Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 29/04/2019, 19:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc thanh long
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
29/04/2019 | Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
Thanh long trồng được trên nhiều loại đất từ khô cằn, đất cát, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất phù sa, đất đỏ bazan, đất thịt và thịt pha sét. Tuy nhiên, để trồng thanh long đạt hiệu quả cao đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH từ 5,5 – 6,5; hàm lượng chất hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn. Thanh long có khả năng chống chịu cao với điều kiện môi trường không thuận lợi như hạn nhưng khả năng chịu úng của cây không cao. Tuy nhiên, để cây phát triển tốt, cho nhiều quả và quả to cần cung cấp đầy đủ nước, nhất là thời kì phân hóa mầm hoa, ra hoa, kết quả. Nhu cầu lượng mưa cho cây từ 800 – 2000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng và thối quả.

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY THANH LONG

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH                                            

  1. Đất trồng

Thanh long trồng được trên nhiều loại đất từ khô cằn, đất cát, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất phù sa, đất đỏ bazan, đất thịt và thịt pha sét. Tuy nhiên, để trồng thanh long đạt hiệu quả cao đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH từ 5,5 – 6,5; hàm lượng chất hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn.

2. Nước      

Thanh long có khả năng chống chịu cao với điều kiện môi trường không thuận lợi như hạn nhưng khả năng chịu úng của cây không cao. Tuy nhiên, để cây phát triển tốt, cho nhiều quả và quả to cần cung cấp đầy đủ nước, nhất là thời kì phân hóa mầm hoa, ra hoa, kết quả. Nhu cầu lượng mưa cho cây từ 800 – 2000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng và thối quả.

3. Ánh sáng

Cây thanh long chịu ảnh hưởng của quang kì, ra hoa trong điều kiện ngày dài, cây sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi có ánh sáng đầy đủ, thiếu ánh sáng thân cây ốm yếu lâu cho quả. Tuy nhiên, cường độ ánh sáng quá cao và nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của cây thanh long.

4. Nhiệt độ

Cây thanh long có nguồn gốc vùng sa mạc thuộc Mehico và Columbia, là cây nhiệt đới khô. Nhiệt độ thích hợp cho cây thanh long sinh trưởng và phát triển là 20 – 340C. Trong điều kiện sương giá và gió nhẹ sẽ gây hại cho cây thanh long.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Vị trí, vùng sản xuất thanh long phải phù hợp với quy hoạch của Tỉnh. Cần phân tích đất, nước trước khi trồng. Vườn trồng cách khu công nghiệp, nghĩa trang, bệnh viện khoảng 500 m và đất không bị nhiễm kim loại nặng. Toàn bộ hồ sơ về vị trí lô đất và kết quả phân tích đất được lưu giữ tại HTX, nhóm sản xuất hoặc tại hộ gia đình để có thể truy nguyên nguồn gốc theo yêu cầu. Nếu vùng sản xuất có các nguy cơ ô nhiễm trên mà có thể khắc phục thì phải có cơ sở khoa học chứng minh sự khắc phục nguy cơ ô nhiễm và lưu trong hồ sơ.

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả. Khuyến cáo người sản xuất cần phải phân tích phẫu diện đất để xác định tính chất đất (hàm lượng các chất dinh dưỡng, độ chua đất, nước,…) để có kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả.

Việc xác định pH đất và nước rất cần thiết do nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển. Nếu pH đất thấp thì rễ cây sẽ gặp khó khăn trong việc hấp thu chất dinh dưỡng (điều kiện tốt nhất để cây thanh long hấp thu chất dinh dưỡng là pH từ 5,5 – 6,5). Đất có pH thấp dẫn đến rễ cây không phát triển để hút phân nuôi cây. Thậm chí khi đất chua là điều kiện để cho nấm khuẩn phát sinh gây hại rễ. Khi bộ rễ không phát triển sẽ kéo theo những ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ thân, hoa, quả và quá trình phát triển của cây.

- Đất một số khu vực tại Tây Ninh tương đối chua, phần lớn có độ pH từ 5 – 5,5, sẽ gây khó khăn cho việc trồng thanh long. Do đó, trước khi trồng nên có đánh giá độ pH đất để có kế hoạch bón phân hợp lý hoặc cải tạo đất trước khi trồng. Một số biện pháp được áp dụng để gia tăng pH hiệu quả như việc cuốc xới phơi ải đất sau thu hoạch, bón vôi, lân, bón phân hữu cơ hằng năm:

+ Bón phân hữu cơ đã hoai mục: bón phân hữu cơ hoai mục rất quan trọng do phân hữu cơ cũng có tác dụng cải tạo đất tơi xốp, …

+ Bón vôi: Vôi bón vào đất chua có những lợi ích chủ yếu là giúp chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan hơn; Cải thiện cấu trúc đất; Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như Ca, Mg; Thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hữu ích. Trung hòa độ chua do phân bón gây ra; Giảm độc chất ảnh hưởng đến cây trồng (các kim loại nặng hòa tan mạnh khi pH thấp).

- Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh thường có pH thấp. Do đó, nếu sử dụng nước ngầm làm nguồn nước tưới, cần tiến hành đo pH nước để có hướng xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây. Trong trường hợp nước tưới có độ pH < 5, không nên sử dụng bơm tưới trực tiếp vào cây trồng, cần thiết kế hệ thống bể chứa xử lý bằng vôi (có thể dùng CaCO3, Ca(OH)2, CaO, …) để cải thiện độ pH thích hợp, sau đó tiến hành bơm tưới cho cây trồng.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

 Hiện nay, trong nước hai giống thanh long ruột trắng và ruột đỏ được trồng rộng rãi, riêng giống thanh long ruột tím hồng mới đây được Viện cây ăn quả miền Nam lai tạo và bước đầu được giới thiệu ra sản xuất. 

1. Giống thanh long ruột trắng

Thanh long ruột trắng thường được trồng phổ biến ở các tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ nhưng thương hiệu nổi tiếng nhất là ở Bình Thuận. Loại thanh long này sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có cường độ ánh sáng cao và toàn phần. Được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu, đất phèn…

- Giống thanh long Ruột trắng Bình Thuận: Giống được trồng phổ biến tại tỉnh Bình Thuận. Sinh trưởng mạnh, cành to khoẻ, hoa có khả năng thụ phấn tự nhiên. Quả to và đẹp, tai quả xanh cứng, thịt quả màu trắng đục và chắc, hạt nhỏ, năng suất cao. Tuy nhiên, giống này có khả năng ra hoa tự nhiên trung bình, tập trung và bị ảnh hưởng mạnh bởi quang kỳ (thường chỉ ra hoa từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) nên chi phí xử lý ra hoa nghịch vụ cao và năng suất quả có thể thất thường.

- Giống thanh long Ruột trắng Chợ Gạo: Giống được trồng phổ biến tại tỉnh Tiền Giang và Long An. Sinh trưởng mạnh, cành khá to, quả khá to và đẹp, tai quả xanh cứng, thịt quả màu trắng đục và chắc, hạt nhỏ. Năng suất cao và hoa có khả năng thụ phấn tự nhiên. Tuy nhiên, giống này có khả năng ra hoa tự nhiên trung bình, tập trung và bị ảnh hưởng mạnh bởi quang kỳ.

2. Giống thanh long ruột đỏ Đài Loan

Giống thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Đài Loan, sai quả, ruột đỏ tím, ăn ngọt (độ đường 16 - 18%), hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu vitamin và chất khoáng…

Quả thanh long ruột đỏ Đài Loan thích nghi với nơi có nhiều ánh sáng, dưới ánh sáng cao, độ đường tăng, nhiệt độ thích hợp từ 15 - 35oC, nếu dưới nhiệt độ đó cây sẽ phát triển chậm hoặc không sinh trưởng được. Do đó khi trồng cây tận dụng hướng nam và đông nam, nơi có đất đai bằng phẳng và ánh sáng nhiều.

3. Giống thanh long ruột đỏ LĐ1

Giống thanh long ruột đỏ LĐ1 là giống lai hữu tính, có nguồn gốc từ lai giữa giống thanh long ruột trắng Bình Thuận (làm mẹ) và giống thanh long ruột đỏ Colombia (làm bố). Cành trưởng thành to, khỏe, có hình dạng và màu sắc khá giống với cành của thanh long ruột trắng. Tuy nhiên, đọt non của giống này có màu đỏ lợt khác với giống thanh long ruột trắng (màu xanh nhạt). Vỏ quả màu đỏ tươi, sáng và bóng đẹp; tai quả màu xanh đến xanh đỏ và cứng ở mức trung bình-khá. Thịt quả màu đỏ tím, vị ngọt chua nhẹ. Cây cho quả sau 1 năm trồng, năng suất đạt 6-8 kg/trụ/năm; cây 2 năm tuổi, năng suất đạt 22-25 kg/trụ/năm (22-25 tấn/ha/năm) và cây từ 3 năm tuổi trở đi đạt trung bình 40 kg/trụ/năm (40 tấn/ha/năm).

4. Giống thanh long ruột tím hồng LĐ5

Thanh long Ruột tím hồng LĐ5 là giống lai, được tạo ra từ lai giữa giống thanh long Ruột đỏ Long Định 1 (làm mẹ) và giống thanh long Ruột trắng Chợ Gạo (làm bố) theo phương pháp lai truyền thống.

Một số đặc điểm chính: Cây sinh trưởng khá mạnh, cành khá to, khoẻ, khả năng đâm cành trung bình. Cây cho hoa đầu tiên 8 - 9 tháng sau khi trồng, cây có khả năng ra hoa mạnh và gần như quanh năm, ít chịu ảnh hưởng bởi quang chu kỳ. Từ tháng 9 đến tháng 3 dương lịch (ngày ngắn), cây ra hoa ít (2 - 5 hoa/trụ) và từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch cây ra hoa khá nhiều, mỗi tháng/đợt hoa (mỗi đợt 10 - 15 hoa/trụ). Hoa nở và tung phấn vào ban đêm từ 20 giờ đến gần 6 giờ sáng. Hoa thụ phấn tự nhiên để tạo quả. Thời gian từ nở hoa đến thu hoạch quả (chuyển màu đỏ hoàn toàn) từ 28 - 30 ngày như giống thanh long Ruột trắng.

Quả: Trọng lượng trung bình 313,3 - 379,3 g/quả, vào mùa nghịch (tháng 11 - 1 dương lịch) trọng lượng quả có thể đạt đến 500 g/quả. Dạng quả hình trứng đến trứng thuôn, vỏ quả khi chín có màu đỏ khá đậm và bóng, vỏ dầy trung bình 2,08 - 2,50 mm và chưa thấy nứt quả khi quá chín; tai quả xanh, khá cứng; thịt quả chắc (0,71 - 1,15 kg/cm2) và tỷ lệ ăn được cao (70,12 - 80,59%). Thịt quả màu tím hồng (không đậm màu) và khá ổn định trong 24 giờ, nước quả trung bình và có màu tím hồng trung bình - khá, cỡ hạt to trung bình - khá và vị ngọt chua thanh (TSS: 15,87 - 18,110 brix; pH: 5,03, hàm lượng vitamin C: 17,61 - 18,67 mg/100 ml dịch quả; acid tổng số: 15,87 - 18,11 g/100 ml dịch quả).

Năng suất: Khá cao, trong vụ chính (tháng 4 - 9 dương lịch) đạt trung bình 10,34 kg/trụ/vụ (cây 16 tháng tuổi) tại ba tỉnh Tiền Giang, Long An và Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong vụ nghịch (tháng 10 - 01 dương lịch) đạt trung bình 2,73 kg/trụ/vụ (cây 18 tháng tuổi) tại hai tỉnh Tiền Giang và Long An.

5. Giống thanh long ruột đỏ tím mỹ

Thường được gọi là thanh long Ruột tím. Giống được du nhập từ Mỹ và trồng tại Viện Cây ăn quả miền Nam vào năm 2004.

Cây sinh trưởng mạnh ở mức trung bình, cành dạng ba cạnh, mỏng và ít gai trên thùy. Quả hình cầu không đẹp, tai quả đỏ xanh và cứng trung bình, vỏ đỏ tươi, trọng lượng 120 g/quả. Thịt quả màu tím, mềm và chiếm tỷ lệ 66%, vị ngọt chua (độ brix 17,2%, pH: 4,7), hạt to và nhiều.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

a)  Thời vụ trồng

Thanh long có thể trồng được quanh năm nếu chủ động được nguồn nước. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà chọn thời vụ thích hợp.

          Tháng 10 – 11 (dương lịch): Thời gian này có thuận lợi là nguồn hom giống dồi dào vì đây là giai đoạn tỉa cành sau thu hoạch, các vùng đất thấp thì mùa này tránh được nguy cơ ngập úng. Tuy nhiên, phải đảm bảo nguồn nước tưới cho cây vào mùa nắng.

          Tháng 5 – 6 (dương lịch): Đối với vùng thiếu nước nên trồng vào đầu mùa mưa nhưng phải chú ý đến việc chuẩn bị hom giống từ trước do lúc này cây đang ra hoa và mang quả, không thể lấy hom trực tiếp được.

b) Mật độ trồng

Mật độ trồng khoảng 900 – 1.100 trụ/ha tùy vào khoảng cách trồng (3 x 3 m hoặc 3 x 3,5 m). 

2. Chọn giống

Giống phải có nguồn gốc rõ ràng, cơ sở nhân giống và sản xuất giống phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép. Giống tự sản xuất phải có hồ sơ ghi lại đầy đủ các biện pháp xử lý hom giống, hóa chất sử dụng, thời gian, tên người xử lý và mục đích xử lý.

Chọn các cành từ 1 năm tuổi trở đi (đã cho trái vụ trước, không nên chọn những cành vừa mới cho trái) từ các trụ sinh trưởng tốt, chọn các cành có gốc cành đã bắt đầu hóa gỗ để hạn chế bệnh thối cành. Chiều dài cành tốt nhất từ 50 – 70 cm. Cành mập, màu xanh đậm, không sâu bệnh, mắt gai tốt, mẩy, khả năng nảy chồi tốt.

Sau khi chọn cành xong, phần gốc cành 2 – 4 cm được cắt bỏ phần vỏ cành chỉ để lại lõi cành giúp cành nhanh ra rễ và tránh thối gốc. Giâm cành vào nơi thoáng mát, khô ráo, 10 – 15 ngày sau hom ra rễ dài 3 – 5 cm là có thể đem trồng.

3. Kỹ thuật trồng

a) Chuẩn bị đất trồng

Đất trồng thanh long phải đảm bảo thoát nước tốt.

Đối với vùng đất thấp cần đào mương lên líp nhằm xả phèn và nâng cao tầng canh tác: mương rộng 1 – 2 m, líp rộng 6 – 7 m. Sau đó trồng cây trụ, lên mô và bón lót. Líp thiết kế bảo đảm cây nhận được đầy đủ ánh sáng.

Đối với vùng đất cao nên đào hố, chọn nơi có nguồn nước để tưới cho cây vào mùa nắng.

b) Chuẩn bị cây trụ

Thanh long cần bám vào cây trụ, do đó phải chuẩn bị trụ trước khi đặt hom giống một tháng. Có thể dùng trụ xi măng cốt sắt, trụ gạch hoặc trụ gỗ. Tuy nhiên, nếu dùng trụ xi măng cần chú ý vào mùa nắng trụ hấp thụ nhiệt rất mạnh, dễ làm đứt các rễ khí sinh của thanh long, nên dùng rơm rạ, lá chuối hoặc bao tải bao một lớp mỏng xung quanh trụ để giảm bớt hấp thụ nhiệt và tưới nước lên trụ vào sáng sớm hay chiều tối.

Trụ xi măng được thiết kế có cạnh ngang hay đường kính 12 – 20 cm, trụ cao cách mặt đất 1,5 – 1,6 m; đối với trụ xi măng phần chôn sâu dưới mặt đất khoảng 0,5 m; phía trên trụ có 4 cọng sắt ló ra dài 30 – 40 cm được bẻ cong theo 4 hướng dùng làm giá đỡ cho thanh long.


Hình: Chuẩn bị trụ trồng thanh long

c) Cách đặt hom

Đặt hom cạn từ 2 – 4 cm, đặt phần lõi (đã gọt lớp vỏ bên ngoài) xuống đất để tránh thối gốc. Mỗi trụ trồng 3 – 4 hom.

Đặt áp phần phẳng của hom vào mép trụ tạo điều kiện thuận lợi cho cành ra rễ và bám sát vào trụ.

Cố định hom sát vào cây trụ để tránh gió làm lung lay và đổ ngã. Vào mùa nắng sau khi trồng nên tủ gốc bằng rơm rạ mục để giữ độ ẩm.

Hình: Cách đặt hom

d) Tủ gốc giữ ẩm

Tủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa nắng bằng rơm rạ, cỏ khô, xơ dừa, rễ lục bình, tủ cách gốc 5 – 10 cm. Biện pháp này cũng tránh được cỏ dại đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp một lượng dinh dưỡng cho đất.

e) Tỉa cành, tạo tán

- Mục đích của tỉa cành, tạo tán là tạo cho cây có bộ khung cơ bản, thông thoáng, giúp cây sinh trưởng mạnh, cho năng suất cao, ổn định. Sau trồng 2 - 3 tuần, khi cây đã ra nhiều chồi, tiến tỉa bỏ những ốm yếu, nhỏ, nhánh nảy ngang (nhánh tai chuột), những nhánh này sẽ không phát triển dài và không có khả năng cho trái sau này.

- Uốn cành: Khi cành dài vượt khỏi đỉnh trụ khoảng 30 – 40 cm, tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ. Nên uốn vào lúc trưa nắng, lúc này cành mềm dễ uốn, mỗi ngày một ít cho đến khi cành nằm được trên đỉnh trụ, dùng dây nilon buộc lại. Biện pháp này giúp cành mau ra chồi mới.

- Khi cành đâm chồi: Chọn 1 – 2 chồi phát triển tốt để lại. Tốt nhất nên tỉa bỏ một số chồi/cành chừa lại 3 – 4 nhánh có bẹ to, khoẻ cho leo lên giàn trụ để tạo tán sau này.

- Từ năm thứ 2 cần tiến hành tỉa nhẹ đồng thời tạo tán và định hình cho cây.

- Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ trung bình chỉ chừa khoảng 100 cành, lúc này trên đầu trụ số cành đã phân bố khá dày.

- Một số cành già đã từng cho trái trong những năm đầu, nằm khuất bên trong, nếu giữ lại sẽ không cho trái hoặc cho trái nhỏ, cần phải tỉa bớt làm thông thoáng tán cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi cành mới.

Ngoài các đợt tỉa cành chính, sau khi cây cho trái: Hết mùa thu hoạch trái, tỉa bỏ cành cũ bên trong tán, cắt ngang cành và cách gốc 30 – 40 cm nhằm làm giá đỡ cho cây. Cành vừa cho trái vụ trước nên để lại nuôi chồi mới (chỉ để lại 1 chồi trên cành mẹ) khi cành dài 1,2 – 1,5 m thì cắt đọt cành con tạo điều kiện cho cành mập và nhanh cho trái. Chú ý tỉa cành cần giữ cho tán cây cân đối, không bị lệch tán.

4. Phân bón

a) Thời kỳ kiến thiết cơ bản (1 – 2 năm đầu sau khi trồng)

* Năm thứ 1

- Phân hữu cơ: Được áp dụng vào 1 ngày trước khi trồng và 6 tháng sau khi trồng, với liều lượng 5 – 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg Super lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 1 - 2 kg/trụ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

- Phân hóa học: Một tháng sau khi trồng, bón 50 - 80 gam urea + 100 - 150 gam NPK 20-20-15/trụ. Định kỳ bón 1 tháng/lần. Cách bón: rải phân xung quanh gốc (cách gốc 20 – 40 cm), dùng rơm tủ lên và tưới nước.

* Năm thứ 2

- Phân hữu cơ: Bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa, với liều lượng 15 – 20 kg phân chuồng hoai + 1 kg Super lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 3 - 4 kg/trụ.

- Phân hóa học: Định kỳ bón 1 tháng/lần bón với liều lượng bón 80 - 100 gam urea + 150 - 200 gam NPK 20 - 20 - 15/trụ.

b) Thời kỳ kinh doanh (Giai đoạn kinh doanh từ năm 3 trở đi)

* Phân hữu cơ:

Bón 2 lần (đầu và cuối) mùa mưa, với liều lượng 20 - 30 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg supe lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Có thể sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh thay thế cho phân chuồng, với liều lượng 3 - 5 kg/trụ.

* Phân hóa học

- Giai đoạn trước khi ra hoa: Tỷ lệ NPK thích hợp cho giai đoạn này là (1:2:2) hoặc (1:3:2).

- Giai đoạn nuôi nụ và nuôi trái: Sử dung phân bón có tỷ lệ N và K cao hơn P với tỷ lệ (3:1:2), (2:1:2), (2:1:3), (1:1:1); thêm chất điều hoà sinh trưởng GA3, NAA lúc nhú nụ và khi kết thúc thụ phấn.

Mùa thuận (chính vụ), chia làm 4 lần bón:

+ Lần 1: Sau khi kết thúc vụ nghịch (đợt thắp đèn cuối cùng), tùy tình trạng sức khoẻ của cây, có thể áp dụng một trong các tỷ lệ NPK (1:1:0,75) như NPK 20 - 20 - 15 + TE; tỷ lệ (2:2:1) như NPK 16 - 16 - 8 + TE, với lượng dùng từ 400 - 500 g/trụ. Kết hợp phun phân bón lá có hàm lượng N cao như NPK 30 - 10 - 10 từ 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày.

+ Lần 2: Trước khi cây ra hoa, bón 400 - 500 gam/trụ phân NPK 20 - 20 - 15 + TE hoặc 500 - 700 gam phân NPK 16 - 16 - 8 + TE, có thể sử dụng thêm phân bón lá có hàm lượng P cao như NPK 10 - 60 - 10.

+ Lần 3: Khi cây đã có nụ hoa, bón 300 - 400 gam/trụ phân NPK 24 - 10 - 22 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6 - 12 + TE hay NPK 15 - 15 - 15 + TE.

+ Lần 4: Bón cách lần thứ 3 khoảng 40 - 45 ngày, với lượng 300 - 400 gam/trụ NPK 24 - 10 - 22 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6-12 + TE, kết hợp phun phân bón qua lá, Canxi, Bo.

Mùa trái vụ (thắp đèn):

+ Lần 1: Trước khi thắp đèn 15 ngày, bón 400 - 500 gam phân NPK 8 - 16 - 16 + TE, có thể bổ sung phân bón qua lá như NPK 10 - 60 - 10 + TE hay NPK 6 - 30 - 30 + TE theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.

+ Lần 2: Khi cây đã bung nụ hoa, khoảng 3 - 5 ngày sau khi ngưng đèn, bón 400 - 500 gam/trụ phân NPK 18 - 6 - 12 + TE hoặc 300 - 500 gam phân NPK 22 - 10 - 24 + TE, bổ sung thêm phân bón qua lá NPK 30 - 10 - 10, phun định kỳ 7 - 10 ngày/lần.

+ Lần 3: Bón cách lần 2 khoảng 40 - 45 ngày với lượng 300 - 400 gam/trụ NPK 24 - 10 - 20 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6 - 12 + TE, kết hợp phun phân bón qua lá, Canxi, Bo

Cách bón: Rải đều trên mặt đất quanh trụ, xới nhẹ cho hạt phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó tủ bằng rơm, rạ hoặc cỏ khô. Sau đó tưới nước cho phân tan.

5. Tưới nước

Tuy cây thanh long là cây chịu hạn tốt, nhưng nắng hạn kéo dài sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của cây thanh long và làm giảm năng suất. Biểu hiện của thiếu nước là: cành mới hình thành ít, cành phát triển chậm, cành bị teo lại và chuyển sang màu vàng, tỷ lệ rụng hoa ở các đợt hoa đầu tiên cao >80%, quả bé. Do đó, cần tưới nước thường xuyên cho cây, tùy theo độ ẩm của đất mà chu kỳ tưới cho cây có thể thay đổi 1 – 7 ngày/lần.

 6. Xử lý ra hoa

Cây thanh long thuộc nhóm cây ngày dài, sự ra hoa chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ở miền Nam thanh long bắt đầu ra hoa vào tháng 4 – 9 vì số giờ chiếu sáng trong ngày > 12 giờ (ngày dài). Vì vậy, muốn thanh long ra hoa nghịch vụ (từ tháng 9 đến tháng 3 dương lịch năm sau) vào giai đoạn đêm dài ngày ngắn, một trong những biện pháp hiệu quả nhất hiện nay là tạo chiếu sáng nhân tạo trong thời gian ngày ngắn bằng cách đốt đèn trong một thời gian nhất định giúp cho cây ra hoa đồng loạt. Chỉ thực hiện việc thắp đèn ở vườn cây trên 2 năm tuổi và chỉ nên áp dụng tối đa 2 lần chong đèn/trụ/năm với số giờ thắp đèn/đêm là 8 - 10 giờ.

Phương pháp chiếu đèn: Tùy theo mùa vụ mà số đêm chiếu sáng và thời gian chiếu sáng thay đổi, số giờ chiếu sáng trong ngày càng ít và thời tiết càng lạnh thì số lần chiếu đèn và thời gian chiếu đèn trong đêm càng tăng, số đêm chiếu đèn từ 15 – 20 đêm đồng thời số giờ chiếu đèn/đêm từ 8 – 10 giờ là thanh long có thể ra hoa. Thời gian từ khi ra nụ đến khi hoa nở từ 18 – 21 ngày và từ khi hoa nở đến khi thu hoạch quả từ 28 – 35 ngày. Do đó, tùy theo mục đích và nhu cầu quả trên thị trường mà nhà vườn quyết định thời gian xử lý ra hoa.

Thời gian thắp đèn: Trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, có thể tiến hành thắp đèn vào 1 trong 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Sau khi kết thúc vụ chính. Việc thắp đèn ở giai đoạn này khá thuận lợi do nhiệt độ ban đêm vẫn còn ở mức khá cao (25 - 260C), số đêm thắp/đợt khoảng 12 - 15 đêm, khoảng cách mắc giữa hai bóng là 3 m.

- Giai đoạn 2: Khoảng tháng 11 đến tháng 1 dương lịch. Đây là giai đoạn nhiệt độ ban đêm thường thấp nên số đèn cần nhiều hơn, khoảng cách mắc giữa hai bóng ngắn hơn (1,5 - 1,8 m)

- Giai đoạn 3: Khoảng tháng 2 dương lịch đến giáp với chính vụ, số đèn và khoảng cách giữa các bóng tương tự ở giai đoạn 1


               Hình: Thắp đèn kiểu ngã tư ở giai đoạn 1, 3 (a) và giai đoạn 2 (b)

Lựa chọn đèn: Sử dụng các loại đèn compact 20 - 23 W có ánh sáng vàng hay ánh sáng đỏ, có khả năng chống ẩm, vừa tiết kiệm được điện năng vừa nâng cao hiệu quả xử lý ra hoa, khoảng cách hợp lý nhất từ bóng đèn đến cành thanh long là 0,5 – 1 m, chiều cao bóng so với mặt đất khoảng 1,1 - 1,2 m.

Cách treo bóng đèn và thời gian chiếu sáng: Chỉ xử lý tối đa 2 lần thắp đèn/ trụ/năm.

- Chong ngã tư: Bóng được mắc ở khoảng giữa 2 hàng, khoảng cách giữa 2 bóng là 3 m, vị trí mắc bóng giữa 4 trụ, với chiều cao bóng so với mặt đất khoảng 1,1 - 1,2 m.

- Chong ngã hai: Bóng được mắc ở khoảng giữa 2 hàng, khoảng cách mắc giữa 2 bóng là 3 m, vị trí mắc bóng giữa 2 trụ, với chiều cao bóng so với mặt đất khoảng 1,1 - 1,2 m.

Chăm sóc sau khi rút đèn:

- Tưới nước: Nên tưới nước sau khi rút đèn khoảng 2 ngày, khoảng cách giữa 2 lần tưới gần hay xa tuỳ vào điều kiện khí hậu của từng vùng, trung bình khoảng 3- 4 ngày tưới 1 lần.

- Vuốt tai: Thường được thực hiện trước khi thu hoạch 5 ngày bằng hợp chất GA3 20T (1 viên) + thiên nông (20 g) + miracle gro (20 g) + 200 ml nước.

7. Tỉa hoa, trái

Chọn 2 nụ phát triển tốt trên mỗi cành, tỉa bỏ các nụ còn lại, các nụ trên cùng một cành nên chọn ở hai mắt xa nhau. Sau khi hoa nở 5 – 7 ngày tiến hành tỉa trái, mỗi cành chỉ để lại 1-2 trái, chọn các trái phát triển tốt, không dấu vết sâu bệnh.

Khi trái có đường kính 5 – 6 cm tiến hành tỉa bỏ những trái méo mó, sâu bệnh, trái trên những chùm mang quá nhiều trái để lại những trái lớn đều, đạt tiêu chuẩn.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

ASÂU HẠI

1. Rầy mềm (Toxoptera sp.)

a) Hình thái: Thành trùng rầy mềm có kích thước khoảng 1,7 – 1,8 mm. Thành trùng và ấu trùng đều gây hại trên trái.


     Hình: Rầy mềm (Toxoptera sp.)

b) Cách gây hại

- Trên hoa: rầy mềm chích hút nhựa làm hoa bị rụng.

- Trên trái: Trên trái để lại những vết chích nhỏ, khi chín bị mất màu đỏ tự nhiên, giảm giá trị thương phẩm.

- Khí hậu khô nóng làm gia tăng mật số gây hại của rầy mềm.

c) Biện pháp quản lý

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên đọt, trái có rầy mềm.

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bảo tồn thiên địch. Phun dầu khoáng nồng độ 0,5 – 1%.

- Sử dụng thuốc chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Pymetrozine,… theo liều lượng khuyến cáo và dùng luân phiên giữa các gốc thuốc để hạn chế tính kháng thuốc.

 2. Bọ xít (Mictis longicornis)

 a) Cách gây hại

- Thường gây hại trên cây từ giai đoạn có nụ hoa đến khi hình thành trái.

- Bọ xít dùng vòi chích hút vào vỏ quả, tai quả gây vết thương tạo điều kiện cho nấm bệnh và vi khuẩn gây hại làm giảm phẩm chất, giảm giá trị thương phẩm không xuất khẩu được.

b) Biện pháp quản lý

- Vệ sinh vườn, phát quang bụi rậm, cỏ dại, bón phân chuồng hoai; kiểm tra vườn  thường xuyên để ngắt bỏ ổ trứng; tạo điều kiện thuận lợi cho kiến vàng, ong kí sinh phát triển.

- Tỉa cành để  các  đọt non và hoa ra tập trung.

- Bọ xít trưởng thành có kích thước khá lớn, dễ phát hiện nên biện pháp tốt nhất là bắt bằng tay.


Hình: Bọ xít hại thanh long

  - Khi mật số bọ xít cao, có thể phòng trị bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như Etofenprox, Pymetrozine,... sử dụng luân phiên giữa các gốc thuốc, liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Chú ý việc dùng thuốc có hiệu quả cao khi phun sớm ở giai đoạn mới nở (ổ bọ xít non).

3. Ruồi đục quả (Bactrocera dorsalic)

Ruồi đục quả là đối tượng nguy hiểm và là đối tượng kiểm dịch rất khắc khe của nhiều nước nhập khẩu thanh long trên thế giới hiện nay.

a) Hình thái

Ruồi có cơ thể dài từ 6 – 9 mm, sải cánh rộng khoảng 13 mm. Đầu màu vàng. Sau khi vũ hóa từ 7 – 15 ngày, ruồi bắt đầu đẻ trứng. Ruồi sống trong khoảng từ 20 – 40 ngày, trong thời gian đó một ruồi cái có thể đẻ khoảng 150 – 200 trứng. Dòi mới nở dài khoảng 1,5 mm, lớn đủ sức dài từ 6 – 8 mm, màu vàng nhạt, kéo dài từ 10 – 14 ngày.

b) Cách gây hại

- Ruồi thường thích đẻ trứng ở trái thanh long sắp chín. Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng vỏ trái cây và đẻ trứng vào chỗ tiếp giáp giữa vỏ và thịt, trứng được đẻ thành từng chùm trong một lỗ khoét trên trái.

- Dòi non nở ra đục ăn thịt trái cây, tuổi càng lớn dòi càng đục sâu vào phía trong trái làm trái bị thối và hư. Khi lớn đủ sức, dòi sẽ di chuyển xuống đất làm nhộng. Dòi làm nhộng dưới đất sâu khoảng 3-7 cm.


Hình: Ruồi đục quả thanh long

c) Biện pháp quản lý

- Vệ sinh đồng ruộng: quả rụng là nơi lưu tồn ruồi làm tăng mật số rất nhanh do đó phải nhặt quả rụng, thu hái những quả còn sót lại trên cây sau khi thu hoạch đem đốt hoặc chôn vùi vào đất sâu 30 cm. Nếu có điều kiện sau khi thu hoạch xén tỉa cành và cày lật đất để diệt nhộng trong đất.

  - Xử lý cho ra hoa đồng loạt trên diện tích lớn để dễ quản lý.

  - Biện pháp bao trái có tác dụng hạn chế ruồi đục trái. Bao trái sau khi hoa thụ phấn 3 – 4 ngày.

  - Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugennol để dẫn dụ và diệt ruồi đực. Đặt 3 – 5 bẫy/1.000 trụ, đặt rải rác trong vườn thanh long.

   - Sử dụng chế phẩm Protein thủy phân để phun dẫn dụ ruồi, thời gian phun: 10 ngày/lần. Phun thành đốm nhỏ trên tán cây, cách 4 cây phun 1 cây, tuyệt đối không phun tràn lan cả vườn. Nên phun vào khoảng 8 – 10 giờ sáng, vào lúc trời mát không mưa.

   - Không nên xịt thuốc hóa học trực tiếp lên trái để diệt dòi vì hiệu quả không cao và không đảm bảo an toàn thực phẩm.

4. Bọ trĩ (Thrips sp.)

a) Hình thái

- Thành trùng màu vàng cam, nhỏ, khảng 0,1 mm. Một thành trùng cái đẻ khoảng 25 trứng trong lá và trái non.

- Trứng hình trái thận, do con cái dùng bộ phận đẻ trứng ghim thẳng vào trong trái non, trứng nở trong thời gian khoảng 3 ngày.

- Ấu trùng rất giống thành trùng nhưng màu nhạt hơn.


                 Hình: a) Thành trùng bọ trĩ                b) Triệu chứng bọ trĩ gây hại trên trái

b) Cách gây hại

- Vòng đời trung bình 15-18 ngày. Chúng gây hại nặng từ giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái.

Bọ trĩ thường phát triển gây hại trong giai đoạn thanh long đang ra hoa, trái:

+  Trên  hoa:  Bọ  trĩ  chích  hút nhựa làm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái hoặc làm giảm giá trị thương phẩm trái sau này.

+ Trên trái non: Bọ trĩ thường tập trung chích hút ở dưới chân tai và xung quanh tai trái nên về sau tạo vết sần sùi dưới chân tai và xung quanh tai trái thanh long nên làm giảm giá trị thương phẩm trái.

- Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô.

 c) Biện pháp quản lý

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Tỉa cành thông thoáng.

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên trái non để rữa trôi  bọ trĩ.

- Bảo tồn thiên địch.

- Phun dầu khoáng DC Tron plus nồng độ 0,5 –1%.

- Thăm vườn thường xuyên, nếu phát hiện bọ trĩ có mật số cao nên sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV: Abamectin, Emamectin Benzoate, Spinetoram, Emamectin Benzoate + Matrine, Garlicin.

5. Rệp sáp (Pseudococcus brevipes)

a) Hình thái: Rệp sáp có hình bầu dục dài khoảng 4 mm, ngang 2 – 3 mm, thân có phủ lớp sáp trắng, quanh mình có các tia sáp dài trắng xốp. Rệp càng lớn càng ít di chuyển, di chuyển từ nơi này sang nơi khác chủ yếu nhờ kiến cộng sinh.


Hình: Rệp sáp hại thanh long

b) Cách gây hại

- Rệp chích hút nhựa ở tất cả các bộ phận của cây: cành non, nụ hoa, trái. Trên cành non rệp chích hút nhựa làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Trên trái rệp chích hút nhựa làm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái và giá trị thương phẩm của trái. Chất thải của rệp tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển làm đen vỏ quả, mặt lá gây trở ngại khả năng quang hợp của cây.

- Rệp còn chui xuống đất bám vào hút dịch ở gốc thân, cổ rễ. Khi rệp hại rễ, các loài tuyến trùng, nấm bệnh cũng theo vết thương xâm nhập gây tác hại trầm trọng hơn. Khi rễ bị hại nặng cây rất cằn cỗi, lá vàng rồi héo dần và chết do bộ rễ bị phá hủy không còn khả năng hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây.

c) Biện pháp quản lý

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành già, cành tược nằm trong tán lá để vườn cây thông thoáng.

- Thường xuyên dọn sạch cỏ, lá cây mục tụ ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến (sống cộng sinh với rệp sáp).

- Rệp sáp trên đọt và quả:

+ Dùng máy bơm xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp đeo bám.

+ Phun dầu khoáng (Petroleum spray oil)

+ Phun thuốc kỹ ướt đều cây, phun hai lần cách nhau 7 – 10 ngày để diệt tiếp lứa rệp non mới nở.

- Rệp sáp hại rễ: Dùng thuốc hạt để rải, sau đó phủ đất và tưới nước cho cây hoặc hòa nước thuốc tưới vào gốc.

Có thể sử dụng thuốc hóa học chứa hoạt chất như Spirotetramat, Pymetrozine, Dinotefuran, Emamectin benzoate (Avermectin B1a 90 % + Avermectin B1b 10%), …để phòng trị rệp sáp. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo của người sản xuất.

B- BỆNH HẠI

1. Bệnh thán thư (nấm Colletotrichum sp.)

a) Cách gây hại

Bệnh gây hại chủ yếu trên đọt, hoa và trái, đôi khi trên cành cũng bị nấm tấn công.

Trên cành vết bệnh bắt đầu từ mép cành lan dần vào bên trong. Vết bệnh dạng gần tròn hay bất định. Khi nấm tấn công vào cành làm cho cành thối mềm có màu vàng sáng, sau 1 thời gian ngắn chuyển sang màu vàng nâu, vết thối từ ngọn vào trong.

Trên hoa, nấm tạo thành những đốm đen nhỏ làm hoa bị thâm đen và rụng.

Trên trái, vết bệnh là những đốm tròn hoặc gần tròn, có tâm màu nâu đỏ, lõm xuống, xung quanh có những vòng tròn đồng tâm nâu sậm sau đó phát triển nhanh thành những mãng thối lõm vào vỏ.

Nấm bệnh lan truyền trong gió, nước, con người đi lại chăm sóc. Điều kiện thời tiết mưa nhiều, ẩm độ nhiệt độ cao thì bệnh càng dễ phát triển, lây lan.


Hình: a) Vết bệnh trên cành b) Vết bệnh trên nụ hoa, trái

b)  Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác:

+ Dọn sạch cỏ và các dây leo hoang dại xung quanh vườn thanh long.

+ Cắt bỏ và tiêu hủy các bộ phận của cây bị bệnh.

+ Tỉa cành cho cây thông thoáng.

+ Không nên tưới nước lên tán cây khi cây đang bệnh.

+ Cắt bỏ phần nhụy đã héo rủ ở đỉnh trái.

- Biện pháp sinh học:

+ Trong vườn nên bón nhiều phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma vừa giúp phân hủy chất hữu cơ nhanh, vừa diệt mầm bệnh trong đất.

- Biện pháp hóa học:

+ Phun thuốc trừ nấm gốc đồng sau khi thu hoạch, cắt tỉa bộ phận bị bệnh để làm giảm áp lực mầm bệnh, phun lần 2 khi có nụ hoa.

+ Phun thuốc gốc Propineb khi vừa đậu trái hoặc một số loại thuốc có hoạt chất như Azoxytrobin, Chlorothalonil, Mancozeb, Kasugamycin,…

2. Bệnh thối cành (nấm Alternaria sp.)

Có thể gọi là bệnh thối ngọn hoặc thối đầu cành. Ngọn cành thanh long bị bệnh chuyển màu vàng nâu, mềm ra, sau đó bị thối. Vết thối thường bắt đầu từ ngọn xuống.

Cây bị bệnh phát triển chậm, số cành giảm. Bệnh thường phát sinh vào mùa nắng và đầu mùa mưa.

b) Biện pháp quản lý

- Cung cấp đủ nước cho cây vào mùa nắng. Tránh tưới cây vào lúc trời nắng gắt. Vườn phải thoát nước tốt.

- Bón phân cân đối.

- Cắt bỏ cành bị bệnh và đem tiêu hủy.

- Phát hiện và phun trừ bệnh sớm  bằng các boại thuốc BVTV có chứa hoạt chất như Mancozeb, Azoxytrobin, Chitosan, Propineb,…

3. Bệnh đốm nâu (nấm Neoscytalidium dimidiatum)

a) Cách gây hại

Bệnh đốm nâu hại thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra. Bào tử nấm gây bệnh nẩy mầm trên bề mặt tiếp xúc rồi xâm nhập vào trong mô gây hoại tử, bệnh gây hại cả trên thân cành và quả thanh long.

- Trên thân cành: Khi mới xuất hiện, triệu chứng ban đầu là các vết lõm màu trắng (nên một số nông dân còn gọi là bệnh đốm trắng,…), sau đó vết bệnh nổi lên thành những đốm tròn màu nâu như mắt cua. Trong điều kiện thuận lợi bệnh phát triển mạnh, các vết bệnh liên kết với nhau làm cho cành thanh long bị sần sùi, gây thối khô từng mảng.

- Trên quả: Tương tự như trên thân cành, những đốm làm cho vỏ quả trở nên sần sùi thối khô từng mảng. Bệnh nặng có thể gây nám (rám) cả quả làm giảm giá trị thương phẩm nghiêm trọng.

Bệnh phát sinh phát triển và lây lan nhanh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, ẩm độ không khí cao, nhất là vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Bệnh phát sinh gây hại nặng hơn trên những vườn thanh long bón nhiều phân đạm, sử dụng nhiều chất kích thích sinh trưởng. Bệnh đốm nâu cây thanh long lây lan chủ yếu qua các con đường: Qua hom giống, tàn dư cây bệnh và các sản phẩm của thanh long. Bào tử nấm phát tán, lây lan nhờ gió, dòng nước chảy và qua một số sinh vật (một số loài ốc sên, côn trùng).

b) Biện pháp quản lý

Để phòng chống bệnh đốm nâu hại thanh long hiệu quả phải áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

- Biện pháp canh tác:

 Vệ sinh sạch cỏ dại, tiến hành tỉa cành cho vườn thông thoáng, sạch sẽ, không để vườn quá rậm rạp.

Thường xuyên kiểm tra vườn, nhất là những vườn cận kề vườn bệnh và vườn um tùm, xanh tốt hoặc vào thời điểm ẩm độ không khí cao.

Không tưới nước vào chiều tối vì sẽ tạo điều kiện ẩm độ cho bào tử nấm gây bệnh nảy mầm, gây hại. Không tưới phun trên tán cây.

Loại bỏ những cành, quả bị bệnh, thu gom chôn lấp, rắc vôi bột tiêu hủy (không được bỏ cành bệnh, quả bệnh xuống nguồn nước hay vứt tại vườn).

Bón phân cân đối, tránh bón thừa phân đạm và sử dụng nhiều lần chất kích thích sinh trưởng khi cây bị bệnh, tăng cường bón lân, kali và phân hữu cơ hoai mục cũng như việc bổ sung thêm phân có hàm lượng canxi, magiê, silíc để tăng sức đề kháng cho cây.

- Biện pháp sinh học

Cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa có thể dùng nấm Trichoderma trộn với phân hữu cơ hoai bón vào gốc để tăng khả năng kiểm soát nguồn bệnh trong đất. Có thể bón Trichoderma lần 2 vào giữa mùa mưa. Liều lượng theo khuyến cáo ghi trên bao bì sản phẩm.

- Sử dụng giống sạch bệnh:

Tuyệt đối không được lấy giống, giâm chiết cành từ những khu vực bị bệnh hoặc không có nguồn gốc rõ ràng.

Không vận chuyển cành, quả bị bệnh từ khu vực có bệnh sang khu vực khác.

- Biện pháp hóa học

Cuối mùa khô tiến hành rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 1 – 2 tấn/ha.

Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện bệnh sớm khi mới chớm xuất hiện để phun trừ kịp thời. Trong mùa mưa sau mỗi đợt khô kéo dài cần chú ý kiểm tra bệnh để phun trừ bệnh kịp thời. Khi phát hiện bệnh đốm nâu mới chớm xuất hiện có thể sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ bệnh.

Có thể sử dụng thuốc BVTV trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam như: hoạt chất Phosphorus acid; các loại thuốc gốc đồng; hoạt chất Azoxystrobin,  Hexaconazole,  Mancozeb, Physcion,… để phòng trừ bệnh đốm nâu. Liều lượng dùng theo khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất.

Lưu ý: Sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly theo khuyến cáo trên bao bì của từng loại thuốc.

4. Bệnh vàng bẹ và rám cành (nấm Bipolaris crustaceaFusarium equiseti.)

a) Cách gây hại

Triệu chứng ban đầu trên cành xuất hiện các vết chấm li ti hình dạng không nhất định, có màu nâu đỏ, xung quanh vết bệnh có viền màu vàng, vết bệnh sau đó lan dần ra, liên kết lại với nhau làm vàng cả bẹ (Bipolaris crustacea). Ngoài ra, liên quan đến bệnh vàng bẹ còn có triệu chứng khác đó là ở phía mặt trên bẹ lúc đầu xuất hiện những vệt có màu xanh, xuất hiện lốm đốm trên bẹ, xung quanh các vệt này có màu vàng. Sau đó, các vệt này gồ lên trên bề mặt bẹ thanh long, chúng có màu nâu xám. Nếu các vết bệnh này lan rộng ra, liên kết lại với nhau sẽ tạo thành những mãng lớn và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây thối bẹ (Fusarium equiseti).

Bệnh thường phát triển mạnh vào mùa nắng, đặc biệt khi nhiệt độ cao và ẩm độ cao.

Mầm bệnh có thể lưu tồn quanh năm trong vườn. Chúng tồn tại trong đất, xác bã thực vật, những cây bị nhiễm bệnh từ vụ trước,…


b) Biện pháp quản lý

- Đối với những cành bệnh nặng tuyệt đối không tưới nước vào buổi trưa nắng nóng, chỉ tưới nước lên đầu trụ lúc sáng sớm hay chiều mát.

- Chăm sóc và bón phân kịp thời, cân đối NPK, không được bón dư đạm. Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng lân, canxi, magiê cao.

- Ở những cành đã bị bệnh nặng (thối phần thịt lá), cần tỉa bỏ cành và tiêu hủy, đồng thời tiến hành phun thuốc trừ bệnh. Có thể sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất như Kasugamycin, Azoxytrobin, Mancozeb, …

5. Bệnh thối trái

a) Cách gây hại

Đối với thanh long ruột đỏ: bệnh do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi và nấm Rhizopus sp. gây ra.

Đối với thanh long ruột trắng: chỉ do tác nhân vi khuẩn Erwinia chrysanthemi gây ra.

 Bệnh thường xuyên xuất hiện ở giai đoạn cây ra nụ, sau khi hoa nở (2-3 ngày sau khi phát hoa héo) và ở giai đoạn trái non. Bệnh phát triển và lây lan rất nhanh chóng nhất là trong điều kiện ẩm độ cao và mưa thường xuyên. Triệu chứng ban đầu là nụ hoặc trái có vết bị thối nhũn, có bọt khí nổi trên bề mặt vết bệnh, bên trên vết bệnh có xuất hiện lớp tơ nấm màu đen, và rất nhanh chóng lan rộng rộng ra làm thối cả trái (sau khoảng 12-24 giờ). Trái bị thối ngửi có mùi hôi (mùi lên men rượu). Bệnh thối trái phát triển mạnh cả trong mùa nắng và mùa mưa khi gặp điều kiện ẩm ướt và nhiệt độ không khí khoảng 25-300C. 

b) Biện pháp quản lý

- Vệ sinh vườn và tiêu huỷ cành, nụ bông và trái bị nhiễm bệnh từ vụ trước.

 -  Bón vôi cho toàn bộ vườn thanh long với liều lượng khoảng 1-2kg/ trụ. 

- Sau đó, bón phân và chăm sóc theo đúng qui trình canh tác thanh long. Có thể phun ngừa bệnh bằng thuốc gốc đồng, Chitosan, Kasugamycin, Quaternary Ammonium Salts, Bronopol, Oxolinic acid, Kasugamycin, Ningnanmycin, Copper Oxychloride + Kasugamycin, Gentamicin sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride, Oxytetracycline hydrochloride  + Streptomycin sulfate, …Phun phủ toàn bộ trụ thanh long.

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và biện pháp phòng trừ:

TT

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ (theo liều lượng khuyến cáo)

1

 

 

Kiến thiết cơ bản

 

 

 

Rệp sáp

- Vệ sinh vườn

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bơm xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp đeo bám. Phun dầu khoáng (Petroleum spray oil)

- Ngoài ra có thể sử dụng một số thuốc hóa học chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Chlorpyrifos Methyl; Spirotetramat, Pymetrozine,…

 

 

Thán thư

- Vệ sinh đồng ruộng. Trong vườn nên bón nhiều phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma.

- Biện pháp hóa học: Phun thuốc trừ nấm gốc đồng sau khi thu hoạch và khi có nụ hoa. Phun thuốc gốc Propineb khi vừa đậu trái và một số thuốc có hoạt chất như Azoxytrobin, Chlorothalonil, Mancozeb, Kasugamycin,…

 

 

Thối cành

- Cung cấp đủ nước, bón phân cân đối.

- Cắt bỏ cành bị bệnh và đem tiêu hủy.

- Khi phát hiện mới có bệnh dùng các thuốc có chứa hoạt chất như Mancozeb, Azoxytrobin, Chitosan, Propineb,…

 

 

 

Đốm nâu

- Vệ sinh vườn cây, bón phân cân đối, sử dụng giống sạch bệnh.

-    Dùng nấm Trichoderma trộn với phân hữu cơ bón vào gốc để tăng khả năng kiểm soát nguồn bệnh trong đất.

- Cuối mùa khô tiến hành rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 1 – 2 tấn/ha.

- Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Phosphorus acid; các loại thuốc gốc đồng; hoạt chất Azoxystrobin,   Hexaconazole,  Mancozeb, Fluoxastrobin + Chlorothalonil.

 

 

Vàng bẹ, rám cành

- Tuyệt đối không tưới nước vào buổi trưa nắng nóng.

- Bón phân cân đối. Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng lân, canxi, magiê cao.

- Ở những cành đã bị bệnh nặng (thối phần thịt lá), cần tỉa bỏ cành và tiêu hủy, đồng thời tiến hành phun thuốc trừ bệnh. Có thể sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất như Kasugamycin, Azoxytrobin, Mancozeb, …

2

Kinh doanh

Rệp sáp

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Rầy mềm

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bảo tồn thiên địch. Phun dầu khoáng nồng độ 0,5 – 1%.

- Sử dụng thuốc chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Pymetrozine,… theo liều lượng khuyến cáo và luân phiên nhau.

 

 

 

Bọ xít

- Vệ sinh vườn, phát quang, bón phân chuồng hoai; tạo điều kiện thuận lợi cho kiến vàng, ong sinh phát triển

- Tỉa cành để các đọt non hoa ra tập trung.

- Bắt bằng tay bọ xít trưởng thành.

- Phòng trị bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như Etofenprox, Pymetrozine,... luân phiên nhau và theo liều lượng khuyến cáo.

 

 

Ruồi đục quả

- Vệ sinh đồng ruộng

- Xử lý cho ra hoa đồng loạt trên diện tích lớn để dễ quản lý.

 - Biện pháp bao trái có tác dụng hạn chế ruồi đục trái. Bao trái sau khi hoa thụ phấn 3 – 4 ngày.

- Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugennol, chế phẩm Protein thủy phân để dẫn dụ.

 

 

Bọ trĩ

- Tỉa cành thông thoáng; Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên trái non để rữa trôi bọ trĩ.

- Bảo tồn thiên địch.

- Phun dầu khoáng DC Tron plus nồng độ 0,5 –1%.

- Thăm vườn thường xuyên, nếu phát hiện bọ trĩ mật số cao nên sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV: Abamectin, Emamectin Benzoate, Spinetoram và Emamectin Benzoate+Matrine, Garlicin vào thời điểm bọ trĩ gây hại

 

 

Thán thư

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Thối cành

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Đốm nâu

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Vàng bẹ, rám cành

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

 

 

Thối trái

- Vệ sinh vườn và tiêu huỷ cành, nụ bông và trái bị nhiễm bệnh từ vụ trước.

-  Bón vôi cho toàn bộ vườn thanh long với liều lượng khoảng 1-2kg/ trụ.

- Có thể phun ngừa bệnh bằng thuốc gốc đồng, Chitosan, Kasugamycin…Phun phủ toàn bộ trụ thanh long.


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

VI. THU HOẠCH

          Thanh long nên thu hoạch trong thời gian 30 – 32 ngày sau khi hoa nở để có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn. Phải bảo đảm thời gian cách ly thuốc BVTV theo khuyến cáo sử dụng.

          Thu hoạch lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào quả làm tăng nhiệt độ trong quả, mất nước nhanh ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian bảo quản.

          Hái quả bằng kéo cắt tỉa cành sắc bén, khi cắt quả xong cho vào giỏ nhựa, để trong mát, vận chuyển ngay về nhà đóng gói càng sớm càng tốt, không để lâu ngoài vườn.

          Không đặt quả xuống đất trong khi hái nhằm tránh nhiễm nấm.

          Không chất quả quá đầy giỏ khi vận chuyển, bao lót kỹ, che phủ mặt giỏ bằng giấy, lá, tránh ánh nắng chiếu và tổn thương khi va chạm./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia; Hà Nội, 2017.

2. Giáo trình Môđun - Quản lý dịch hại thanh long - Bộ Nông nghiệp và PTNT - 2012.

3. Quy trình sản xuất thanh long theo VietGAP - Trung tâm NCPT Cây thanh long - 2008.

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Lượt người xem:  Views:   292
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật