Tài liệu kỹ thuật
Thứ 4, Ngày 01/05/2019, 13:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc dứa
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
01/05/2019 | Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
Ở Miền Nam dứa được trồng trên đất phèn và xám. Dứa có bộ rễ ăn nông, do đó dứa phải được trồng trên đất tơi xốp, thoáng khí, dễ thoát nước, có tầng canh tác dày trên 0,4m, độ pH thích hợp khoảng 4 – 5. Đất phèn có pH ≤ 4 cây dứa vẫn sống tốt. Dứa Queen chịu được pH thấp hơn giống Cayen. Nhiệt độ giới hạn là 15 - 400C, thích hợp là 25-350C. Khi nhiệt độ xuống thấp 5 - 100C thì cây dứa ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chín của quả, quả chín vào thời kỳ lạnh, ẩm, ánh sáng yếu thì quả thường bé, độ ngọt thấp thường bị chua. Dứa Cayen chịu rét kém hơn dứa Queen.

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DỨA

 

I. YÊU CẦU SINH THÁI

1. Đất trồng

Ở Miền Nam dứa được trồng trên đất phèn và xám. Dứa có bộ rễ ăn nông, do đó dứa phải được trồng trên đất tơi xốp, thoáng khí, dễ thoát nước, có tầng canh tác dày trên 0,4m, độ pH thích hợp khoảng 4 – 5. Đất phèn có pH ≤ 4 cây dứa vẫn sống tốt. Dứa Queen chịu được pH thấp hơn giống Cayen.

2.Nước

Lượng mưa thích hợp1.000-1.500mm/năm, phân phối đều qua các tháng. Lượng mưa phân bố không đều ảnh hưởng đến quá trình ra hoa. Tại những nơi ngập nước phải bảo đảm mực nước trong mương thấp hơn mặt liếp tối thiểu 40 cm. pH thích hợp từ 4 – 6.

3. Ánh sáng

Cây thích ánh sáng tán xạ hơn là ánh sáng trực xạ, tuy nhiên ánh sáng trực xạ vào mùa hè dễ gây ra hiện tượng cháy nắng trên quả. Cây dứa có khuynh hướng ra hoa tự nhiên vào thời kỳ ngày ngắn.

4. Nhiệt độ

Nhiệt độ giới hạn là 15 - 400C, thích hợp là 25-350C. Khi nhiệt độ xuống thấp 5 - 100C thì cây dứa ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chín của quả, quả chín vào thời kỳ lạnh, ẩm, ánh sáng yếu thì quả thường bé, độ ngọt thấp thường bị chua. Dứa Cayen chịu rét kém hơn dứa Queen.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả.

-  Điều kiện khí hậu: Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo; lượng mưa trung bình/năm từ 1.500 – 2.400 mm và mùa khô kéo dài (6 tháng); nhiệt độ trung bình/năm từ 27 – 28oC; độ ẩm không khí trung bình là 80%; số giờ nắng trung bình/ngày/năm vào khoảng 07 giờ/ngày.

-  Điều kiện nước: Tây Ninh có diện tích mặt nước lớn với hệ thống các sông như: Vàm Cỏ Đông, Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng (với dung tích 1,1 tỷ m3); là nguồn cung cấp nước ngọt đồng thời nước từ các sông mang lại còn giúp đẩy mặn vào thời điểm triều cường; có hệ thống thủy lợi được đầu tư khá đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong tỉnh.

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên tại Tây Ninh phù hợp để canh tác dứa nhưng cần phải có hệ thống tưới tiêu tốt và tăng cường đầu tư phân bón nhất là phân hữu cơ để cải tạo đất.

- Khi chọn canh tác dứa, người sản xuất nên thực hiện phân tích phẫu diện đất canh tác để xác định chính xác hàm lượng các chất dinh dưỡng, pH đất, pH nước, độ dày tầng canh tác,… làm cơ sở đưa ra quyết định canh tác dứa hoặc cần bổ sung, cải tạo để đầu tư thâm canh đạt hiệu quả như mong muốn.

Trong trường hợp trồng dứa trên những chân đất thấp, trũng gần mạch nước ngầm chịu ảnh hưởng của quá trình phèn hóa, thì cần đào mương lên líp cao khi trồng và cải tạo độ pH cho phù hợp.

III. CÁC GIỐNG DỨA PHỔ BIẾN

Dứa được phân thành ba nhóm chính: Nhóm hoàng hậu (Queen), nhóm Cayen (Cayenne), nhóm dứa Tây Ban Nha (Spanish).

1. Nhóm dứa hoàng hậu (Queen).

Dứa thuộc nhóm này có khối lượng và độ lớn trung bình từ 500 - 900gram, bản lá hẹp, cứng, nhiều gai ở mép lá, mặt trong của phiến lá có vân trắng chạy song song theo nhiều lá. Hoa có màu xanh hồng, mắt quả lồi, dễ vận chuyển, thịt quả màu vàng đậm, thơm đặc trưng, vị ngọt.

Đây là nhóm dứa có phẩm chất cao nhất đang được trồng phổ biến ở nước ta và đại diện là các giống: dứa hoa, dứa tây, dứa Vitoria, khóm.



Dứa (thơm) Queen                                                       Dứa (thơm) Cayen

2. Nhóm dứa Cayen (hay Smooth Cayenne)

Dứa này thuộc nhóm có khối lượng trung bình 1,5 - 2,0kg/quả. Lá màu xanh đậm, dài, dày, không có gai hoặc rất ít gai ở gốc hay chóp lá. Hoa tự có màu hồng, hơi đỏ, quả hình trụ (hình quả trứng), mắt quả to, hố mắt nông. Chín dần, khi chín màu vàng chuyển dần từ cuống tới chóp quả.

Đại diện là các giống: Chân Mộng, Đức Trọng, Trung Quốc, Thái Lan, Cayen có gai, Mehico

Các giống này được xem chỉ phát triển tốt trên đất có pH trung tính và có sự đầu tư thâm canh cao. Loại này tuy chất lượng không cao lắm nhưng được trồng nhiều để chế biến do quả to dễ cơ giới hoá, cho hiệu quả kinh tế thích hợp nhất cho việc sản xuất công nghiệp mặt hàng dứa như đồ hộp, nước dứa, sirô dứa... thích hợp canh tác thâm canh ở Tây ninh.

Giống Cayen nhạy cảm với nhiều loài côn trùng gây hại (sâu đục quả, nhện đỏ...) và bệnh (tuyến trùng, thối trái, thối lõi, thối gốc...). Tuy nhiên, nó được coi là có khả năng chịu được nấm Phytophthora sp. và đề kháng với sự phá hại trái do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi Burkbolder.

Nhóm dứa Cayen ít chịu chua hơn các nhóm Queen và Spanish.Vì vậy đất quá chua (pH dưới 5) nếu muốn trồng dứa Cayen phải bón vôi.

3. Nhóm dứa Tây Ban Nha (Spanish hay Red Spanish)

Nhóm dứa này có khối lượng trung bình 700 - 1000gram. Lá mềm, mép lá cong ngả nhiều về phía lưng, mật độ gai phân bố không đều trên mép lá. Hoa có màu đỏ nhạt, khi chín vỏ quả có màu đỏ xẫm, hố mắt sâu, thịt quả vàng, phớt nắng, vị chua, nhiều xơ.

IV. KỸ THUẬTTRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ trồng:Ở phía Nam trồng được quanh năm, tuy nhiên tốt nhất trồng vào đầu mùa mưa (tháng 6-7).

Mật độ:

Công thức tính số cây/ha như sau: (2 x 10.000)/(a x (b+c))

Với:   a là khoảng cách cây (m);

b là khoảng cách hàng (m);

c là khoảng cách giữa 2 hàng kép (m).


Để dễ đi lại chăm sóc và thu hoạch, dứa thường được trồng theo hàng kép. Khoảng cách thích hợp nhất hiện nay là khoảng cách giữa cây cách cây (a) 25 cm, giữa 2 hàng trên băng (b) là 40 cm, giữa các băng (c) là 90 cm với cách trồng và khoảng cách này,mật độ khoảng 61.000 cây/ha

Khi trồng có màng phủ thường bố trí hàng kép, với hàng cách hàng 40 cm, hàng cách mép luống liếp 5 cm. 

- Khi đào mương trồng theo từng liếp thường không chia thành băng mà trồng khoảng cách cây đều nhau, khoảng 40x40 cm, mật độ khoảng 50.000 cây/ha. Với chiều cao luống: 20-25cm, bề rộng mặt luống (tùy thuộc quy cách trồng) và được tính như sau:

          R = 40 x (N-1) + 2 x 20cm

          R: Bề rộng mặt luống tính bằng cm;

          N: là số hàng dự định trồng trên một luống

- Khoảng cách giữa các luống: Để thuận tiện cho khâu chăm sóc khoảng cách giữa hai mép luống nên để 30 cm, như vậy khoảng cách giữa các hàng rìa ngoài mép luống sẽ là 70 cm (đảm bảo cho đi lại dễ dàng).

Ví dụ: Nếu luống trồng 4 hàng thì bề rộng mặt luống sẽ là 40 x (4-1) + 2 x 20 =160cm và bề rộng đáy luống sẽ là 160 + 30 = 190cm

Tuy vậy trồng nhiều hàng/luống gây khó khăn việc làm cỏ khó khăn hơn và quả ở hàng giữa thường nhỏ hơn 2 hàng bên.

Ở dưới mỗi hàng dứa có thể trồng một hàng cây che bóng (cây muồng) để quả hạn chế bị rám nắng và góp phần cải tạo đất.

2. Cây giống

Có thể sử dụng 3 loại chồi chính phát sinh từ cây mẹ để làm giống khi trồng: chồi ngọn, chồi cuống, chồi nách.

Tiêu chuẩn chồi tốt là: Chồi ngắn, to, khoẻ, lá xanh đậm, phiến lá rộng và dầy, trọng lượng trên 150 -200gr/chồi với nhóm giống dứa Queen và 200-300gr/chồi với nhóm giống dứa Cayen. Chồi cao khoảng 20-25 cm, số lá từ 15-20 lá.

Trước khi trồng phải phân loại các chồi cùng loại trồng vào 1 khu, đảm bảo độ đồng đều của vườn dứa, thuận lợi cho việc chăm sóc, xử lý ra hoa trái vụ.

3. Trồng và chăm sóc

3. 1 Chuẩn bị đất trồng:

Đất trồng được chuẩn bị vào mùa nắng. Cày xới sâu 30cm, cào nhặt kỹ gốc cỏ rồi phơi đất ít nhất 1-2 tháng. Trước khi trồng 1 tuần, tiến hành bừa san cho đất bằng phẳng, không bị lồi, lõm, kết hợp bón lót phân chuồng hoai hoặc phân vi sinh cùng với phân lân. Nên sử dụng chế phẩm Trichoderma dòng trừ nấm bệnh, lượng sử dụng 1-3 kg/ha để ngừa bệnh do các loại nấm trong đất như Fusarium sp. hoặc Phytopthora sp. gây ra.

3.2 Xử lý chồi trước trồng

Chồi sau khi đã chọn, bóc bỏ bẹ lá ở gốc chồi để lộ 3-4 vòng mắt rồi bó 15-25 chồi thành 1 bó.Cần xử lý chồi con trước khi đem đi trồng để hạn chế sự phát sinh, gây hại của nấm bệnh sau khi trồng, có thể nhúng chồi giống trong dung dịch chứa hoạt chất Metalaxyl, Mancozeb hoặc Fosetyl aluminium pha với nồng độ 0,2% trong 3 - 5 phút hoặc phun ướt đẫm lên bó chồi. Sau đó vớt ra để nơi thoáng mát, khoảng 24 giờ sau thì đem trồng.

3.3 Cách trồng:

- Tạo lỗ, rãnh trồng: trước khi trồng cần làm đất bằng phẳng trên mặt liếp

- Căng dây thành hàng trên luống trồng theo khoảng cách định sẵn để đánh rãnh hoặc đào lỗ trồng thẳng hàng


- Dùng dao chọc lỗ trồng rộng 7-10 cm, sâu 5-7 cm trên hàng theo khoảng cách đã bố trí.

-Trong trường hợp trồng dứa có che phủ nilon, sau khi bón phân lót, lên luống, tiến hành phủ nilon lên toàn bộ mặt luống, dùng đất lấp chèn hai mép nilon. - Khoảng cách giữa các lỗ đục trên màng phủ phụ thuộc vào khoảng cách trồng. Có hai cách để đục lỗ:

+ Cách 1: Đục lỗ hình chữ thập (bằng dao) tại những vị trí trồng cây để cho cây có thể tăng trưởng.



+ Cách 2: Dùng ống sắt hoặc lon sữa bò rỗng có đường kính khoảng 8cm, cắt thành hình răng cưa để đục lỗ màng phủ.

- Đặt gốc chồi dứa thẳng đứng vào lỗ rãnh trồng dứa. Với chồi ngọn nên đặt sâu khoảng 3 cm, chồi cuống khoảng 5 cm và chồi nách khoảng 6-8 cm là phù hợp.

Lưu ý:

+ Tránh để rơi đất vào noãn chồi và không nên trồng quá sâu dễ gây thối.

+ Trước khi trồng cần bóc bỏ vài lá già ở gốc để rễ dễ mọc ra, nếu chồi dài có thể cắt bớt lá.

 - Ém chặt đất quanh gốc cho cây đứng vững. Không để đất lấp vào noãn dứa và noãn của cây dứa phải cao hơn mặt đất để khi mưa đất không lấp noãn. Nếu trồng bằng màng phủ dùng tay lùa xuống dưới nilon để nén chặt đất vào xung quanh gốc cây dứa.

  - Sau khi trồng xong cần tưới nước đủ ẩm để cây dứa nhanh bén rễ.

3.4 Trồng dặm, làm cỏ:

   Sau khi trồng từ 15-20 ngày tiến hành trồng dặm các cây bị chết. Lựa chọn cây tốt và to để trồng dặm.

    Mỗi năm cần làm cỏ 3 - 4 lần. Có thể làm cỏ bằng tay hoặc dùng thuốc trừ cỏ chọn lọc. Lần làm cỏ cuối cùng kết hợp với xới đất vun gốc. Việc vun gốc từ năm cho quả thứ 2 trở đi rất quan trọng vì lúc này các cây thường mọc cao ít tiếp xúc với đất, do đó dễ bị thiếu nước, thiếu dinh dưỡng.

    Sau khi thu hoạch xong cần tiến hành cắt bớt lá để mặt líp thông thoáng, giảm sâu bệnh.

3.5 Bón phân:

Bón phân cho cây dứa nên bón nông, bón trực tiếp xung quanh gốc và chia làm nhiều lần bón vì bộ rễ của cây dứa ăn nông và hẹp. Có thể bón phân theo rãnh hoặc gốc. Bón rãnh: Thời kỳ cây còn nhỏ, cày rạch hai bên hàng dứa, bón phân vào các đường rạch xong lấp đất lại kết hợp với vun hàng cho dứa. Bón gốc: Giữa khoảng cách 2 hàng dứa trong  hàng kép, bón phân vào gốc rồi lấp đất vun và tỉa gốc. Bón lót: Bón lót trước khi trồng đối với vụ đầu tiên, bón lót ngay sau khi thu hoạch quả đối với các vụ sau.

a. Bón lót:

Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ (phân chuồng, phân vi sinh, phân xanh, phân lân và vôi). Lượng phân hữu cơ bón là từ 10-15 tấn/ha; phân lân  (P2O5) là 30-50 kg (tương đương 200-350 kg super lân); vôi khoảng 200-500 kg/ha tùy độ chua đất. Sau vài ba năm vườn dứa phải phá đi trồng lại, có thể băm nát thân lá trộn vào đất cũng rất tốt.

Bón phân lót trước khi trồng cho dứa trồng vụ đầu và bón ngay sau mỗi vụ thu hoạch trái đối với các vụ sau.

b. Bón thúc:

- Liều lượng bón phân thay đổi tùy theo độ phì và đặc tính của từng vùng đất nhưng phải tuân thủ yêu cầu lượng phân kali luôn cao hơn gấp 2 lần phân đạm. Công thức bón: 6gN – 3g P2O5 – 12 g K2O / cây/ vụ thu hoạch. Tương đương lượng phân bón cho cây: 13 gam urea + 20 gam super lân + 20 gam sulfat kali/cây/vụ (tương đương lượng phân bón cho 1 ha/vụ:  520 kg Urê, 800 kg lân, 800 kg kali).

- Lượng phân bón chia làm 4 – 6 lần bón, cụ thể như sau:

+ Vụ đầu: Bón thúc lần 1 (2-3 tháng sau trồng): ¼ đạm và ¼ kali; bón thúc lần 2 (4-6 tháng sau trồng) : ¼ đạm và ¼ kali; bón thúc lần 3 (7-8 tháng sau trồng): ¼ đạm và ¼ kali; bón thúc lần 4 (trước khi xử lý ra hoa 2 tháng): ¼ đạm và ¼ kali.

+ Vụ thứ 2 trở đi: Sau khi thu hoạch vụ trước bón toàn bộ phân lân và 1/3 đạm, 1/3 kali; sau khi thu hoạch 2-3 tháng bón 1/3 đạm, 1/3 kali; trước khi xử lý ra hoa 2 tháng bón 1/3 đạm, 1/3 kali.

Đối với giống Cayen lượng bón cần nhiều hơn, nên ớ mức 10 gN + 5g P2O +10g K2O cho 1 cây. Mức N tối thiểu không dưới 8 g/cây (tương đương 17 gam Urê/cây).

  • Cách bón:

- Sau khi trồng 1 – 2 tháng pha nước tưới.

- Khi dứa được 3 tháng trở lên: rải phân giữa hai hàng và cách gốc 15– 20 cm đối với dứa trồng nhiều hàng/luống. Hoặc  xới nông 2 bên hàng kép cách gốc 15-20 cm, rải phân rồi lắp đất lại. Rải phân xong nên tưới nước ngay. Tránh không rải phân vào đọt dứa sẽ gây thối đọt.

Ngoài ra có thể bón phân một lần sau khi hoa nở xong để nuôi quả, lần này chỉ nên dùng phân kali và bổ sung thêm một số vi lượng, nhất là Bo (dạng axit Boric hoặc Borat). Hàng năm nên phun phân bón lá một số lần để bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các chất vi lượng.

3.6 Tưới nước và quản lý độ ẩm cho cây:

Vùng trồng dứa ở các tỉnh phía Nam thường thiếu nước xảy ra từ tháng 11 đến tháng 5. Vào các thời điểm này cần tưới nước cho cây định kỳ 3 lần/ tháng. Phương pháp tưới phun hoặc tưới thấm sao cho nước thấm sâu, không gây rửa trôi đất mặt. Quản lý ẩm độ đất bằng cách tủ gốc cho cây dứa, có thể sử dụng màng phủ nông nghiệp hay nguồn vật liệu tại chổ như: rơm rạ, kết hợp xới đất và vun gốc.

3.7 Tỉa chồi, cắt lá định chồi:

- Tỉa chồiÁp dụng trên hai loại chồi cuống và chồi ngọn.

+ Chồi cuống hình thành tồn tại cùng với quả có thể dùng tay hoặc dao tách nhẹ vào giai đoạn các mắt dứa ở đáy quả bắt đầu phát triển.

+ Chồi ngọn: Việc khống chế được thực hiện 2 tháng trước khi thu hoạch (lúc kích thước đạt 1/4 đến 1/2 kích thước quả) dùng phương pháp phá huỷ sinh trưởng bằng móc sắt hay nhỏ 2 giọt axít HCl hoặc 2 giọt dầu hoả vào chồi non.

- Cắt lá, định vị chồi: Sau khi thu hoạch vụ dứa tơ, kết hợp cắt bớt lá già cách gốc 20 – 25 cm. Chỉ để lại một chồi bên gần mặt đất nhất và mọc hướng vào bên trong hàng kép.

3.8 Xử lý dứa ra hoa trái vụ:

Thời điểm xử lý:

- Đếm số lá vào thời điểm xử lý: khi cây dứa đạt 55 lá trở lên.

- Đo chiều cao tối đa của cây dứa: dứa Cayen phải đạt 0,8-1m, Đối với dứa Queen 0,7-0,8 m.

 - Tỷ lệ ra hoa sẽ thấp nếu nhiệt độ vượt quá 290C. Tốt nhất là nên xử lý vào ban đêm hoặc sáng sớm. Cần thiết ngừng bón phân từ 1,5-2 tháng trước khi xử lý, đặc biệt là phân đạm. Trường hợp xử lý xong gặp mưa to, thì phải xử lý lại.

Hoá chất và cách xử lý:

iống dứa

Hóa chất

Nồng độ sử dụng

Số lần,cách xử lý

Điều kiện xử lý

Cayen

 Ethephon 48% + Urea (Nước lạnh 10-12oC)

500ppm+ 2%

Xử lý 2 lần (cách nhau 2-3 ngày), rót vào tim đọt 50-60 ml

Tưới nước 2-3 ngày trước khi xử lý ra hoa

CaC2 (Nước lạnh 10-12oC)

2%

Xử lý 2 lần (cách nhau 2-3 ngày), rót vào tim đọt 50-60 ml

Tưới nước 2-3 ngày trước khi xử lý ra hoa

Queen

CaC2 (khí đá)

1,5%

Xử lý 1 lần, rót vào tim đọt 50-60 ml  

 


 

V. Sâu bệnh hại

1. Sâu hại

1.1. Rệp sáp(Dysmycocus sp.)

- Hình thái và cách gây hại:

Rệp sáp rất phổ biến trên các vùng trồng dứa, chúng xuất hiện nhiều trong mùa nắng ấm, rệp sáp tấn công trên rễ, chồi, thân, lá, hoa và trái của cây dứa và rất nguy hiểm vì truyền bệnh héo khô đầu lá.


Hình ảnh cây dứa bị rệp sáp tấn công thân và trái

- Phòng trị:

+ Phòng trị kiến sống cộng sinh với rệp sáp.

+ Nhổ bỏ và tiêu hủy các cây bị hại nặng.

+ Nhúng gốc cây con trước khi trồng vào dung dịch thuốc Dinotefuran (pha 40ml trong 20 lít nước).

+ Khi rệp sáp hại dứa có mật độ 7 – 10 con/cây, có thể sử dụng thuốc hoá BVTV có một trong các hoạt chất sau: Spirotetramat, Abamectin, Emamectin benzoate, Dinotefuran, dầu khoáng Petroliumsprayoil,... Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn.

1.2. Bọ cánh cứng(Antitrogus sp.)

- Hình thái và cách gây hại:

Bọ cánh cứng sống và đẻ trứng dưới đất, ấu trùng nở ra có màu trắng dài khoảng 35 mm tấn công vào bộ rễ làm cây bị héo và dễ đổ ngã.


- Phòng trị: 

Nên xử lý đất trước khi trồng dứa, nếu có điều kiện lấy nước ngập ruộng từ 5 – 7 ngày. Có thể rải thuốc dạng hạt có hoạt chất như Chlorantraniliprole hoặc phun thuốc có hoạt chất Diafenthiuron, Chlorantraniliprole. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn


Hình ảnh nhện đỏ và cây dứa bị nhện đỏ gây hại.

1.3. Nhện đỏ(Dolichotetranycus sp.)

- Hình thái và cách gây hại:

Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ (0,25 mm), chúng thường xuất hiện trong mùa nắng, tập trung vào các bẹ lá để chích hút nhựa. Cây bị nhện tấn công thường có bộ lá kém phát triển, các lá có màu nâu xám và sần sùi và phần ngọn lá bị khô héo. Nhện đỏ còn tấn công trên trái non làm trái bị biến dạng, kém phát triển và giảm giá trị kinh tế. 

- Phòng trị:

Trong mùa nắng nên quan sát thật kỹ để kịp thời phát hiện nhện đỏ. Có thể dùng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất như: Abamectin, Azadirachtin, Matrine, Citrus oil, Azadiractin, Lufennuron, Dầu khoáng, Propargite,... Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn.

2. Bệnh hại

2.1. Bệnh héo khô đầu lá (virus Wilt)

Triệu chứng gây hại: Từ chóp lá trở xuống nửa lá chuyển sang màu đỏ nhạt và sau đó chuyển sang đỏ đậm, hai rìa lá cuốn lại từ trên chóp ngọn trở xuống, dần dần toàn lá bị héo và cây sẽ không trổ hoa. Bộ phận rễ bị thối, đầu tiên từ các rễ non và sau đó toàn bộ hệ thống rễ bị thối. Cây có triệu chứng bệnh chỉ nằm rải rác trong lô trồng dứa. Bệnh héo khô đầu lá có tác nhân do virus và được lan truyền bởi rệp sáp trong quá trình chúng chích hút trên cây dứa. Thời gian ủ bệnh có thể từ 3-8 tháng sau khi bị nhiễm. 

Phòng trị: 

+ Chọn chồi giống từ cây mẹ khoẻ mạnh không có rệp sáp và có thể xử lý nhúng chồi giống trước khi trồng bằng dung dịch có hoạt chất Dinotefuran (pha 40ml trong 20 lít nước).

+ Diệt trừ kiến để tránh lây lan.

+ Sau thu hoạch nên cắt bớt lá trên cây để tránh tạo điều kiện nóng ẩm giúp rệp sáp phát triển ở mùa tiếp theo. Trường hợp nặng, nên tiêu hủy cây bị nhiễm vì việc trị thường không có hiệu quả kinh tế.

+ Quản lý tốt rệp sáp gây hại.

2.2. Bệnh thối đọt, thối rễ (Do nấm Phytophthorasp., Fusarium)

Bệnh thối rễ dứa thường xuất hiện nhiều trong mùa mưa nơi có hệ thống thoát nước kém hoặc quá ẩm. Triệu chứng thối ngọn đầu tiên xuất hiện trên các lá ở giữa, lá có màu vàng hoặc hơi nâu, phần tâm ngọn dứa bị thối làm cho ngọn dứa bị héo. Triệu chứng thối rễ cũng tương tự như trên ngọn, điểm khác nhau là toàn bộ lá chuyển sang màu nâu và toàn bộ hệ thống rễ bị thối và dễ dàng đổ ngã.


Hình ảnh cây dứa bị thối đọt 

Phòng trị: 

+ Mặt líp trồng dứa cần được làm cao ráo, thoát nước tốt trong khi tưới. Hệ thống mương rãnh phải đảm bảo trong mùa mưa.

+ Chồi giống dứa chỉ được lấy ở các khu vực không bị bệnh gây hại, trước khi trồng chồi giống cần xử lý thuốc trừ nấm Metalaxyl, Mancozeb hoặc Fosetyl aluminium pha với nồng độ 0,2% trong 3 - 5 phút hoặc phun ướt đẫm lên bó chồi. Sau đó vớt ra để nơi thoáng mát, khoảng 24 giờ sau thì đem trồng.

+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện bệnh sớm và phun trừ bằng một số loại thuốc BVTV có hoạt chất như: Fosetyl aluminium, Metalaxyl, Mancozeb, Dimethomorph, ... Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất.

2.3. Bệnh thối trái (Do nấm Thielaviopsis paradoxa)

Nấm bệnh có thể tấn công ngay vết cắt của cuống trái làm thối cuống trái và đáy trái, nấm cũng tấn công trái bị tổn thương trong lúc vận chuyển. Nhiệt độ và ẩm độ cao là 2 yếu tố gia tăng tỷ lệ bệnh và trái dứa sẽ thối rất nhanh.


Hình ảnh trái dứa bị thối do nấm Thielaviopsis paradoxa


Phòng trị: 

+ Tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh.

+ Nên trồng chồi sạch bệnh, xử lý chồi trước khi trồng.

+ Chồi giống sau khi tách khỏi cây mẹ, bó thành bó và dựng ngược dưới nắng để nhanh khô vết thương ở gốc chồi. Không chất đống chồi lên nhau trong thời gian dài trước khi trồng.

+ Sát trùng dụng cụ thu hoạch. Nhúng mặt cắt cuống trái hoặc cả trái vào dung dịch Benzoic acid 10% hay Sodium salicilamit 1%.

 + Thu hoạch nhẹ nhàng tránh làm xây xát trái, tránh bầm giập vết cắt ở cuống   trái (cần chừa cuống trái dài để có thể cắt ngắn khi bán, tạo mặt cắt tươi ở cuống).

+ Không thu hái quả vào những lúc mưa trong mùa hè. Không để đất bám dính vào quả nhất là vào vết cắt trên cuống quả.

+ Sau thu hoạch quả không nên để dứa thành các đống lớn, xếp và vận chuyển cần nhẹ nhàng, nhất là đối với quả dứa Cayen.

2.4. Bệnh thối nhũn trái (Do vi khuẩn Erwinia carotovora)

Bệnh thường xuất hiện khi tồn trữ trái trong các kho vựa hoặc trên các trái chín ngoài đồng. Bệnh gây thối rất nhanh, trong vòng 24 giờ có thể làm thối toàn trái. Bên trong thịt trái có những lỗ hổng to, thịt rời rạc trong khi vỏ bên ngoài vẫn bình thường. Bệnh phá hoại nặng trong mùa mưa. 

Phòng trị: 

Loại bỏ ngay các trái bệnh để tránh lây lan, thu hoạch và vận chuyển tránh làm xây xát. Kho chứa phải thoáng mát, không chất dứa thành đống.


Hình ảnh trái dứa bị hư hỏng do vi khuẩn Erwinia carotovora.

2.5. Bệnh khô nâu mắt trái (Do vi khuẩn Erwinia ananas)

- Nguyên nhân: vi khuẩn xâm nhập vào trái ở giai đoạn ra hoa, thường xuất hiện trong các tháng có nhiệt độ và ẩm độ không khí cao (cuối mùa khô).




- Triệu chứng gây hại: Bệnh xảy ra trên mắt trái. Vết bệnh có màu rỉ sắt nhạt hay sậm, đôi khi có màu đen. Các mô xung quanh vùng bệnh thì cứng lại. Có thể có nhiều mắt trái bị bệnh trên trái, khi cắt trái ra thấy có những đốm nâu sẫm xen kẻ trên nền thịt trái vàng. Bệnh làm giảm sút phẩm chất trái.

Phòng trị: 

- Bố trí vụ thu hoạch vào trước cuối mùa khô.

- Phát hiện bệnh sớm và có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất như Kasugamycin, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Kasugamycin + Copper Oxychloride, Kasugamycin + Ningnanmycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,… Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất.

2.6. Bệnh thối đen (nấm Cerastomella paradoxa.)

Bệnh có thể bắt đầu từ ngoài ruộng, phát triển mạnh trong quá trình vận chuyển, có thể dẫn tới mất mát đến 25 %. Điều kiện để bệnh phát triển tốt nhất là ở nhiệt độ 21-32oC và độ ẩm cao.


Hình ảnh trái dứa bị thối đen do nấm Cerastomella paradoxa.

Phòng trị: 

Có thể ngăn ngừa bệnh bằng cách phun lên quả mới hái dung dịch Axít Benzoic trong cồn, sau đó đem đi bảo quản lạnh.

Bảng tóm tắt sâu bệnh hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và phòng trừ

Tt

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ (theo liều lượng khuyến cáo)

1

 

Cây con

Rệp sáp

Abamectin, Emamectinbenzoate, Dinotefuran, Spinosad, dầu khoáng Petroliumsprayoil.

Thối đọt

xử lý chồi giống vào dung dịch thuốc trừ nấm có hoạt chất: Metalaxyl, Mancozeb hoặc Fosetyl aluminium pha với nồng độ 0,2% trong 3 - 5 phút hoặc phun ướt đẫm lên bó chồi.

2

 

 

 

 

 

Trưởng thành

Bọ cánh cứng

-Xử lý đất trước khi trồng dứa, có thể lấy nước ngập ruộng từ 5 – 7 ngày.

- Rải thuốc dạng hạt có hoạt chất Chlorantraniliprole hoặc phun thuốc có hoạt chất Diafenthiuron, Chlorantraniliprole.

Nhện đỏ

Abamectin, Azadirachtin, Matrine, Citrus oil, Azadiractin, Lufennuron, Dầu khoáng, Propargite,...

Thối đọt, rễ

Fosetyl aluminium, Metalaxyl, Mancozeb, Dimethomorph,…

Rệp sáp

Abamectin, Emamectinbenzoate, Dinotefuran, dầu khoáng Petroliumsprayoil,...

Héo khô đầu lá

  • Chồi giống sạch bệnh
  • Quản lý tốt rệp sáp để hạn chế lan truyền bệnh

Luộc lá

Do thiếu Mg, Kali và do hạn hán kéo dài. Bón cân đối NPK, bón phân có chứa Mg (Văn Điển). Giữ ẩm trong mùa khô.

3

 

 

 

Ra hoa- trái

Thối đọt, rễ

Fosetyl aluminium, Metalaxyl, Mancozeb, Dimethomorph, ...

Rệp sáp

Abamectin, Emamectinbenzoate, Dinotefuran, dầu khoáng Petroliumsprayoil,...

Khô mắt nâu

- Bố trí vụ thu hoạch vào trước cuối mùa khô.

- Kasugamycin, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Kasugamycin + Copper Oxychloride, Kasugamycin + Ningnanmycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,…

Thối đen

Bón cân đối NPK, sau khi bón thúc chồi không bón thêm loại phân nào nữa

Chín xanh trái

Do bón quá nhiều đạm. Bón cân đối NPK, không bón phân khi trái đã lớn, thu hoạch và tiêu thụ nhanh

VI. Thu hoạch

          Thời gian thu hoạch quả tốt nhất là khi quả có màu xanh nhạt và 1 – 2 mắt ở gần cuống có màu vàng.

          Quả thu hoạch nên vận chuyển đến nhà máy chế biến hoặc các chợ tiêu thụ trong vòng 24 – 48 giờ. /.

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Lượt người xem:  Views:   941
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật