệt độ trung bình/năm từ 27 – 28oC; độ ẩm không khí trung bình là 80%; số giờ nắng trung bình/ngày/năm vào khoảng 07 giờ/ngày.

 Điều kiện đất: tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh là 345.824, trong đó: khoảng 92% là nhóm đất thủy thành (được hình thành từ bồi tụ phù sa sông, suối) có độ dày tầng đất sâu (độ dày >1m chiếm khoảng 91%); trên 83% là nhóm đất xám bạc màu (tương đối nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới thô, khả năng giữ nước và phân kém); pH đất từ 5 – 5,5; hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình – khá; hàm lượng chất hữu cơ ở tầng canh tác dao động từ 1,5 – 5,8%; khả năng thoát nước nhìn chung khá tốt.

 Điều kiện nước: Tây Ninh có diện tích mặt nước lớn với hệ thống các sông như: Vàm Cỏ Đông, Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng (với dung tích 1,1 tỷ m3); là nguồn cung cấp nước ngọt đồng thời nước từ các sông mang lại còn giúp đẩy mặn vào thời điểm triều cường; có hệ thống thủy lợi được đầu tư khá đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong tỉnh. 
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên tại Tây Ninh phù hợp để canh tác sầu riêng nhưng cần phải có hệ thống tưới tiêu tốt và tăng cường đầu tư phân bón nhất là phân hữu cơ để cải tạo đất.
Khi chọn canh tác sầu riêng, người sản xuất nên thực hiện phân tích phẫu diện đất canh tác của mình để xác định chính xác hàm lượng các chất dinh dưỡng, pH đất, pH nước, độ dày tầng canh tác … làm cơ sở đưa ra quyết định nên canh tác sầu riêng hay không hoặc cần bổ sung, khắc phục yếu tố nào để đầu tư thâm canh đạt hiệu quả mong muốn.
III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

Giống trồng phổ biến hiện nay: Ri 6, Monthong, MusangkingĐặc điểm tiêu biểu của một số giống phổ biến hiện nay:

1. Giống Ri 6Có nguồn gốc từ Mianma, khá dễ trồng, kỹ thuật chăm sóc không có điểm đặc biệt, cây sinh trưởng mạnh, phân cành ngang đẹp, tán hình tháp, cho trái sau 03 năm trồng (nếu được chăm sóc tốt) năng suất khá cao và ổn định, phù hợp để trồng diện tích lớn, được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Thời gian từ nở hoa đến thu hoạch từ 3 – 3,5 tháng, mùa thu hoạch từ tháng 5 – 6 dương lịch hàng năm.

 Đặc điểm quả: Hình bầu dục, to, tròn, cân đối, trọng lượng trung bình từ 2 – 4 kg/trái, có từ 4 – 5 khía múi/trái, có thể để chín tự nhiên mà không cần xử lý hóa chất. Khi chín, vỏ trái có màu xanh, cơm vàng bắt mắt, dẻo, vị ngọt đậm, không xơ, mùi thơm nồng, hạt lép.

2. Giống Monthong: Có nguồn gốc từ Thái Lan, dễ trồng, tán hình tháp, cho trái sau 03 năm trồng (nếu được chăm sóc tốt), cần chú ý xử lý sâu bệnh kịp thời, bón phân cân đối để cây bảo đảm năng suất ổn định. Thời gian từ nở hoa đến thu hoạch từ 3,5 – 4 tháng, mùa thu hoạch từ tháng 5 – 8 dương lịch hàng năm.

Đặc điểm quả: Hình trứng hoặc hình chữ nhật, cân đối, trọng lượng trung bình từ 3 – 4kg/trái, có từ 5 – 6 khía múi/trái, khe múi đồng đều. Khi chín vỏ có màu xanh nhạt, mỏng, hơi bóng, khe múi lộ rõ; cơm dày, mịn có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, không xơ, vị ngọt thanh, béo vừa phải; hạt lép.

3. Giống Musang King: Có nguồn gốc từ Malaysia, cây sinh trưởng rất khỏe mạnh, chưa thấy dấu hiệu không phù hợp khi được trồng tại Việt Nam. Cây phát triển tốt ở những nơi có khí hậu nóng, có nhiệt độ trung bình 30 – 35oC, cần ánh sáng cao và cho trái khi trồng được từ 3 – 5 năm, chiều cao cây tối đa là 5m. Khác với những giống cây sầu riêng khác phải cắt thẳng trái từ cây khi chín thì sầu riêng Musang King sẽ tự rụng xuống.

 Đặc điểm quả: Hình bầu dục, cân đối, trọng lượng trung bình từ 1,8 – 2,5kg/trái, phần đuôi quả phân chia 5 – 6 khe múi lộ rõ.  Khi chín, vỏ trái có màu xanh nhạt hoặc vàng nâu, cơm rất vàng, hạt lép hoàn toàn, có vị béo như bơ, ngọt thanh, để lâu hơi đắng; thịt quả rất mịn, không xơ.

- Hoa sầu riêng là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ phấn rất kém do nhị đực và nhụy cái của hoa không nở cùng một lúc. Vì vậy, cần tạo điều kiện để sự thụ phấn chéo xảy ra giúp quả sầu riêng lớn, cân đối và đạt năng suất cao. Một số biện pháp được đề nghị như sau:

Biện pháp 1: Trồng 2 giống (01 giống là chủ lực của vườn và 01giống có tác dụng thụ phấn) xen lẫn với nhaucó thể bố trí theo sơ đồ sau:

Sơ đồ bố trí

Ghi chú

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

¡: Giống chủ lực

µ: Giống thụ phấn


Biện pháp 2: Chỉ trồng 01 giống nhưng kết hợp phát triển các động vật nhỏ giúp ích cho quá trình thụ phấn như: các loài bướm đêm, dơi nhỏ. Do chúng là những loài hoạt động về đêm (phù hợp với thời điểm hoa nở) và mùi hương của hoa sầu riêng khá mạnh nên rất hấp dẫn các loài này đến vườn hỗ trợ quá trình thụ phấn của hoa. Tuy nhiên, nếu bà con nông dân chọn nuôi dơi nhỏ trong vườn cần cân nhắc kỹ để đàn dơi không gây ảnh hưởng, thiệt hại đến cây trồng xung quanh như nhãn, …

IV. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Thời vụ và khoảng cách trồng

- Thời vụ: Thích hợp nhất khi mùa mưa đã bắt đầu (cuối tháng 6 – đầu tháng 7).

- Khoảng cách trồng: 10 x 8m, mật độ 125 cây/ha để thuận lợi cho việc sử dụng cơ giới trên vườn.

2. Cây giống: Cần đạt những yêu cầu như sau:

- Cây phải được nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép mắt hoặc ghép cành, có nguồn gốc rõ ràng. Lưu ý không được trồng sầu riêng bằng hạt.

- Gốc ghép thẳng, đường kính gốc ghép 1,0 – 1,5 cm, bộ rễ phát triển tốt.

- Thân, cành, lá: Thân thẳng và vững chắc, có từ 3 cành cấp 1 trở lên, các lá ngọn đã trường thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống. Chiều cao cây giống (tính từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi) đạt từ 80 cm trở lên.

- Cây phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn hiệu và phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch hại chính như: bệnh thán thư, bệnh do nấm Phytophthora, bọ phấn,...

3. Kỹ thuật trồng

a. Đào mương, lên liếp:

- Nhìn chung, đất tại Tây Ninh có tầng canh tác dày, không bị ngập úng nên khi lập vườn không phải đào mương lên liếp hay đắp mô. Tuy nhiên, để thuận lợi hơn trong quá trình xử lý ra hoa nhất là xử lý ra hoa trái vụ, ngăn chặn chảy tràn bề mặt làm lây lan bệnh trong vườn, bà con nên đào mương lên liếp. Trong đó, liếp được bố trí theo hướng Bắc – Nam để trồng cây vuông góc với hướng Đông nhằm giúp cây trên vườn nhận được ánh sáng đầy đủ hơn; các mương được nối với mương chính ở cuối vườn để thoát nước tốt trong mùa mưa. Kích thước thiết kế liếp, mương như sau:

+ Trường hợp lên liếp đơn thích hợp trồng chuyên canh: Liếp rộng 6 – 8 m; mương rộng 1 – 2 m, sâu từ 1 – 1,2 m.

+ Liếp đôi thích hợp trồng xen một số cây trồng khác để lấy ngắn nuôi dài: Liếp rộng 10 – 12 m; mương rộng 4 – 5 m, sâu từ 1 – 1,2 m.

b. Chuẩn bị hố trồng:

- Đào hố trồng có kích thước: 0,8 x 0,8 x 0,8 m và cho 0,5 – 1kg vôi/hố để xử lý một số côn trùng và nấm bệnh trong đất.

- Sau khi xử lý hố trồng khoảng 01 tháng: Tiến hành bón lót hỗn hợp sau khi đã trộn đều gồm: 30 kg phân chuồng hoai mục + 200g NPK (15:15:15) + đất mặt được đào từ hố trồng với lượng vừa đủ để khi lấp lại bằng với mặt đất tự nhiên và 15 ngày sau tiến hành đặt cây con.

c. Cách trồng

- Đặt cây con: Đào 01 lỗ chính giữa hố đã được trộn phân lấp xuống sao cho vừa bằng bầu cây giống và dùng kéo cắt bịch ni lông cẩn thận để không làm tổn thương rễ và không được làm bể bầu. Đặt cây vào hố trồng, hướng mắt ghép quay về hướng gió chính trong năm để giảm hiện tượng tách mắt ghép, nén đất chặt xung quanh bầu cây, cắm 03 cọc tạo thành hình tam giác bao xung quanh cây và buộc nhẹ vào thân cây để giữ cây khỏi đổ ngã, tưới đẫm nước ngay sau khi trồng và dùng rơm, cỏ khô ủ gốc để giữ ẩm.  

 - Che bóng cho cây lúc còn nhỏ: Sau khi trồng, trong 06 tháng đầu tiên, cần che 30 – 40% ánh nắng bằng lưới đen và che phủ mặt liếp bằng một số cây ngắn ngày như đậu xanh, đậu phộng để vừa làm cây trồng xen lấy ngắn nuôi dài vừa giữ ẩm cho đất, trồng thêm cây bắp hoặc chuối theo hướng đông tây và cách gốc 2 – 3 m để che nắng cho cây.

Lưu ý:

+ Giữ gốc sầu riêng khô ráo để hạn chế nấm bệnh tấn công vào gốc;

+ Không trồng các loại cây: đu đủ, thơm, dừa, nhóm cây có múi để làm cây trồng xen trong vườn sầu riêng vì các cây này cùng là ký chủ của nấm Phytophthora.

Quản lý cỏ dại: Trong mùa mưa, hàng tháng nên cắt cỏ toàn vườn nhằm giữ lại thảm cỏ giúp đất không bị rửa trôi, hạn chế tối đa sử dụng thuốc diệt cỏ. Riêng trong bồn cây, không được sử dụng thuốc diệt cỏ mà nên làm cỏ bằng tay và nhất là trước mỗi đợt bón phân.

4. Bón phân: Đề nghị như sau

 - Phân hữu cơ hoai mục: Mỗi năm nên bón từ  20 – 30 kg/cây vào đầu mùa mưa, tốt nhất nên kết hợp với nấm sinh học đối kháng Trichoderma để hạn chế các dòng nấm hại có trong đất như Phytophthora palmivora.

Phân hóa học bón cho mỗi cây qua các năm tuổi cụ thể:

Giai đoạn sinh trưởng của cây

N : P2O: K2O

Quy đổi tương đương

Urê : Supe lân : K2SO4

Ghi chú

N (g)

P2O5 (g)

K2O (g)

Urê (g)

Supe lân (g)

K2SO4 (g)

Năm thứ 1

100-150

50

50

200-300

300

100

Chia làm 02 lần bón:

- Lần 1: Đầu mùa mưa

- Lần 2: Cuối mùa mưa

Năm thứ 2 – 3

200-300

100

100

450-670

600

200

Chia làm 02 lần bón:

- Lần 1: Đầu mùa mưa

- Lần 2: Cuối mùa mưa

Bắt đầu cho trái

(năm thứ 4 – 6 )

500

250

250

1.000

1.500

500

Chia làm 03 lần bón:

Lần 1: 1/3 đạm + 1/2 kali ở giai đoạn trước khi ra hoa.

Lần 2: 1/3 đạm + 1/2 kali khi quả có đường kính 10-15 cm.

Lần 3: 1/3 đạm + toàn bộ lân ở giai đoạn sau thu hoạch.

Cho trái ổn định (từ năm thứ 7 trở đi): cây có chiều cao 7 – 11 m, đường kính tán 5 – 6 m, phát triển bình thường, có năng suất cao, có thể bón phân chia làm 04 lần như sau:

- Lần 1 (Phục hồi và tạo cơi đọt mới): Sau khi thu hoạch, cần tiến hành cắt tỉa cành, bón phân vào khoảng 10 – 15 ngày sau thu hoạch, lượng phân sử dụng như sau:

1-2 kg vôi bột + 02 kg phân hỗn hợp N : P : K : Mg  (18 : 1 : 5 : 3)

 tương đương (0,7 kg urê + 1,1 kg supe lân + 0,15 kg kali sunfat + 0,05 kg magiê sunfat)

Ghi chú: - Bón vôi bột nhằm nâng nâng pH đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật gây hại;

  •  Nếu cây lớn, có thể bón 03 kg N : P : K : Mg theo tỷ lệ trên.

- Lần 2 (Chuyển từ sinh trưởng sang sinh sản):  Khi lá của cơi đọt thứ 2 chuyển sang giai đoạn lá lụa, bón phân vô cơ có hàm lượng lân cao để xúc tiến quá trình phân hóa mầm và ra hoa thuận lợi, cụ thể:

02 kg phân hỗn hợp N : P : K (10 : 50 : 7)

tương đương (0,12 kg urê + 1,7 kg supe lân + 0,18 kg kali sunfat)

Ghi chú: Cần bón liều lượng nhiều hơn có thể phối trộn hỗn hợp phân N : P : K theo tỷ lệ trên.

- Lần 3 (Nuôi trái): khi trái sầu riêng to bằng trái chôm chôm, cần tiến hành tỉa trái và bón phân vô cơ có hàm lượng đạm và kali tương đối cao để thúc trái phát triển, cụ thể như sau:

02 kg phân hỗn hợp N : P : K : Mg  (12 : 12 : 17 : 2)

tương đương (0,37 kg urê + 1,1 kg supe lân + 0,5 kg kali sunfat + 0,03 kg magiê sunfat)

Ghi chú: Cần bón liều lượng nhiều hơn có thể phối trộn hỗn hợp phân N : P : K : Mg theo tỷ lệ trên.

- Lần 4 (Tạo chất lượng trái): trước khi thu hoạch trái 01 tháng, bón phân như sau:

1 – 1,5 kg KNO3 (để tăng chất lượng trái) + 2 – 3 kg N : P : K (16 : 16 : 8)

Ghi chú: Không bón phân muộn hơn thời gian trên vì sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng trái như:

cơm sầu riêng có thể bị sượng hoặc bị nhão


Phương pháp bón phân:          cụ thể như sau:
* Với phân vô cơ:
Năm thứ 1 – 2: Pha phân hóa học với nước để tưới;
Năm thứ 3 trở đi: Xới đất xung quanh tán để bón, cụ thể: xới một lớp đất mỏng, rắc đều phân và phủ đất. Vào mùa khô, có thể rắc phân phủ đất xong tiến hành tưới nước lên trên vừa có tác dụng chống hạn cho cây.
* Với phân chuồng: thực hiện đào hố theo hình chiếu của cây xung quanh tán, cho phân chuồng xuống cùng với phân vô cơ, trộn đều rồi lấp đất. 
- Những điều cần chú ý khi bón phân cho sầu riêng:
+ Không dùng các loại phân có Clor nhất là trong giai đoạn cho trái để bón vì Clor là một trong những yếu tố làm cho trái bị sượng;
+ Bón phân gà là cần thiết vì phân gà có khả năng hạn chế sự phát triển của nấm Phytopthora palmivora – vốn là loại nấm rất nguy hiểm với sầu riêng. Có thể thay thế phân gà hoai mục bằng các loại phân đã qua chế biến nhưng có nguồn gốc từ phân gà như: Humic, Dynamic lifter.
+ Để hãm ra lá non, tạo điều kiện cho cây ra hoa và đậu quả được tốt có thể dùng KNO3 hoặc phân bón lá M:K:P (0:52:34) để phun lên lá, nồng độ và cách phun theo khuyến cáo trên bao bì.

5. Tưới nướcCây cần nước ở các giai đoạn:

 - 01 tháng đầu tiên sau khi trồng nên tưới 01 lần/ngày.

- Thời kỳ cây tơ: Tưới đủ nước, đảm bảo chu kỳ tưới 03 lần/tuần (lượng nước tưới 100 – 150 lít/cây/lần) trong thời gian ít mưa và mùa khô để giảm tỉ lệ cây chết, giúp cây phát triển mạnh, nhanh cho trái.

- Thời kỳ cây ra hoa: Tưới cách ngày để cho hạt phấn khỏe mạnh và ngưng tưới nước khi hoa nở rộ. Khi kết thúc giai đoạn ra hoa rộ: tưới trở lại và lượng nước được tăng dần cho đến khi trở lại bình thường.

- Thời kỳ cây cho trái: Sau khi đậu trái, tưới đủ nước để giúp trái phát triển khỏe, chất lượng tốt. Riêng giai đoạn 20 ngày trước thu hoạch cần ngưng tưới để hạn chế cây ra đọt non giúp giảm tỷ lệ quả bị sượng.

 6. Tỉa cành, tạo tán: Để tạo cây có chiều cao vừa tầm, thuận lợi chăm sóc và có bộ khung tán khỏe mạnh cần áp dụng bấm đọt, tỉa bỏ các cành như sau:  

Cành cần cắt tỉa

Giữ lại các cành

+ Cành mọc đứng, cành bên trong tán

+ Cành mọc ngang

+ Cành ốm yếu, cành bị sâu bệnh   

+ Cành khoẻ mạnh

+ Cành mọc quá gần mặt đất

+ Cành ở độ cao 1m so với mặt đất

(khi cây cho trái)


Số cành cấp 1 khoảng 18 - 20 cành/cây, mỗi tầng khoảng 3 cành phân bố đều các hướng, mỗi tầng cách nhau 0,7 - 01 m, cây cao 4,5 - 5m.

Việc tỉa cành tạo tán cần được tiến hành từ năm thứ 2 để cây tạo tán sớm và thực hiện thường xuyên, liên tục để có bộ tán thông thoáng cân đối. Cần quét sơn cho vết cắt có đường kính > 1cm.   
7. Tỉa hoa, tỉa quả
- Tỉa hoa: Sầu riêng ra hoa 2 – 3 đợt trong năm, việc tỉa bỏ hay giữ lại đợt hoa nào tùy thuộc vào ý định của chủ vườn muốn có thu hoạch ở thời điểm nào để có hiệu quả kinh tế cao. Nếu có 03 đợt hoa chính, có 02 phương án: 
+ Phương án 1: Tỉa bớt hoa đợt 1 và đợt 3, để lại hoa đợt 2 cho chín tập trung. 
+ Phương án 2: Tỉa bớt hoa đợt 2, để lại hoa đợt 1 và đợt 3 để cho thu hoạch những quả chín sớm và chín muộn vào lúc thị trường khan hiếm.

Tỉa quả: Tỉa bỏ những quả nhỏ, quả méo mó, chỉ giữ lại những quả có hình dáng đẹp. Quả được mang trên cành to thì chất lượng cao hơn những quả trên cành nhỏ hoặc trên cành ít lá. Không để lại quá nhiều quả trên 01 cành, nhất là trên các cành nhỏ. Vì vậy, sau khi đậu quả, công việc tỉa quả được tiến hành như sau:
Lần 1: Tỉa vào giai đoạn từ tuần thứ 3 – 4 sau khi hoa nở đến tuần thứ 5 sau khi hoa nở (≈ trước khi quả bước vào giai đoạn phát triển nhanh). Lúc này cần tỉa bỏ: các quả đậu dày đặc, quả nhỏ, dị hình, bị sâu bệnh và chỉ để lại 1 – 2 quả/chùm.
+ Lần 2: Tỉa vào tuần thứ 8 sau khi hoa nở. Lúc này cần tỉa bỏ: các quả phát triển không bình thường: nhỏ, cân cân đối, méo mó ... để điều chỉnh lại sự cân bằng về mặt dinh dưỡng giúp cho quá trình tạo cơm trái được thuận lợi.
+ Lần 3: Tỉa vào tuần thứ 10 sau khi hoa nở. Lúc này cần tỉa bỏ: các quả có hình dạng không đặc trưng của giống, tạo thuận lợi cho sự phát triển cơm, kích thước và hình dạng quả.
8. Xử lý ra hoa: 
- Xử lý ra hoa thuận mùa: 
Khi bón phân ở gốc trong giai đoạn lá của cơi đọt thứ 2 chuyển sang lá lụa (như trên), cần kết hợp phun lên thân cây loại phân bón chuyên dùng giúp tạo mầm hoa tốt, ra hoa đồng loạt (liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất) + phun ướt toàn bộ lá bằng MKP nhằm giúp lá mau thuần thục (liều lượng: 80 – 100g/8 lít), thực hiện 02 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày. Lúc này thời tiết đã chuyển qua mùa khô nên khi gặp khô hạn khoảng 20 ngày thì sầu riêng sẽ nhú mầm hoa. 
Khi hoa có độ dài 2 – 3 cm: Tưới nước trở lại và tưới đầy đủ nước để hoa phát triển to, đều, hạn chế rụng hoa và tăng khả năng đậu trái. 
Khi hoa có độ dài 3 – 4 cm: Tỉa bỏ tất cả hoa ở đầu cành và sát gốc cành, chỉ giữ lại những chùm hoa giữa cành có khả năng mang trái.
Lưu ý: Ở giai đoạn cây ra hoa, nếu đồng thời cây cũng ra đọt sẽ cạnh tranh dinh dưỡng trong nuôi trái. Tuy nhiên, nếu khống chế không cho cây ra đọt sẽ đi ngược với quy trình sinh trưởng của cây và làm cây suy kiệt nên cần tạo kiều kiện cho cây ra đọt cùng lúc với ra hoa, tốt nhất là khi hoa nở thì đọt cũng đã già. Như vậy, sau khi cây ra hoa, trong khi tưới nước cần bón bổ sung hỗn hợp 1 – 1,5 kg urê + 1 – 1,5 kg DAP/cây và phun phân bón lá NPK (30-10-10) để thúc cây ra đọt. Cơi đọt này cần được nuôi và chăm sóc đặc biệt vì nó có vai trò quan trong trong quá trình nuôi dưỡng trái sau này.

Xử lý ra hoa nghịch mùa: Thực hiện như sau: 
+ Bón phân giúp cây phân hóa mầm hoa: khi cơi đọt muốn xử lý ra hoa đã già (sau khi nhú cơi đọt khoảng 3 – 4 tuần) thực hiện đồng thời:

 Gốc cây: bón phân DAP + Kali sunfat (lượng phân bón phụ thuộc vào tuổi và độ sung của cây mà áp dụng tỷ lệ 1 : 1 hay khác) + tưới nước để phân tan (giúp rễ hấp thu dinh dưỡng đầy đủ) sau đó ngưng tưới hoàn toàn và rút cạn nước trong mương sao cho khoảng cách từ mực nước trong mương đến mặt líp đạt từ 01m trở lên nhằm đảm bảo đất ở vùng rễ được khô ráo.

 Lá cây: Phun phân bón lá có hàm lượng lân cao như NPK (10-60-10), thực hiện 02 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày.
Sau khi bón phân giúp cây phân hóa mầm hoa, cây bắt đầu tạo mầm hoa. Giai đoạn này có thể từ 30 – 45 ngày, kéo dài hơn so với các tỉnh miền Tây. Nếu trong giai đoạn này, cây đã phân hóa mầm hoa vài đợt mà cây vẫn vón quá tươi tốt thì tiến hành phun thêm phân bón lá chứa lân và kali cao như NPK (10-30-30), thực hiện 02 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày để giúp cây tạo thêm mầm hoa. Sau đó chờ cây ra hoa thông qua các dấu hiệu giúp nhận biết cây sẽ ra hoa:

 Thân cây răn nứt;

 Lá già trên cây đổ nhiều, tốt nhất khi cây có tỷ lệ đổ lá từ 20 – 30% lá già.

 Trên các cành nhất là cành trên cao xuất hiện nứt sáng mắt cua (số lượng ít). Để quan sát rõ hơn ta thực hiện chiếu đèn pin hướng về các cành trên cao vào buổi chiều tối, nếu có mắt cua xuất hiện thì nó sẽ phản quang và sáng lên.
Sau khi cây có đủ các dấu hiệu trên, thực hiện tưới đẫm nước 02 lần, mỗi lần cách nhau 3 – 4 ngày nhằm gây sốc cho cây để mắt cua được bung đồng loạt, sau đó tiến hành tưới giữ ẩm trở lại.
Ghi chú: Hạn chế tối đa hoặc không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Paclobutrazol (PBZ) để xử lý ra hoa vì: hiệu quả xử lý ra hoa sẽ giảm dần theo từng năm; khi sử dụng nhiều năm sẽ làm cây bị suy kiệt, ảnh hưởng quá trình phát triển và cho năng suất của cây.

9. Thụ phấn bổ sung:

Thụ phấn bằng tay: Để tăng khả năng thụ phấn cho cây, giúp quá trình thụ phấn diễn ra đầy đủ trên đầu nhụy tạo trái sầu riêng đầy đặn, không bị lép. Cách làm như sau: Vào buổi sáng, cắt một số hoa sắp nở dùng của giống dùng làm bố mang về nhà, cắt lấy các chùm nhị đặt vào đĩa sứ và lấy vải màn trùm lên để vào nới cao, khô (giữ ở điều kiện nhiệt độ trong phòng 25 – 26oC là thích hợp nhất) đến chiều là bao phần nở và tung phấn. Đến tối, gỡ bỏ cuống nhị và xác bao phấn, gom phấn lại và dùng 01 que tre có đầu buộc chặt một nhúm bông, chấm vào phấn và phết nhẹ vào đầu nhụy hoa của giống mẹ vào lúc 20 – 22 giờ. Không cần cách ly hoa mẹ.

Tăng khả năng thụ phấn chéo: trồng xen khoảng 02 giống trong vườn; hoặc chỉ trồng 01 giống và kết hợp phát triển các động vật nhỏ giúp ích cho quá trình thụ phấn.
10. Hiện tượng cơm (múi) bị sượng:
- Hiện tượng sượng phần cơm trái không do một nguyên nhân đơn lẻ mà do kết hợp nhiều yếu tố như: dinh dưỡng, nước, điều kiện môi trường và quả càng lớn thì tỷ lệ sượng càng cao.
- Một số biện pháp kỹ thuật hạn chế hiện tượng cơm (múi) bị sượng:
+ Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục;
+ Xiết nước vào lúc quả chín và kết hợp ngăn nước mưa thấm vào gốc, rễ bằng cách dùng ni lông che kín líp, vườn.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Xén tóc (Plocaederus ruficornis)

  - Hình thái: Có 3 giai đoạn gồm trứng, ấu trùng và thành trùng (xén tóc). Trứng tròn, màu trắng được đẻ rải rác trong các vết nứt của vỏ cây, nở trong thời gian từ 2 – 3 ngày. Ấu trùng có thân màu vàng nhạt, đầu rất nhỏ và hay rút xuống phía dưới, chân thoái hóa còn rất nhỏ, có đời sống rất lâu (có thể đến 7 – 8 tháng) ngay bên trong thân cây. Thành trùng có thân màu nâu đen, dài từ 2,5 – 4 cm; có râu rất dài, màu đỏ, bằng hoặc hơn thân mình (con đực); sáu chân cũng có màu đỏ với đốm nâu đậm ở cuối đùi và cẳng chân; trên cánh cứng có những đốm gồ màu nâu hoặc đen; ngực trước có u nhỏ trông gồ ghề, mỗi bên có một gai đưa ra giống hai cái sừng; thường bị thu hút bởi ánh sáng đèn vào đầu mùa mưa sau khi vừa trưởng thành.

Giai đoạn gây hại là ấu trùng, khả năng phá hại rất cao nhưng lại rất khó phát hiện triệu chứng gây hại do ấu trùng không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện qua các lỗ đục trên thân, cành héo khô và có thể chết.


Hình 2: hình thái của trưởng thành và ấu trùng của xén tóc (Nguồn: sưu tầm)


Cách gây hại: Loài xén tóc đục trên thân chính hoặc nhánh lớn, thường làm chết nhánh hoặc suy yếu cả cây. Con cái đẻ trứng vào các vết nứt của cây hoặc ngay vị trí phân nhánh (chảng ba của cây). Ấu trùng chui qua vỏ vào trong đục thành đường hầm trong thân cây và cành cây, ăn phá ở đó. Những đường đục trong gỗ cây thường có dạng hình tròn (thiết diện cắt ngang) và kéo dài một đoạn thẳng nhỏ trước khi quay hướng đục.

Cây bị tấn công vào giai đoạn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng rất nhiều, mạch dẫn nhựa tắt nghẽn làm cho cành bị khô héo và rụng lá, các lỗ do ấu trùng đục vào bị chảy nhựa và cành dễ gãy.

Hình 3: Ấu trùng xén tóc gây hại trên thân sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

- Phòng trị: Rất khó để phòng trị các loài xén tóc vì ấu trùng ở sâu bên trong. Có thể ngừa bằng cách sau:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên (cắt bỏ và tiêu hủy những cành vượt, bệnh, đã mang trái năm trước), dọn sạch cỏ rác và lá cây mục.

+ Không gây ra vết thương – tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng.

+ Thành trùng chỉ xuất hiện vào lúc đêm tối và khi chúng đẻ trứng. Chúng thường bị thu hút bởi ánh sáng nên có thể dùng bẫy đèn để thu hút (vào đầu mùa mưa). Sau cơn mưa đầu tiên và giai đoạn gần cuối mùa mưa, phun thuốc bvtv để ngừa xén tóc vào vườn đẻ trứng.

+ Pha hỗn hợp vôi, lưu huỳnh, nước (tỷ lệ 10:1:40) quét thân cây để diệt trứng và tránh không cho thành trùng đẻ trứng vào giai đoạn trước và sau mùa mưa.

Một số hoạt chất có thể sử dụng như: Diafenthiuron, Chlorantraniliprole, …

+ Nếu mật số cây bị sâu đục thân, cành cao thì dùng bông gòn thấm thuốc trừ sâu (nên chọn loại thuốc lưu dẫn hoặc xông hơi), nhét sâu vào các lổ đục, trám miệng lỗ đục lại. Ngoài ra, cũng có thể rải thuốc trừ sâu dạng hạt vào các lỗ đục và trám đất sét.

+ Trong quá trình tìm và diệt sâu đục thân, có thể tạo nhiều vết thương trên thân cây, ta có thể quét các loại thuốc gốc đồng phòng bệnh tấn công.

  2. Sâu đục quả (Conogethes punctiferalis) gây hại từ lúc quả non - quả già.

   - Hình thái: Trứng hình bầu dục, dài khoảng  2-2,5 mm. Ấu trùng dài khoảng 22 mm, đầu nâu, thân màu trắng ửng hồng, hai đốt ngực (trước và giữa) và hai đốt thân ở cuối đuôi thường có mầu trắng hơi hồng, các đốt còn lại có mầu hồng. Mỗi đốt sống lưng có 4 đốm nâu nhạt, 2 đốm trên to, hai đốm dưới dài và hẹp, trên mỗi đốm  đều có  lông cứng nhỏ, mỗi có một  đốm nhỏ mầu nâu ở bên hông cơ thể, lổ thở mầu đen. Trưởng thành là bướm có chiều dài sải cánh 20 – 23 mm, toàn thân màu vàng, trên cánh có nhiều chấm nhỏ màu đen. 


Hình 4: Hình thái của trưởng thành, nhộng và ấu trùng của sâu đục quả sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Cách gây hại: Trưởng thành cái đẻ trứng trên vỏ quả non, sâu non ăn phần vỏ rồi đục vào quả sau đó hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ quả. Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn lẻ.

Ảnh hưởng của sâu đến quả sầu riêng: Quả non bị hại sẽ biến dạng và rụng; quả già bị hại sẽ ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm. Ngoài ra, sâu đục vào quả còn tạo điều kiện cho các nấm bệnh xâm nhập gây thối và rụng quả.


Hình 5: Sâu đục trái gây hại sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

- Phòng trị:

+ Cắt tỉa các trái nhỏ, kém phát triển, trái bị sâu hại.

+ Dùng cành cây nhỏ ngăn tách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại.

+ Dùng bẫy đèn để bẫy trưởng thành vào ban đêm.     

+ Tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế sâu hại, có một số loài ong có thể ký sinh trứng, ấu trùng và nhộng, ngoài ra còn có các loài ăn thịt như bọ xít, kiến và nhện ăn mồi.

+ Bao trái: Dùng bao giấy bao quả sau khi thụ phấn 01 tháng để hạn chế hiệu quả sâu đục quả. Trước khi bao nên xịt 01 lượt thuốc trừ sâu.

+Phun thuốc: có thể dùng thuốc chứa hoạt chất: Spinosad, Emamectin benzoate, Abamectin, Oxymatrine… Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.

3. Rầy nhảy (Rầy phấn) (Allocaridara malayensis): đối tượng gây hại phổ biến và quan trọng trên cây sầu riêng, phát triển nhiều trong các tháng mùa nắng, gây hại chủ yếu trên lá non.

Hình thái: Ấu trùng có cấu trúc giống như lông màu trắng xung quanh cơ thể, đặc biệt là ở phía sau có lông tơ màu trắng dài trông giống như một cái đuôi gà. Thành trùng không có cấu trúc lông trắng này, không bay thường xuyên, chỉ bay khi chúng bị quấy phá, có chiều dài 3 – 4 mm, cơ thể có màu nâu lợt, cánh trong suốt, thường xuất hiện ở mặt dưới lá và có thể sống đến 6 tháng; đẻ trứng ở mặt trên lá non còn xếp lại thành từng ổ.


Hình 6: Hình thái rầy nhảy (rầy phấn) (Nguồn: sưu tầm)

Cách gây hại: thường sống ở mặt dưới lá, cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng. Khi bị hại nặng, lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Ngoài ra rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển.


Hình 7: Rầy nhảy trên lá sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

+ Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dể trừ rầy.

+ Phun nước khi lá vừa mở để rửa trôi ấu trùng và thành trùng giúp giúp giảm mật số rầy.

+ Thường xuyên kiểm tra cây đặc biệt là thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 11 là thời kỳ thường xảy ra dịch rầy nhằm quan sát tình trạng xuất hiện của rầy nhảy.

+ Sử dụng bẫy dính màu vàng nhằm hấp dẫn và bẫy rầy trưởng thành.

+ Tạo điều kiện cho nhiều loài thiên địch trong tự nhiên như: ong ký sinh nhỏ thuộc họ Ong nhảy (Encyrtidae) – loài ong có nhiều ở những nơi ít sử dụng thuốc hóa học, có tầm quan trọng trong việc phòng trừ sinh học rầy nhảy sầu riêng, ấu trùng bọ rùa, ấu trùng bọ cánh gân, nhện phát triển nhằm hạ mật số rầy.

+ Khi mật số rầy cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Thiamethoxam, Clothianidin, CyantraniliproleDinotefuran, Liuyangmycin, Oxymatrine… Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.

4. Nhện đỏ (Eutetranychus sp.)

- Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng đời rất ngắn, gây hại trên lá già nhất là những lá ở gần mặt đất.

- Gây hại bằng cách: Chích hút dịch lá tạo thành những chấm trắng li ti, làm lá bị mất màu, không phát triển được. Lá bị hại nặng sẽ chuyển màu vàng, rụng sớm dẫn đến cây sinh trường kém, ảnh hưởng đến ra hoa đậu quả của cây.


Hình 8: Triệu chứng nhện đỏ gây hại trên lá (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

- Phun nước lên tán lá để tăng ẩm độ lá, giảm mật số của nhện.

- Trong điều kiện tự nhiên, nhện đỏ bị nhiều loại thiên địch tấn công như : nhện nhỏ ăn mồi…cần tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế nhện đỏ gây hại.

- Khi mật số nhện cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất để phun như: Abamectin, Azadirachtin, Clofentezine, Diafenthiuron, Emamectin benzoate … Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng. 

5. Rệp sáp (Planococcus sp.)

- Xuất hiện khá phổ biến, tấn công trên trái từ khi còn non, bu bám vào cuống quả hoặc các rãnh giữa các gai trên vỏ quả. 


Hình 9: Rệp sáp tấn công trên trái non, hoa sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Gây hại bằng cách: Chích hút nhựa làm quả kém phát triển. Nếu quả non bị hại nặng sẽ bị biến dạng hoặc rụng non. Trong quá trình gây hại, rệp còn tiết ra mật đường tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm giá trị thương phẩm của trái.


Hình 10: Rệp sáp gây hại quả sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

- Tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng.

- Không trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu (na)…

- Khi mật số rệp cao phun thuốc có chứa hoạt chất như: Buprofezin, Spirotetramat..

B. BỆNH HẠI      

1. Bệnh Phytophthora (thối rễ, nứt thân, nứt quả, chảy nhựa, chảy gôm...)

Tác nhân: Nấm Phytophthora palmivora, gây hại từ giai đoạn vườn ươm đến cây trưởng thành, cho quả; hại trên rễ, thân, cành, lá và quả.

Triệu chứng:

+ Trên rễ: Rễ non bị thối có màu đen, rễ chết dần làm cây phát triển chậm, sau đó nấm lan dần đến phần thân cây phía trên gây chảy nhựa thân, bộ lá chuyển màu vàng, cây không phát triển và chết dần.

Trên thân, cành: Nấm lây lan dần đến phần thân cây phía trên làm chảy nhựa trên bề mặt vỏ thân, vết bệnh ướt và nhựa có màu nâu. Vỏ thân và gỗ bên dưới bị chuyển sang màu hồng nhạt, có bớt tím, viền gợn sóng, bệnh lan dần vào bó mạch. Khi cạo lớp vỏ bị bệnh ra sẽ thấy phần gỗ có màu nâu sẫm dọc theo thân cành. Cây bị bệnh nặng sẽ không phát triển và chết dần.

Trên lá: Vết bệnh đầu tiên là những đốm đen nâu nhỏ trên mặt lá và lan rất nhanh, bộ lá chuyển màu vàng rồi sau vài ngày lá chuyển thành màu nâu, lá bị nhũn rồi khô dần và rụng theo từng cành hay một phía của cây.

Trên quả: Vết bệnh khởi đầu là một vài chấm nhỏ màu đen nâu, thường xuất hiện theo vị trí dọc theo chiều từ cuống quả trở xuống xung quanh quả, sau đó phát triển thành hình tròn hay loang lổ và có màu nâu trên vỏ quả. Khi quả già, vết bệnh nứt ra và phần thịt quả bên trong bị thối, có rất nhiều sợi nấm màu trắng trên vết bệnh và làm quả sầu riêng rụng trước khi chín.

Phương thức lan truyền nguồn bệnh:
Nấm thường lưu tồn trong đất, có khả năng thích ứng và tồn tại trong điều kiện bất lợi. sợi nấm và bào tử còn lưu tồn trong các vết bệnh trên thân, cành, lá, trái bị bệnh và các xác bã thực vật. Từ đây, nấm dễ dàng phát tán khi gặp điều kiện thuận lợi như: gió to, mưa nhiều, nấm sẽ lây lan, phát triển rất mạnh. Vườn bị ngập úng nước càng lâu thì áp lực bệnh càng lớn.


Hình 11: xì mủ trên thân, cành sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

* Biện pháp quản lý bệnh:

a. Đối với những vườn chưa bị bệnh hoặc bị bệnh nhẹ:

- Biện pháp canh tác:

+ Chọn đất trồng có khả năng thoát nước tốt trong mùa mưa; tạo rãnh thoát nước, không để nước ứ đọng lâu ngày ở gốc cây sầu riêng.

+ Trồng cây có mật độ vừa phải, khoảng cách từ 8 – 10 m giúp vườn thông thoáng, có ánh nắng xuyên vào để giảm ẩm độ, giảm áp lực nguồn bệnh.

+ Bón phân cân đối, sử dụng phân chuồng hoai mục và chế phẩm sinh học có chứa vi sinh vật có ích như nấm đối kháng Trichoderma để bón cho cây. Không bón phân hóa học trực tiếp lên rễ cây dễ gây ngộ độc phân.

+ Thường xuyên thăm đồng, vệ sinh vườn và thu gom tàn dư cây bị bệnh đem tiêu hủy; cắt tỉa các cành nhánh gần mặt đất, vệ sinh làm cỏ vùng góc tạo thông thoáng.

+ Trước khi vào mùa mưa, rắc vội bột nhằm khử trùng bề mặt vườn, rãnh thoát nước với lượng 01 tấn/ha. Mùa khô cần tủ gốc giữ ẩm cho cây.

Biện pháp sinh học: Phòng bệnh và tăng sức đề kháng cho cây bằng chế phẩm sinh học chứa nấm đối kháng Trichoderma và xạ khuẩn Streptomyces,… Các chế phẩm sinh học trên được bón kết hợp với các đợt bón phân cho cây.

Biện pháp hóa học: Áp dụng một hoặc kết hợp các biện pháp sau:
Quét gốc: Hàng năm tiến hành quét vôi nước hoặc dung dịch Bordeaux 1% quanh gốc vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa, độ cao 0,7 – 1 m tính từ mặt đất để hạn chế nấm lây nhiễm từ đất lên cây.
Tiêm truyền thuốc: Tiêm truyền thuốc BVTV để phòng chống bệnh, phương pháp, nồng độ và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Bôi thuốc: Đối với những cây có vết bệnh còn nhỏ, thâm đen và chảy gôm trên thân, cành thì dùng dao sắc bén cạo bỏ phần mô chết, bôi dung dịch thuốc có hoạt chất như: Metalaxyl, Mancozeb, Fosetyl – aluminiumthuốc gốc đồng, …lên mặt cắt và xung quanh. Nồng độ thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất. tiến hành cạo và bôi thuốc trong thời gian khô ráo.
Phun thuốc: Khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh phát sinh gây hại nặng cần phòng trừ bằng các loại thuốc có chứa một trong các hoạt chất: DimethomorphProbamocard. HCLFosetyl – aluminiumMetalaxyl, Mancozeb, Propineb, thuốc gốc đồng …trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành hằng năm. Liều lượng và cách sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
Trong những đợt mưa kéo dài, ẩm độ cao, có thể xử lý thuốc BVTV phòng bệnh lần 2 sau lần 1 từ 5 – 7 ngày.
Thuốc có hoạt chất Phosphorous acid xử lý theo phương pháp, nồng độ và liều lượng của nhà sản xuất.
b. Đối với những vườn chưa bị bệnh trung bình – nặng: 
- Hạn chế tưới nước, bón phân hóa học, phân bón lá và các loại chất kích thích ra hoa đậu quả.
- Xử lý các vết thâm đen trên thân chính hoặc cành lớn bằng cách cạo bỏ phần vỏ bên ngoài, sau đó quét thuốc có hoạt chất Metalaxyl lên phần đã cạo. Các đầu cành bị khô, chết ngọn xử lý bằng cách cưa bỏ, sau đó bôi vôi hoặc keo liền sẹo vào các vết cắt để năng chặn nấm bệnh tấn công và để bảo vệ mầm ngủ, giúp cây nhanh phục hồi.
- Sử dụng các loại thuốc hóa học có hoạt chất: Fosetyl – aluminiumCymoxanilProbamocard. HCL, DimethomorphMancozeb, Metalaxyl, Propineb, thuốc gốc đồng,…để xử lý nguồn nấm bệnh trên lá. Liều lượng và cách sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì. 
Thuốc có hoạt chất Phosphorous acid xử lý theo phương pháp, nồng độ và liều lượng của nhà sản xuất.
2. Bệnh thán thư (Antracnose)
- Do nấm Collectotrichum zibethinum gây ra
- Thường bệnh xuất hiện trên cây ở vườn ươm đến cây 03 năm tuổi, những cây lớn nhưng kém phát triển, nhất là trong mùa nắng hay sau khi thu hoạch, chỉ xuất hiện trên lá già ở khu vực giữa tán trở xuống mặt đất.
- Triệu chứng: Vết bệnh thường bắt đầu từ mép lá hay từ chóp lá lan dần vào trong phần phiến lá có màu nâu đậm, vết bệnh điển hình là để lại các đường viền hình tròn có màu nâu đậm dọc theo hai bên gân chính của lá.

Hình 12: Bệnh thán thư trên lá sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)
Phòng trị:

- Tỉa bỏ và tiêu hủy những cành bị bệnh nặng.

- Cung cấp nước và phân bón đầy đủ cho cây sinh trưởng bình thường.

- Phun thuốc khi cây vừa xuất hiện bệnh bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Azoxystrobin, Propineb, Difenoconazole + Propiconazole …theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất.

3. Bệnh cháy lá chết ngọn (leaf blight)

- Do nấm Rhizoctonia sp. gây ra

- Bệnh thường xuất hiện và phát triển mạnh trong mùa mưa, không những gây hại cây ở vườn ươm mà còn gây hại trên cả cây lớn.

- Triệu chứng: bệnh lan dần từ lá già bên dưới lên trên làm các lá bị phỏng nước sôi, sau đó có màu vàng nâu, cuối cùng chuyển sang màu trắng xám. Các lá bệnh thường dính lại với nhau, khi gỡ ra thấy có các tơ màu vàng nâu kết dính các lá lại với nhau, đôi khi có những hạch tròn màu nâu nhạt. Nếu gặp mưa dầm, ẩm độ không khí cao thì vết bệnh có màu đen và nhũn ra.


Hình 13: Bệnh cháy lá chết ngọn trên sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

+ Vệ sinh, thu dọn và tiêu hủy các cành lá bị bệnh dưới tán cây.

+ Tỉa cành gần mặt đất tạo cho cây thông thoáng, hạn chế bệnh.

+ Khi thấy vườn chớm bệnh, phun thuốc chứa hoạt chất như: Hexaconazole, Validamycin, Difenoconazole + Propiconazole  … hoặc thuốc gốc đồng theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất..

4. Bệnh đốm rong (Algal leaf spot)

- Do nấm Cephaleuros virescens gây ra

- Bệnh tấn công trên lá và các cành cây ở các vườn sầu riêng chăm sóc kém

- Triệu chứng: Vết bệnh có hình tròn màu gạch tôm đường kính từ 0,2 – 1 cm và hơi nhô lên, nếu nhìn kỹ thấy nhiều sợi tơ trên vết bệnh thường xuất hiện ở mặt trên của lá, rong hút dinh dưỡng và làm lá kém phát triển, giảm quang hợp. Bệnh còn tấn công trên cành cây, vết bệnh cũng tương tự như trên lá, làm cành non bị nứt ra, vị trí nứt này sẽ dễ nhiễm các loại nấm khác đặc biệt là nấm Phytophthora palmivora trong mùa mưa.


Hình 14: Đốm rong trên sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị: Tỉa và tiêu hủy các cành bị bệnh và cành nằm bên trong tán không cho trái; phun các loại thuốc gốc đồng khác theo liều lượng khuyến cáo.

5. Bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor)

- Nấm thường tấn công trên các cành cây rậm rạp tại chảng 2, chảng 3 của cây.

- Nấm thường tạo một lớp tơ nấm lúc đầu có màu trắng đục sau đó chuyền sang màu hồng nhạt phát triển xung quanh vỏ cành cây, nấm hút dinh dưỡng làm vỏ cành chỗ bị hại khô và rụng lá cả cành, cuối cùng làm cành chết khô.


Hình 15: Nấm hồng trên sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

- Phòng trị:

+ Cần trồng cây với mật độ thưa, tỉa cành cho cây thông thoáng, tỉa bỏ và tiêu hủy các cành bị bệnh.

+ Phun ngừa các loại thuốc như: Difenoconazole + Propiconazole, thuốc gốc đồng….. theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất.

6. Bệnh thối hoa (do nấm Fusarium sp.)

- Hoa bị bệnh tấn công có màu nâu đen, vết bệnh hơi lõm xuống. Nấm tấn công trên hai mảnh vỏ bao quanh hoa sầu riêng, sau đó lan dần vào trong phần cánh hoa làm hoa thối và rụng đi.

- Phòng trị:

+ Tỉa cành tạo tán cho cây và vườn cây thông thoáng, nên tỉa bớt và để các hoa trên cành thưa và rời nhau trên cành, vệ sinh và tiêu hủy các hoa nhiễm bệnh  rụng dưới tán cây.

+ Phun thuốc phòng bệnh khi hoa chuẩn bị nở có hoạt chất như: Hexaconazole, Mancozeb+Metalaxyl, Difenoconazole + Propiconazole,… theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất...

 

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và hoạt chất thuốc BVTV sử dụng phòng trừ:

Giai đoạn sinh trưởng

Đối tượng

Hoạt chất thuốc BVTV sử dụng phòng trừ

Cây con

1. Xén tóc

- Diafenthiuron,

- Chlorantraniliprole, …

2. Rầy nhảy

- Thiamethoxam,

- Clothianidin,

- Cyantraniliprole,

- Dinotefuran,

- Liuyangmycin,

- Oxymatrine

3. Nhện đỏ

- Abamectin,

- Azadirachtin,

- Clofentezine,

- Diafenthiuron,

- Emamectin benzoate …

4. Bệnh Phytophthora

- Dimethomorph,

- Probamocard. HCL,

- Fosetyl – aluminium,

- Metalaxyl,

- Mancozeb,

- Propineb,

- Phosphorous acid,

- Cymoxanil,

- Thuốc gốc đồng …

5. Bệnh thán thư

- Azoxystrobin,

- Propineb,

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole …

6. Bệnh cháy lá chết ngọn

- Hexaconazole,

- Validamycin,

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole  …

7. Bệnh đốm rong

- Thuốc gốc đồng

8. Bệnh nấm hồng

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole,

- Thuốc gốc đồng, …..

Ra lá non, đọt non

Các đối tượng như ở giai đoạn cây con

Ra hoa

1. Bệnh thối hoa

- Hexaconazole,

- Hợp chất Mancozeb+Metalaxyl,

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole,…

2. Các đối tượng như ở giai đoạn cây con

Cho trái

1. Sâu đục quả 

- Spinosad,

- Emamectin benzoate,

- Abamectin,

- Oxymatrine…

2. Rệp sáp

- Buprofezin,

- Spirotetramat....

3. Các đối tượng như ở giai đoạn cây con


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

VI. Thu hoạch

- Sau trồng 05 năm, sầu riêng bắt đầu cho thu hoạch, thường cho quả 01 lần trong năm. Sau khi ra hoa khoảng 3 – 5 tháng, sầu riêng sẽ chín hoàn toàn và tự rơi xuống đất. Tuy nhiên, khoảng thời gian này có sự khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố: giống, nhiệt độ, lượng mưa, chế độ chăm sóc và vị trí địa lý của vườn cây. Ví dụ: thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch của một số giống phổ biến hiện nay: RI 6 (105 – 110 ngày), Monthong (105 – 120 ngày) ...

Để xác định đúng thời điểm thu hoạch cần kết hợp nhiều đặc điểm:

+ Màu sắc vỏ quả: sầu riêng khi chưa chín, vỏ quả có màu xanh hoặc nâu sáng. Khi quả bắt đầu chín, đầu của gai quả chuyển sang màu nâu đậm và phần vỏ màu nâu sáng;

+ Khi quả chín, khoảng cách giữa các gai rộng dần ra;

+ Đầu gai quả trở nên mềm và dẻo hơn;

+ Tầng rời của cuống quả phồng lên rõ rệt khi quả chín (có thể nhận thấy rất rõ trên giống Monthong)

+ Nhựa chảy ra từ cuống quả có đặc điểm: màu trong, lỏng, có vị ngọt khi quả chín. Nếu nhựa chảy ra có đặc điểm: đặc, dính và không có vị ngọt thì quả còn xanh.

+ Ngoài ra, còn có một số kinh nghiệm như nghe tiếng vỗ vào quả, độ cứng của cuống quả, độ sáng của đường viền ngoài quả...

Kỹ thuật thu hái: Khi quả đạt độ chín thích hợp, dùng dao thật bén cắt cuống cách tầng rời ít nhất 3 – 4 cm (hình 15) rồi đặt vào các dụng cụ chứa đựng, tuyệt đối không nên để quả rơi xuống đất để tránh bị dính đất, bụi, các nguồn gây bệnh, sự va chạm làm trầy xước quả và giữ quả nơi thoáng mát.


Hình 16: Vị trí cắt khi thu hoạch sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Với những cây lâu năm không thể với tới được thì dùng các dụng cụ như: thang, sào hái...với các vườn trên đất dốc cần buộc quả khi còn xanh vào các cành cây hoặc thân cây gần đó để khi quả chín tự nhiên sẽ không bị rơi xuống đất.

- Đảm bảo thời gian cách ly các loại thuốc BVTV đã sử dụng trước khi thu hoạch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. GS. TSKH Trần Thế Tục và TS Chu Doãn Thành, 2004. Cây sầu riêng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
  2. Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền nam. Kỹ thuật trồng sầu riêng.
  3. Cục Bảo vệ thực vật, 2017. Quy trình kỹ thuật quản lý bệnh Phytophthora hại sầu riêng.
  4.  Thông tin từ Hội Sầu riêng Việt Nam
  5. Chi cục Trồng trọt và BVTV
Lượt người xem:  Views:   500
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật