Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 29/04/2019, 19:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
29/04/2019 | Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
Xoài là giống cây chịu hạn. Tuy nhiên, để đạt năng suất cao cần phải đảm bảo hệ thống tưới tiêu giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt. Xoài là cây ưa sáng, do đó phải đảm bảo khoảng cách giữa các cây trong vườn, cắt tỉa cành lá, tạo thông thoáng cho cây phát triển tốt. Nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển trong khoảng 15-36oC. Nhiệt độ trên hoặc dưới ngưỡng này cây xoài sinh trưởng chậm, kém phát triển.

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI

I. YÊU CẦU SINH THÁI

1. Đất trồng:

Xoài thích hợp trồng trên đất phù sa, sét nhẹ, đất thịt pha cát và đặc biệt là đất nhiều hữu cơ, độ pH từ 5,5-7,2.

2. Nước

Xoài là giống cây chịu hạn. Tuy nhiên, để đạt năng suất cao cần phải đảm bảo hệ thống tưới tiêu giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.

3. Ánh sáng

Xoài là cây ưa sáng, do đó phải đảm bảo khoảng cách giữa các cây trong vườn, cắt tỉa cành lá, tạo thông thoáng cho cây phát triển tốt.

4. Nhiệt độ

Nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển trong khoảng 15-36oC. Nhiệt độ trên hoặc dưới ngưỡng này cây xoài sinh trưởng chậm, kém phát triển.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Đất nông nghiệp trên địa bàn Tây Ninh phần lớn có độ pH từ 5 – 5,5. Nguồn nước tưới phong phú như thủy lợi, nước ngầm, … trong đó nguồn nước ngầm thường có độ pH thấp. Do đó, cần tiến hành đánh giá điều kiện tự nhiên, phân tích đất, nguồn nước ngầm trước khi quyết định đầu tư trồng.

Trong trường hợp đất, nước tưới có độ pH thấp, cần có những giải pháp cải tạo, nâng độ pH nhằm tạo điều kiện thuận lợi cây xoài sinh trưởng phát triển tốt. Một trong số giải pháp để nâng pH đất là bón vôi. Bên cạnh đó, hàng năm nên kiểm tra độ pH, nếu độ pH trong đất vẫn chưa về ngưỡng thích hợp, tiếp tục bổ sung vôi.

+ Đối với nước ngầm có độ pH thấp không nên sử dụng bơm tưới trực tiếp vào cây trồng, cần thiết kế hệ thống mương tưới, bể chứa và xử lý vôi (có thể dùng CaCO3, Ca(OH)2, CaO, …) để cải thiện độ pH về ngưỡng thích hợp, sau đó tiến hành bơm tưới cho cây trồng.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

STT

TÊN GIỐNG

ĐẶC ĐIỂM

Trọng lượng trái (g)/trái

Đặc điểm cơ bản

Mùi vị

1

Xoài cát chu

450 – 550

Trái tròn, ít xơ, độ dai nhẹ, có màu vàng hơi đỏ, ra hoa tập trung, năng suất cao. Độ ngọt 18 - 20%, tỷ lệ phần ăn được cao 78 - 80%.

Ngọt, hương vị ngon

2

Xoài cát hòa lộc

600 – 700

Cơm dày, thịt trái vàng, dẽ, hột dẹp, không xơ, được coi là giống xoài có phẩm chất ngon nhất. Độ ngọt 20 - 22%, tỷ lệ thịt ăn được cao 80 - 84%.

Ngọt, hương vị ngon

 

3

Xoài thái xanh

300 – 400

 Trái tròn thuôn dài và hơi cong ở đuôi, thịt giòn. ăn xanh hay ăn chín đều phù hợp. Cho năng suất cao, không kén đất.

Vị ngọt, mùi thơm đậm

4

Xoài Đài loan xanh

600 – 2.000

Vỏ xanh ửng hồng, năng suất cao, dễ đậu trái, ít sâu bệnh. Cây cho trái sớm, trồng 12 - 18 tháng cây cho trái. Cây có khả năng cho trái quanh năm, không bị mất mùa như một số giống xoài khác. Trái đồng dạng, đều, da xanh sáng và đẹp mắt. thịt chắc, ít xơ, hạt mỏng, vị ngọt đậm.

Thuộc nhóm

xoài ăn sống

ngon.

5

Xoài Đài loan đỏ

500 – 2.000

Cho trái sớm (12 - 18 tháng sau khi trồng). Dễ ra hoa và đậu trái, có khả năng cho trái quanh năm. thịt chắc, ít xơ, hạt mỏng, vị ngọt đậm. Vỏ trái có màu tím đỏ.

Ngoài ăn

sống, ăn chín cũng thơm ngon

6

Xoài Úc

600 – 900

Chín rất thơm, dạng trái bầu tròn rất đẹp, khi chín có màu vàng ửng hồng rất đẹp trên u vai quả. Thời gian cho trái: 18 - 20 tháng

Ngọt, hương vị ngon

 


IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ trồng:

Nếu có điều kiện tưới nước có thể trồng quanh năm, tuy nhiên tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa cây phát triển tốt hơn và giảm chi phí tưới nước.

Mật độ:

Khoảng cách: Cây cách cây 7m, hàng cách hàng 8m, tương đương mật độ 178 cây/ha.

2. Chọn giống:

Chọn mua ở những cơ sở có uy tín, chọn cây khỏe mạnh, không nhiễm sâu, bệnh, chọn nhân giống theo phương pháp vô tính (gốc ghép) để rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, cây ra trái ổn định (sau 3 năm cho trái).

Lưu ý: Chọn những cây giống có gốc ghép được trồng từ hạt của những cây xoài đã được trồng nhiều năm, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của địa phương nhằm giúp cây phát triển tốt về sau.

Tiêu chí chọn cây ghép tốt:

+ Từ chỗ ghép trở lên phải cao 20-40cm.

+ Chỗ ghép phải lành lặn.

+ Cây giống phải cao từ 60cm đến 1,5m.

+ Cây không có dấu hiệu nhiễm sâu, bệnh.

+ Tên giống phải rõ ràng, cây giống phải có treo biển tên giống cây và tên vườn ươm.

+ Vườn ươm phải được cấp chứng chỉ, có vườn đầu dòng chất lượng.


3. Kỹ thuật trồng

a. Chuẩn bị đất và cách trồng

Chuẩn bị đất: Trước khi trồng từ 2-4 tuần, đào hố 70x70x70 cm. Nếu vùng đất tốt kích thước hố có thể nhỏ hơn. Lượng phân bón lót cho 1 hố: đất mặt + 20-30 kg  phân chuồng mục + 1-2 kg lân + 0,3-0,5 kg vôi bột. Trộn đều phân với đất, lấp bằng miệng hố.

Cách trồng: Đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, rạch bỏ túi bầu nilon và đặt bầu cây vào giữa hố, lấp đất vừa bằng cổ rễ, nén chặt xung quanh. Đối với vùng đất cao, cây được trồng bằng mặt, nghĩa là sau khi trồng xong mép phía trên của bầu đất bằng với mặt đất. Ở vùng đất thấp cây được trồng nổi nghĩa là từng cây được trồng trên các ụ đất cao từ  0,3 - 0,8 m so với mặt bằng khu đất để tạo môi trường cho bộ rễ phát triển.

Cắm cọc: Cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc dây để tránh lay gốc làm  chết cây. Sau khi trồng tủ xung quanh gốc bằng rơm, rác mục và tưới nước giữ ẩm cho cây liên tục trong một tháng đầu để tạo độ ẩm cần thiết cho rễ phát triển. Sau trồng 1 tháng cây ổn định, rạch nilon ở vết ghép để cây sinh trưởng, phát triển.

Trồng dặm: Sau khi trồng khoảng 1 tháng, nếu cây chết phải trồng dặm. Trồng tương tự như lúc trồng lần đầu.

Tưới nước: Nếu trồng xoài vào mùa mưa thì không cần tưới, ngoài ra phải tưới nước, tránh để cây khô.

b. Tủ gốc và giữ ẩm:

Để hạn chế cỏ dại và bốc hơi nước trong mùa khô, dùng rơm, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20 cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc cây.

c. Tỉa cành và tạo tán:

- Tạo tán: Sau khi trồng khoảng 8-12 tháng, cây có chiều cao 1-1,2 m tiến hành bấm ngọn, chừa lại độ cao của thân chính  0,8-1 m. Khi ra cơi đọt 1 chừa lại 2-3 chồi khỏe và phân bố đều tán cây, tiếp tục thực hiện kỹ thuật này cho cơi đọt 2, đợt cơi đọt 3 ngưng tỉa cành, để đảm bảo bộ khung cây xoài hoàn chỉnh và cân đối.

- Tỉa cành: Sau khi thu hoạch xong cần cắt bỏ đồng loạt những đọt đã mang trái và không mang trái (dài 10-20cm) ở vụ trước, cắt nước 2 ngày, sau đó tưới nước lại bình thường, giúp cây ra đọt non đều, dễ kích thích ra hoa đồng loạt.

Lưu ý: Cắt tỉa những cành mọc bên trong tán, cành quá gần mặt đất, cành sâu bệnh, cành không hiệu quả và cuống hoa, nhánh vụn của mùa trước.

4. Phân bón:

Tuổi cây

Ure (g/cây)

Super lân

(g/cây)

Sunfat Kali

(g/cây)

Phân hữu cơ

(kg)

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

hơn 10

150

300

450

600

750

900

1050

1200

1350

1500

2.000 - 4.000

300

600

900

1200

1500

1800

2100

2400

2700

3000

3.000 - 6.000

100

200

300

400

500

600

700

800

900

1000

1.300 - 2.600

30-60 kg/cây/năm













Công thức phân bón cho cây xoài có thể thay đổi, tăng giảm tuỳ theo điều kiện: tuổi cây, đất, sản lượng thu hoạch vụ trước... Có thể tham khảo lượng phân bón sau: 

Thời kỳ bón:

- Thời kỳ xây dựng cơ bản: Lượng phân của năm 1 nên được chia đều thành 5-6 lần, bón và cung cấp cho cây dưới dạng dung dịch tưới quanh gốc cây. Lượng phân của năm thứ 2 cũng nên được chia đều 5-6 lần bón.

- Thời kỳ kinh doanh: Từ khi cây bắt đầu cho trái việc cung cấp phân bón nên tương ứng với các giai đoạn phát triển của cây.

+ Lần 1: Bón ngay sau tỉa cành sau thu hoạch: 60% lượng đạm cả năm + 60% lượng lân + 40% lượng kali.

+ Lần 2: Khi chuẩn bị cho xoài ra hoa, bón 40% lượng lân còn lại + 30 % lượng kali.

+ Lần 3: 3 tuần sau khi đậu trái (trái có đường kính khoảng 1cm) bón 20 % lượng đạm +15 % lượng kali + 25% phân hữu cơ.

+ Lần 4: khoảng 8-10 tuần sau khi đậu trái, bón hết lượng phân còn lại.

- Tưới đẫm cho cây sau mỗi lần bón phân.

- Lượng vôi bón từ 5-8 tạ/ha/năm. Bón vôi vào đầu mùa mưa, rải vôi đều trên mặt đất sau đó cày đất bên ngoài tán cây sâu 20-25 cm cho vôi phân tán đều vào tầng mặt. Xới nhẹ sâu đến 5-7 cm bên trong tán cây.

- Phân hữu cơ: Sử dụng phân hoai mục, tốt nhất nên bổ sung thêm các nấm sinh học đối kháng Trichoderma để kiểm soát các loài nấm gây hại trong đất. Chia làm 2 lần bón:

+ Lần 1: Sau khi thu hoạch, bón 75% liều lượng.

+ Lần 2: 6 tuần sau đậu trái, bón lượng phân còn lại.

- Các nguyên tố vi lượng phải được cung cấp hàng năm cho cây dưới dạng phun qua lá 4 lần/năm.

+ Lần 1: Sau khi thu hoạch, khi đợt chồi mới phát sinh và thuần thục, lá đã chuyển sang đậm.

+ Lần 2: Khi cây đã ra hoa đều, phát hoa dài 10 cm.

+ Lần 3 và 4: 1 và 2 tháng sau khi đậu trái.

Cách bón: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, sâu 10-20 cm cho phân vào rãnh và lấp đất lại, tưới nước.

Lưu ý:

+ Những năm được mùa, xoài cho nhiều quả, cần phun bổ sung canxi nitrat và sunfat kali.

+ Nếu thấy cây ra nhiều lá và lá bóng láng cần giảm bớt lượng phân đạm.

+ Trước khi ra hoa nên phun các loại phân bón lá hoặc phân vi lượng để đảm bảo cho xoài có đủ các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết và kích thích cho cây ra nhiều hoa, đậu nhiều trái.

+ Xoài bị thiếu kali cho trái nhỏ, chát. Vì vậy cần bón đủ kali để trái to,  ngọt.
5. Tưới nước và quản lý cỏ dại:

-  Tưới nước:

+ Giai đoạn KTCB: Việc tưới nước có thể tiến hành quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần.

+ Giai đoạn kinh doanh: Số lần tưới ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc. Trong giai đoạn trước xử lý ra hoa 2 tháng, xoài cần trải qua giai đoạn khô hạn để phân hóa mầm hoa.

+ Trong điều kiện thời tiết khô, nắng nóng, cần thiết tưới phun vào tán cây thường xuyên để hạn chế sự phát sinh của nhóm côn trùng chích hút và nhện gây hại.

- Quản lý cỏ dại:

Làm cỏ bằng phương pháp cơ học (thủ công, dao, cuốc) xung quanh gốc cây; dùng máy cắt cỏ trên phần diện tích còn lại, hạn chế dùng thuốc BVTV diệt cỏ nhằm hạn chế sự rửa trôi dinh dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật trong đất phát triển. Nên kết hợp việc làm cỏ và bón phân cùng lúc. Có thể trồng xen cây họ đậu để cải tạo đất và tạo nguồn phân hữu cơ.

6. Xử lý ra hoa

a. Các yếu tố ảnh hưởng lên sự ra hoa xoài:

*  Yếu tố môi trường:

- Môi trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sự ra hoa và năng suất của cây.

+  Nhiệt độ: Nhiệt độ thấp kích thích tạo mầm hoa và làm cho cây trổ bông, những năm không lạnh cây sẽ ra hoa ít và thời gian ra hoa kéo dài.

Tạo sự khô hạn: Biện pháp "xiết nước" để gây "sốc" cho cây ra hoa (rất hiệu quả ở giai đoạn kích thích ra chồi đồng loạt). Nếu áp dụng được biện pháp này, cây xoài sẽ ra hoa sớm và đáp ứng tốt với việc xử lý ra hoa nghịch mùa.

* Tình trạng sinh trưởng và năng suất năm trước của cây:

- Tình trạng sinh trưởng của cây và năng suất năm trước có ảnh huởng rất lớn lên sự ra hoa xoài.

- Cây xoài bị kiệt sức do đậu trái quá nhiều hoặc cho năng suất cao trong năm trước sẽ làm giảm khả năng đâm chồi và phân hóa mầm hoa ở năm tiếp theo. Do đó, những năm cây đậu trái quá nhiều cần phải tỉa bớt trái và phải bón phân nhiều hơn để cây không bị suy kiệt ở năm tiếp theo.

- Đối với cây cho trái ít ở năm trước hoặc cây đang phát triển thân lá mạnh rất khó xử lý ra hoa, nên hạn chế bón lượng phân đạm, kết hợp với phương pháp tạo sự khô hạn và sử dụng Paclobutrazol giúp cho cây xoài ra hoa tốt hơn.

b. Quy trình xử lý ra hoa xoài:

- Có nhiều biện pháp để kích thích ra hoa xoài như: xông khói, khoanh cành, xử lý hóa chất như Ethephon, Nitrat kali hay Paclobutrazol, …

Quy trình xử lý ra hoa xoài sử dụng Paclobutrazol:

* Giai đoạn sau thu hoạch:

- Tỉa cành: Cắt bỏ những cành đã ra hoa hoặc không ra hoa mùa trước, cành bị sâu bệnh, ốm yếu, bị che khuất bên trong tán cây và cành bên ngoài tán, che rợp lẫn nhau. Bón phân lần 1.

- Bón phân lần 2: Theo khuyến cáo ở mục 4. Phân bón.

- Sau khi bón phân cần tưới nước 2-3 ngày/lần giúp cây hấp thụ phân tốt.

* Giai đoạn ra đọt non: Đây là đợt đọt quan trọng quyết định sự ra hoa, do đó cần chú ý phòng trừ các loại sâu bệnh để bảo vệ đọt non. Các loại sâu bệnh hại cần chú ý: Bệnh thán thư, bọ cắt lá, sâu đục cành,....  

* Xử lý ra hoa:

- Xử lý Paclobutrazol khi lá non phát triển hoàn toàn (được 10-15 ngày tuổi). Pha hoạt chất Paclobutrazol nguyên chất với liều lượng 1-2 gr/1m đường kính tán với 10-20 lít nước tưới đều xung quanh tán cây. Sau đó tưới nước (1 ngày/lần) trong vòng 10 ngày và ngưng tưới đến khi cây ra hoa. Mục đích của giai đoạn này là làm giảm sự sinh trưởng của cây, thúc đẩy sự hình thành mầm hoa.

- 25-30 ngày sau khi xử lý Paclobutrazol thì phun MKP 0-52-34 với liều lượng 50-100 gr/10 lít nước, cách 7 ngày phun 1 lần, phun 2 - 3 lần. Mục đích của giai đoạn này là làm giảm sự sinh trưởng của cây, thúc đẩy hình thành mầm hoa.

- 45-60 ngày sau khi xử lý Paclobutrazol thì phun KNO3 (100g/10 lít nước), 7 ngày sau phun lần 2, liều lượng: KNO3 (50g/10 lít nước) + MKP (50g/10 lít nước). Phun khi thời tiết khô ráo, chồi ngọn nhô cao, lá có màu xanh đậm, mép lá gợn sóng.

* Giai đoạn ra hoa:

- Phun thuốc phòng ngừa rầy bông xoài, bọ trĩ và bệnh thán thư khi phát hoa đạt chiều dài: 2-3 cm, đạt kích thước tối đa.

- Trong giai đoạn 7-10 ngày sau khi nhú mầm hoa, có thể bón thúc phát hoa giúp phát hoa phát triển tốt. Bón phân N-P-K với tỷ lệ 1:1:1, liều lượng 200-300g/cây.

- Giai đoạn hoa đạt kích thước tối đa, có thể phun ngừa bệnh thán thư và các sản phẩm tăng đậu trái có chứa Canxi Bo hay Botrac.

* Giai đoạn đậu trái "rớt nhụy":

- Hoa xoài thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng như ruồi, ong, ... chỉ phun các loại thuốc trừ sâu, rầy trước giai đoạn hoa nở 5-7 ngày và sau khi đậu trái, tránh phun trong giai đoạn hoa đang nở để không làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa.

- Chú ý: nếu gặp thời tiết xấu có thể phun ngừa bệnh thán thư.

* Giai đoạn phát triển trái:

 - Giai đoạn trứng cá (7-10 ngày sau khi đậu trái/NSKĐT): phun phân bón lá hoặc Canxi nitrat 0,5%, ... để giảm rụng trái non.

 Giai đoạn 30 NSKĐT: Để giảm rụng trái non, có thể sử dụng GA3 phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.

- Giai đoạn 45 NSKĐT: Phun GA3, Canxi nitrat hoặc Clorua canxi với liều lượng 10-20 g/8 lít nước. Phun 2-3 lần cách nhau 10 ngày/lần để hạn chế nứt trái và làm tăng phẩm chất trái.

- Giai đoạn 70-80 NSKĐT: Phun Nitrate kali nồng độ 1% để làm tăng phẩm chất trái. Giai đoạn này nếu thấy cây phát triển yếu, có thể bón thêm phân N-P-K có tỷ lệ 1:1:2 như 14:14:21 với liều lượng 0.5kg/cây.

Lưu ý:

+ Xoài ra hoa vào mùa khô (tháng 12-3), nên tưới nước đầy đủ từ 10-15 ngày/lần để giảm rụng trái và tăng kích thước trái. Thời gian tưới kéo dài ít nhất là 7 tuần từ khi hoa trổ.

+ Trong giai đoạn này, xoài rất dễ bị các sinh vật, bệnh tấn công như: Rầy bông xoài, sâu đo ăn bông, bọ trĩ, sâu đục trái (hột), bệnh thán thư, ...   

7. Tỉa trái, bao trái

Tỉa trái: Khi xoài đậu trái non, tiến hành tỉa trái, chừa lại những trái phát triển đều đặn để tiến hành bao trái, chỉ để 3-4 trái/cuống.

Bao trái: Biện pháp bao trái rất có hiệu quả không chỉ ngăn ngừa sự gây hại của sâu đục trái, ruồi đục trái, bệnh da ếch, bệnh thán thư trên trái làm cho trái có màu sắc đẹp. Tiến hành bao trái vào giai đoạn 30-45 ngày sau khi đậu trái. Khi bao trái xếp miệng bao gọn gàng, kín và tạo thành hình mái nhà để không cho nước vào tiếp xúc với trái xoài. Khi thu hoạch xong đợt 1 phải phơi khô, xếp gọn, thẳng và xử lý thuốc trừ nấm bệnh trước khi bao đợt 2.

* Mục đích bao trái:

+ Tạo ra sản phẩm sạch có chất lượng, ngăn chặn sự tấn công của côn trùng, bệnh hại như: sâu đục trái, ruồi đục quả, rệp sáp, bệnh thán thư, bệnh đốm da ếch, bệnh nứt trái xì mủ,

+ Hạn chế được số lần phun thuốc hóa học từ 5-7 lần/vụ, giúp vỏ trái bóng đẹp, bán được giá cao, góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, giúp giảm ô nhiễm môi trường và không tồn dư thuốc BVTV trên trái.

* Lưu ý: Trước khi bao trái nên tiến hành phun thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh.

* Một số nguyên nhân dẫn đến xử lý ra hoa không thành công:

+ Sử dụng GA3 trước khi cây ra hoa.

+ Sử dụng Paclobutrazol cho cây không đúng thời điểm (quá sớm), cây chưa phục hồi kịp, dẫn đến tỷ lệ ra hoa thấp và quả nhỏ.

+ Xử lý ra hoa tùy thuộc vào tuổi của cây và tình trạnh sinh trưởng của cây (cây còn nhỏ (3-4 năm) hoặc cây quá suy trong quá trình cho trái năm trước, làm hiệu quả không cao).

+Tưới Paclobutrazol không đúng cách: Nếu trồng xoài trên đất có hàm lượng xét cao, cần phải làm cho đất tơi xốp trước khi tưới Paclobutrazol, tránh làm thất thoát khi bị chảy tràn ra phía ngoài tán cây. Nếu đất cát nhiều thì nên chia nhỏ số lần tưới thuốc, cho thuốc ngấm từ từ, tránh tình trạng dung dịch thuốc thấm quá sâu vào đất.

+ Bón phân quá nhiều đạm trong quá trình xử lý ra hoa làm cho cây ra lá hoặc hình thành bông lá.

+ Xử lý ra hoa trong điều kiện thời tiết mưa nhiều cũng gây hiện tượng cây ra lá nhiều gây hạn chế ra hoa.

+ Cắt tỉa cành nhiều, làm cho cây ra hoa nhiều trong vụ hiện tại nhưng lại làm mất sức cây, hoa ít vào vụ sau.

+ Xác định đúng thời điểm phun thuốc BVTV (thuốc sâu, bệnh) để đạt hiệu quả cao.

+ Ở giai đoạn gần thu hoạch, hạn chế phun thuốc BVTV, nếu mật số sâu bệnh hại quá cao thì hạn chế sử dụng thuốc BVTV có đặc tính lưu dẫn và phải tuyệt đối tuân thủ thời gian cách ly theo hướng dẫn trên bao bì để bảo đảm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.

+ Thường xuyên luân phiên các nhóm thuốc với nhau, tránh hiện tượng kháng thuốc.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1.1 Sâu đục trái (Deanolis Albizonalis)

- Khi trái bị đục, ở chóp trái có chất lỏng tiết ra từ vết đục, sau đó sẽ có chấm đen nhỏ và dần dần chấm đen này lan rộng ra. Thoạt nhìn, có thể lầm tưởng là triệu chứng của bệnh. Ấu trùng tuổi nhỏ thích ăn phần thịt trái nhưng khi lớn, sâu tấn công chủ yếu phần hột. Ngoài ra, từ vết đục của sâu còn tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn phát triển làm trái xoài bị thối nhanh, vết thối bắt đầu từ phần chóp trái đi lên (phân biệt với bệnh thối trái thì vết thối từ trên cuống trái lan xuống). Khi sâu vào bên trong ăn hết phần hột, chúng sẽ di chuyển sang những trái khác. Trái xoài bị sâu đục trái phá hại thì phần chóp trái có thể bị biến dạng, cong lại. Nếu sâu phá hại lúc trái nhỏ thì làm trái rụng, nhưng ở giai đoạn trái lớn mặc dù bị thối nửa trái, trái vẫn còn dính trên cây. Thường trong mỗi trái có từ 1-2 con sâu nhưng ở những vùng mật số sâu cao có thể tìm thấy 4-5 con/trái. Thành trùng hoạt động về đêm và đẻ trứng trên những trái khuất ánh sáng, ban ngày ẩn trốn dưới các lá cây nên rất khó phát hiện.

- Sâu đục trái là một trong những đối tượng kiểm dịch của các nước. Chúng có thể làm thiệt hại năng suất lên đến 100% nếu không quản lý kịp thời.

 

Phòng trị:

- Đặc tính sâu đục trái gây hại phần trong của trái nên rất khó phòng trừ, biện pháp phòng tốt sẽ làm giảm được tác hại của chúng:

+ Nên tỉa cành, tạo tán để tạo thông thoáng cho vườn xoài.

+ Thu lượm những trái bị sâu (còn trên cây hay rụng xuống đất) đem tiêu hủy vì sâu có thể còn nằm trong trái.

+ Bao trái. Thời gian bao trái tốt nhất là 35-40 ngày sau đậu trái. Đây cũng là biện pháp tốt để hạn chế một số đối tượng khác như: bệnh da ếch, đốm vòng, thán thư và ruồi đục trái.

1.2 Ruồi đục trái (Bactrocera spp.)

Đây là loài đa thực, gây hại trên rất nhiều loài cây ăn trái. Ruồi thích đẻ trứng trên trái chín, nhưng cũng đẻ cả trên trái còn xanh. Vỏ trái nơi ruồi đục có màu đen, mềm, ứa nhựa hấp dẫn côn trùng, nấm bệnh gây hại làm trái bị biến màu, thối. Trái bị ruồi đục có thể rụng trước khi chín hoặc tiếp tục neo trên cây. Nếu trái còn trên cây, giá trị thương phẩm giảm mạnh do thịt trái bị thối.


Phòng trị:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên để loại bỏ cây dại trong vườn, thu lượm và đem tiêu hủy toàn bộ trái rụng trên mặt đất và trái còn đeo trên cây vì là nơi ruồi lưu tồn trong vườn. Tiêu hủy bằng cách đốt hoặc đem chôn sâu ít nhất 15 cm trong đất kết hợp rải vôi bột.

+ Bao trái, không trồng xen các loại cây ăn trái khác như: ổi, đu đủ, cam quýt, nhãn trong vườn xoài.

+ Dùng một số thuốc dẫn dụ có hoạt chất: Methyl eugenol + Dibrom, Methyl eugenol + Naled, Protein thủy phân,…để treo xung quanh vườn. Nên vận động, khuyến khích các nhà vườn làm đồng loạt để đạt hiệu quả phòng trừ cao..

1.3 Rầy bông xoài (Idiocerus niveoparsus)

Rầy bông xoài hiện diện suốt năm trên cây trong những vết nứt của cây và mật số gia tăng khi cây ra lá non đến giai đoạn trổ bông sau đó mật số sẽ giảm dần khi ra trái non. Rầy đẻ trứng, chích hút làm bông khô và rụng bông. Ngoài ra từ vết chích hút dịch nhựa sẽ tươm ra, kết hợp với chất thải của rầy trên lá, bông, cành tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển, che phủ bề mặt lá làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, làm giảm giá trị thương phẩm của trái sau này. Tùy theo mật số hiện diện, rầy có thể làm giảm năng suất từ 20-100%.

Phòng trị:

+ Tỉa cành, bón phân cân đối, vệ sinh vườn, tạo điều kiện thông thoáng để hạn chế sự phát triển của rầy.

+ Trước giai đoạn ra bông từ 1-2 tuần, sử dụng bẫy vàng để thu hút và bắt thành trùng.

+ Xử dụng một số loài thiên địch nhằm hạn chế sự phát triển của rầy như: bọ xít ăn thịt (Revudiidae), ong ký sinh (Gonatocerus), nhện, bọ rùa, kiến vàng và nấm Verticellium lecanii, Hirsutella versicolorBeauveria bassiana..

+ Ở những vùng thường xuyên bị nhiễm nặng, nên phun ngừa giai đoạn trước khi ra hoa. Chỉ phun rầy ở giai đoạn ra hoa khi mật số rầy ≥1 con/bông, vì giai đoạn này cần tránh phun thuốc trừ sâu rầy, bảo vệ côn trùng có ích để thụ phấn cho bông.

Phun một số thuốc BVTV có hoạt chất sau: Buprofezin, Spinosad, Emamectin benzoate, Pymetrozine, … lưu ý phun vào chiều mát để đạt hiệu quả cao. Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.


1.4 Rệp sáp (Pseudoccoccus sp.)

Rệp thường gây hại trên cành, thân, lá và trái. Gây hại bằng cách chích hút nhựa của các phần non của cây xoài như đọt non, lá non, cuống bông, cuống trái non, trái non và trên cả những trái đã già lớn. Làm cho cây bị suy yếu, đọt non bị thui chột, bông có thể bị rụng hoặc không phát triển được. Rệp bám trên trái để lại những dấu chấm trắng, chích hút nhựa trái, làm trái nhỏ, biến dạng và giảm giá trị thương phẩm của trái.

+ Rệp sáp dính: nhỏ như hạt phấn, màu trắng, gần như bất động, hình bầu dục và được bao phủ bởi một lớp vảy màu đỏ. Rệp cái không có cánh, con đực có cánh.

Rệp sáp trắng: Trưởng thành không cánh, dài 3 – 3,5 mm, rìa mỗi bên cơ thể có các sợi tua sáp trắng, phần dươi cũng có một đôi tua trắng. Cơ thể phủ đầy chất sáp như phấn

Ngoài gây hại trực tiếp, trong chất bài tiết của rệp còn chứa nhiều chất dinh dưỡng giúp nấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến quang hợp của cây. Nếu mật số cao, cả hai đối tượng này sẽ tác động lên cây xoài làm cho cây xoài bị còi cọc chậm lớn ảnh hưởng nhiều đến năng suất và phẩm chất của trái.  

Phòng trị:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên, dọn sạch cỏ và lá cây mục.

+ Bảo tồn các loài thiên địch như: Ong ký sinh, bọ rùa, nhện, kiến vàng, bọ cánh cứng ... để hạn chế rệp sáp.

+ Nếu có điều kiện dùng vòi máy bơm nước có áp suất mạnh tia xịt nước trực tiếp vào chỗ có nhiều rệp bám sẽ làm cho rệp bị rữa trôi bớt.

+ Sử dụng các các hoạt chất như: Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ... Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.


1.5. Sâu đục thân: (Plocaederus ruficoruis)

Có 3 giai đoạn: Trứng, ấu trùng và thành trùng (xén tóc). Giai đoạn gây hại là ấu trùng, rất khó phát hiện triệu chứng gây hại do ấu trùng không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện qua các lỗ đục trên thân, cành héo khô và có thể chết. Trong quá trình gây hại, ấu trùng đục những đường hầm bên trong thân và cành cây.

  * Phòng trị:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên (cắt bỏ và tiêu hủy những cành vượt, bệnh, đã mang trái năm trước), dọn sạch cỏ và lá cây mục.

+ Không gây ra vết thương – tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng.

+ Thành trùng chỉ xuất hiện vào lúc đêm tối và khi chúng đẻ trứng. Chúng thường bị thu hút bởi ánh sáng nên có thể dùng bẫy đèn để thu hút (vào đầu mùa mưa). Sau cơn mưa đầu tiên và giai đoạn gần cuối mùa mưa, phun ngừa xén tóc vào vườn đẻ trứng. Một số hoạt chất có thể sử dụng như: Chlorantraniliprole, Diafenthiuron,… Phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.

+ Pha hỗn hợp vôi, lưu huỳnh, nước (tỷ lệ 10:1:40) quét thân cây, giai đoạn từ chảng 3 trở xuống diệt trứng và tránh không cho thành trùng đẻ trứng vào giai đoạn đầu và cuối mùa mưa.

+ Nếu mật số cây bị sâu đục thân, cành cao thì dùng bông gòn thấm thuốc trừ sâu (nên chọn loại thuốc lưu dẫn hoặc xông hơi), nhét sâu vào các lổ đục, trám miệng lỗ đục lại. Ngoài ra, cũng có thể rải thuốc trừ sâu dạng hạt vào các lỗ đục và trám đất sét.

+ Trong quá trình tìm và diệt sâu đục thân, có thể tạo nhiều vết thương trên thân cây, có thể quét các loại thuốc gốc đồng phòng bệnh tấn công.


1.6. Nhện đỏ (Oligonichus sp.)

Nhện đỏ thường sống tập trung trên trái và mặt dưới của lá già. Chúng chích hút dịch lá và trái, làm cho lá mất màu xanh (nếu mật số cao có thể làm vàng lá và rụng) và làm vỏ trái sần sùi gây hiện tượng da cám. Nhện đỏ phát triển mạnh khi thời tiết nắng nóng, quan sát kỹ mặt dưới lá sẽ thấy chúng di chuyển. Mật số nhện sẽ giảm đi đáng kể khi chuyển sang mùa mưa.

   * Phòng trị:

- Tưới phun có thể hạn chế nhện đỏ trong mùa nắng.

- Bảo tồn thiên địch để hạn chế được sự bộc phát của nhện như: bọ rùa.

- Khi mật số nhện cao, có thể sử dụng một số hoạt chất để phòng trị như: Abamectin, Abamectin + Matrine, …Nếu bị nhện phá hại nặng phải phun liện tục 2-3 lần với các loại thuốc khác nhau, tránh hiện tượng nhờn thuốc, dùng mỗi lần cách nhau 5-7 ngày. Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


1.7. Bọ trĩ (Bù lạch) (Scirtothrips dorsalis)

Cả con trưởng thành và ấu trùng thường tập trung ở bộ phận non của cây như đọt non, lá non, hoa và trái để chích hút nhựa.

+ Gây hại trên chồi, lá non: trên chồi sẽ không cho lá và trái; trên lá làm lá thâm đen và cong queo, mép lá cụp xuống.

+ Gây hại trên bông: Làm bông cháy khô, mật số cao gây rụng bông.

+ Gây hại trên trái: Trên trái non tạo thành vùng da cám xung quanh cuống trái và tạo vết thương giúp vi khuẩn xâm nhập gây bệnh xì mủ trái. Nếu mật số cao làm trái bị biến dạng và rụng. Trên trái lớn làm trái biến dạng và trái bị đen.

 Bù lạch phát triển mạnh khi thời tiết nắng nóng và sinh sản rất nhanh nên rất mau kháng thuốc. 

* Phòng trị:

- Dùng vòi nước áp lực cao phun lên chồi, lá non và trái để hạn chế mật số.

- Phun diệt bọ trĩ bằng dầu khoáng hoặc một số hoạt chất có thể sử dụng nhưSpinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, … Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


B. BỆNH HẠI

1 Bệnh thán thư (Do nấm Colletotrichum gloeosporioides)

Chủ yếu gây hại chính trên các phần non của cây như chồi, lá, cành non vào giai đoạn ra lá non, bông và tạo trái. Phát triển khi ẩm độ cao, lây lan nhanh nhờ nước nên nấm phát triển rất nhanh khi trời nóng ẩm nhất là sau khi mưa hoặc trời lạnh, sáng có nhiều sương. Các bộ phận của cây bị bệnh rơi xuống đất là nguồn lây nhiễm khi gặp điều kiện thích hợp.

Phòng trị:

+ Tạo thông thoáng cho vườn (mật độ cây trồng hợp lý, tỉa cành tạo tán), cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái bị bệnh.

+ Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh.

+ Một số hoạt chất có thể sử dụng như:  Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, … Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


2. Bệnh xì mủ trái (Do vi khuẩn Xanthomonas campestris)

Trên chồi non và trái xoài bị bệnh có những vết nứt dọc hoặc các chấm nhỏ có màu nâu đen, từ các vết bệnh mủ sẽ chảy ra, vi khuẩn theo đó tràn ra ngoài. Bệnh phát triển nhanh và gây hại nặng vào những tháng mưa nhiều, nhất là từ tháng 9 đến tháng 11. Vi khuẩn xâm nhập vào trái xoài thông qua các vết nứt do côn trùng cắn, quá trình chăm sóc tạo ra.

Phòng trị:

+ Bao trái, không phun nước lên lá xoài khi cây bị bệnh, tránh lây lan cả vườn.

+ Phun trừ bằng các thuốc có hoạt chất: Fluopicolide + Fosetyl alumilium, Amisulbrom,… Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


3. Bệnh phấn trắng (Do nấm Oidium mangiferae)

Xâm nhiễm và gây hại lá, hoa, quả, đặc biệt là hoa và chùm hoa. Nấm bệnh phát triển tạo thành lớp phấn trắng trên lá non, phát hoa và trái non. Bệnh thường phát triển từ ngọn của phát hoa, lan dần đến cuống hoa, trái non, lá non và cành. Thường hoa bị nhiễm bệnh trước khi thụ phấn và trái bị nhiễm bệnh sẽ bị biến dạng, méo mó, nhạt màu, bị khô và rụng sớm. Bệnh gây thiệt hại nặng nhất trong giai đoạn trổ hoa đến đậu trái, trong điều kiện nóng ẩm và có sương đêm, bệnh sẽ bộc phát và lây lan nhanh.

Phòng trị:

+ Cắt tỉa cành, tạo tán cho cây phát triển mạnh, cung cấp phân bón đầy đủ, chú ý giai đoạn cây ra bông và đậu trái non.

+ Vệ sinh vườn cây và thu dọn các bộ phận bị bệnh đem tiêu hùy để diệt nguồn bệnh.

+ Có thể bao trái khi xoài hết giai đoạn rụng sinh lý (từ 35 - 40 ngày tuổi) để phòng ngừa nấm bệnh và tránh ruồi đục quả.

+ Dùng thuốc có các hoạt chất: Lưu huỳnh, Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày. Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.

 

4. Bệnh da ếch: Do nấm Chaetothyrium sp. gây ra.

Bệnh gây hại nặng trong điều kiện ẩm độ cao, ký sinh chủ yếu trên vỏ trái xoài. Bệnh nhiễm rất sớm khi trái còn non, thường bắt đầu từ cuống trái và lan dần xuống bên dưới. Vết bệnh đầu tiên là những chấm nhỏ màu đen, tròn, sau đó lan dần ra và tạo thành các đốm màu đen rải rác trên vỏ trái xoài. Bệnh thường không làm hư trái mà làm giảm giá trị thương phẩm, bệnh nặng sẽ làm hư vỏ trái.

* Phòng trị:

- Tạo thông thoáng cho vườn (mật độ cây trồng hợp lý, tỉa cành tạo tán).

- Bao trái cũng hạn chế được bệnh này.


5. Bệnh thối trái, khô đọt: Do nấm Diplodia natalensis gây ra.

Bệnh gây hại trong điều kiện nóng ẩm, nhất là trong mùa mưa, ở phần đọt có những đốm nhỏ sậm màu, lan dần ra các cành non, cuống lá biến thành màu nâu, phiến lá cong lên. Cành khô và đôi khi có hiện tượng chảy nhựa.

Trên trái, bệnh tấn công vào giai đoạn thu hoạch và tồn trữ, làm thịt trái bị chai sượng, bên trong thịt trái ta thấy những sọc đen chạy dọc theo trái.


* Phòng trị:

- Khi thu hoạch nên chừa cuống trái khoảng 5cm, không làm xay xát trái trong khi thu hoạch cũng như lúc vận chuyển.

- Không thu hoạch trái lúc sáng sớm hoặc sau mưa.

  - Có thể sử dụng hoạt chất: Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole +Propiconazole, … Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất. 

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và hoạt chất thuốc BVTV sử dụng phòng trừ:

Giai đoạn sinh trưởng

Đối tượng

Phòng trừ

Ra đọt non

Bọ trĩ

Spinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, …

Rệp sáp

Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ...

Nhện đỏ

Abamectin, Abamectin + Matrine, …

Sâu đục thân, cành

Chlorantraniliprole, quét vôi + lưu huỳnh + nước

Bệnh thán thư

Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, …

Bệnh phấn trắng

Lưu huỳnh,  Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

Bệnh khô đọt

Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole + Propiconazole, …

Giai đoạn ra hoa

Bọ trĩ

Spinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, …

Rệp sáp

Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ...

Rầy bông xoài

Buprofezin, Spinosad, Emamectin benzoate, Pymetrozine, …

Bệnh thán thư

Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, Propineb, …

Bệnh phấn trắng

Lưu huỳnh,  Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

Giai đoạn cho trái

Bọ trĩ

Spinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, …

Rệp sáp

Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ...

Ruồi đục quả

Dùng bẫy dẫn dụ có hoạt chất Methyl eugenol + Dibrom, Methyl eugenol + Naled, Protein thủy phân,…để treo xung quanh vườn

Sâu đục quả

Bao trái

Sâu đục thân

Chlorantraniliprole, quét vôi + lưu huỳnh + nước

Bệnh thán thư

Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, …

Bệnh phấn trắng

Lưu huỳnh, Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

Bệnh thối trái, khô đọt

Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole +Propiconazole, …

Xì mủ trái

Fluopicolide + Fosetyl alumilium, Amisulbrom,…


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

 

VI. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN:

1. Thu hoạch:

-  Phải đúng độ chín (trái sẽ chìm khi thả vào nước), khoảng 80-85 ngày sau đậu trái

- Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Lúc thu hoạch trái nên để cuống dài từ 5-10 cm để tránh không bị chảy nhựa làm tăng giá trị thương phẩm. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa thì đóng vào sọt hoặc thùng không quá 5 lớp (đóng sọt phải có lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả).

- Sau khi thu hoạch vệ sinh xung quanh tán cây, cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh và tiếp tục chăm sóc.


2. Bảo quản:

- Ở nhiệt độ bình thường, chỉ có thể giữ trái được khoảng 5-7 ngày. Để kéo dài thời gian bảo quản nên giữ trái trong điều kiện nhiệt độ là 120C và ẩm độ khoảng 90%. Trong quá trình bảo quản nên thông gió thường xuyên và chú ý tạo đối lưu đồng đều trong kho.  Ngoài ra, nếu bảo quản ở nhiệt độ 10-130C trong bao PE chuyên dùng thì thời gian tồn trữ có thể lên đến 22 ngày.

- Trái không để tiếp xúc trực tiếp với đất, tránh chất thành đống và phải còn nguyên cuống (dài khoảng 5cm), quay ngược đầu lại để cho khô nhựa trước khi bao giấy đưa vào thùng./.

                                                                                                                                                              Chi cục Trồng trọt và BVTV

Lượt người xem:  Views:   295
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật