Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 06/05/2019, 10:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đu đủ
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
06/05/2019 | Trung tâm Khuyến nông
Cây Đu đủ là một trong những loại cây ăn quả nhiệt đới được ưa chuộng, mau cho quả (trồng 1 năm có thể cho quả), khả năng trồng dày (2.000 - 4.000 cây/ha) và cho 20 quả/cây/năm.

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng:

Đu đủ dễ tính có thể trồng trên đất pH từ 5,5 - 6,5. Đất trồng đu đủ phải giàu chất hữu cơ, tơi xốp, đất không hoặc ít phèn, thuận tiện cho việc tưới nước và thoát nước tốt khi có mưa lớn. Vùng đất thấp phải lên liếp, hoặc mô thật cao và đường mương thoát nước phải sâu để dễ thoát nước. 

2. Nước

Cây đu đủ cần lượng mưa khoảng 100 mm/tháng,Vào thời kỳ ra hoa, cần cung cấp lượng nước đủ mới đảm bảo năng suất. Thiếu nước vào mùa nắng, hoa sẽ ít đậu trái và trái non sẽ rụng nhiều. Tuy nhiên, nếu quá nhiều nước thì rễ, lá bị hư hại nhiều, cây phát triển chậm, yếu. Cây đu đủ thân giòn không chịu đựng được gió to.

3. Nhiệt độ

Cây đu đủ phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và ẩm, không bị che bóng mát. Đu đủ rất nhạy cảm với nhiệt độ và ẩm độ, khi nhiệt độ cao 25 - 30 0C hoặc  ẩm  độ  cao,  cây  sẽ  sinh  trưởng  kém,  ít  đậu  trái. 

Vào các tháng quá khô (tháng 2 – 4 dương lịch) thường thiếu nước, hay vào mùa mưa (tháng 6 – 10 dương lịch) thiếu ánh nắng, mưa nhiều (250 – 300 mm/tháng) gây úng rễ đều làm cây sinh trưởng kém, ít đậu trái và giảm năng suất.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả.

- Đối với cây đu đủ, việc xác định pH đất và nước rất cần thiết do nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Nếu pH đất thấp thì rễ cây sẽ gặp khó khăn trong việc hấp thu chất dinh dưỡng (điều kiện tốt nhất để cây đu đủ hấp thu chất dinh dưỡng là pH từ 5,5 – 6,5). Do đó, khuyến cáo người sản xuất cần phải phân tích phẫu diện đất để xác định tính chất đất (hàm lượng các chất dinh dưỡng, độ chua đất, nước,…) để có kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả. Đất một số khu vực tại Tây Ninh tương đối chua, thường ở mức từ 3 – 4, ở mức pH này sẽ gây khó khăn cho việc trồng

đu đủ. Do đó, trước khi trồng nên có đánh giá độ pH đất để có kế hoạch bón phân hợp lý hoặc cải tạo đất trước khi trồng.

- Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh thường có pH thấp. Do đó, khi sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước tưới, cần phải xác định độ pH của nước tưới để có hướng xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây trồng. Đối với nước có pH < 5, không nên sử dụng tưới trực tiếp cho cây mà cần thiết kế hệ thống bể chứa xử lý ằng vôi để cải thiện độ pH cho thích hợp.

* Biện pháp cải tạo độ chua của đất:

- Trong đất chua còn có nhiều lưu huỳnh ở các dạng khác nhau, trong đó có những dạng gây độc cho cây trồng. Do đó không nên bón những loại phân có chứa lưu huỳnh như đạm sunfat, …

+ Bón phân lân: Bón lân ngoài cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng còn có tác dụng hạ độc phèn rất hiệu quả. Có thể sử dụng super lân hoặc kết hợp phun phân bón lá có chứa lân.

+ Bón phân hữu cơ đã hoai mục: Bón phân hữu cơ hoai mục rất quan trọng do phân hữu cơ cũng có tác dụng cải tạo đất tơi xốp, … Ngoài ra, phân hữu cơ còn có tác dụng như lân là khi bón vào đất sẽ kết hợp với các độc chất làm hạ độc phèn giảm độc đối với cây trồng.

+ Bón vôi: Vôi bón vào đất chua có những lợi cích chủ yếu là giúp chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan hơn. Cải thiện cấu trúc đất. Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như Ca, Mg. Thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hữu ích. Trung hòa độ chua do phân bón gây ra. Giảm độc chất ảnh hưởng đến cây trồng (các kim loại nặng hòa tan mạnh khi pH thấp).

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

Ở Việt Nam có hai giống đu đủ nội địa truyền thống là giống đu đủ thịt đỏ và giống đu đủ thịt vàng. Hiện nay có nhiều giống mới được lai tạo và nhập nội chủ yếu là các giống đu đủ lai F1 với năng suất, sản lượng và chất lượng quả cao với nhiều màu sắc của thị quả khác nhau như đỏ, vàng, tím…1. Giống đu đủ Đài Loan Tím:

Đây là một trong những giống trồng được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam  đặc biệt  là vùng  ĐBSCL. Trái  đu đủ Đài  Loan Tím được  dùng để  ăn  tươi khi chín. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh vào giai đoạn đầu sau khi trồng.

Thời gian từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ  10 - 12 tuần. Cây cao trung  bình  từ  170 – 200 cm. Vị trí  mang  trái  đầu  tiên  cách mặt  đất  75 - 80 cm.  Trọng  lượng trái trung bình 1.100 g – 1.300 g.

Trái khi chín có vỏ màu vàng, thịt trái màu đỏ tía, màu đỏ nhạt hơn về phía gần 

vỏ trái. Năng  suất trung bình  từ  18 – 20 kg/cây/năm. Trong điều kiện chăm sóc tốt  có thể  đạt trên 40 kg/cây/năm. 

2. Giống đu đủ Ruột vàng Long An:

Đây  là giống địa phương, trồng  được trồng nhiều  ở các tỉnh phía Nam.  Trái đu đủ Ruột vàng Long An được chủ yếu dùng làm mức, đu đủ  sấy, làm "rau xanh' khi trái chưa chín. Khi trái chín thịt quả mềm.

Cây sinh trưởng và phát triển rất mạnh vào giai đoạn đầu và sau khi trồng.

Thời gian từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ 10 - 12 tuần. 

Cây  cao  trung  bình  từ  160 – 250 cm.Vị trí  mang  trái  đầu  tiên  cách  mặt  đất  60 – 80 cm. Trọng lượng trái trung bình rất to 1.100 g – 1.400 g. 

Trái khi chín có vỏ màu vàng. Thịt trái dày có màu vàng tươi. 

Trái có vị ngon, ngọt nhưng có yếu điểm là thịt mềm khi chín. Năng  suất trung bình từ 30 – 40 kg/cây/năm. Trong điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt trên 60 kg/cây/năm.

3. Giống Hong Kong da bông:

Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5 – 3 kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do Virus.  Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9 – 10 %.

4. Giống Hồng Phi 786:

Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80 cm. Tỷ lệ đậu trái cao, 1 mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5 – 2 Kg (có thể đạt 3 kg/trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi, hàm lượng đường 13 - 14 %, dễvận chuyển.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ

Đu đủ có khả năng trổ hoa và đậu trái quanh năm, tuy nhiên để hạn chế sâu bệnh có thể bố trí trồng đu đủ vào đầu mùa mưa (Tháng 4 - 5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (Tháng 10 - 11).

2. Chọn giống

- Cây trồng bằng hột thì dễ dàng và tiện lợi hơn vì trái đu đủ nhiều hột, mà hột lại tồn trữ dễ dàng. Hột vẫn còn nẩy mầm sau ba năm nếu đựơc bảo quản tốt. Gieo hột càng tươi càng tốt. 

- Chọn hạt: Từ trái thon dài, phát triển tốt trên cây mẹ khỏe, sạch sâu bệnh, trái phải đủ độ già trên cây, chỉ lấy những hạt đen ở giữa trái thả vào nước, vớt những hạt nổi bỏ đi, chỉ dùng những hạt chìm làm giống. 

- Xử lý hạt: Vớt những hạt nổi bỏ đi, những hạt chìm làm giống có thể ngâm xâm xấp nước 1 - 2 ngày đêm trong chậu men, sau đó đãi sạch chất keo, chất nhớt bám vào hạt, chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo. Trước khi gieo cần xử lý hạt, dùng dung dịch Tốp-xin 1% để khử mầm bệnh, tiếp theo ngâm hạt trong Cacbonat natri 1%  (NaHCO) từ 4 - 5 tiếng đồng hồ, sau đó dùng nước rửa sạch là có thể đem gieo. Để hạt trong nhiệt độ 32 - 35 0C để thúc mầm, khi hạt đã nứt nanh mới đem gieo để cây mọc đều và nhanh.

3. Ươm cây con

Gieo hạt trong bầu: Dùng túi nilon kích thước 12 x 7 cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 2 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi có thể gieo hai ba hột để trừ hao khi hột ít nảy mầm, sâu bệnh phá hại hay để tỉa bớt cây đực, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm, thường xuyên tưới nhẹ mỗi ngày 1 lần, giữ ẩm cho đất ở mức 65 – 70 %. Cần chú ý: Sau khi hạt nảy mầm thành cây thì tưới thưa hơn vì lúc này  cây chưa cần đến nước nhiều, tưới nhiều đất quá ẩm cây con dễ bị nhiễm bệnh.

4. Kỹ thuật trồng

- Hố  trồng  có  kích  thước  chiều  dài,  chiều  rộng  và  chiều  sâu  là  60 x 60 x 30 cm.  khoảng cách trồng: hàng cách hàng từ 2 - 2,5m, cây cách cây là 2 m (khoảng 2.000-2.100 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10 - 15 kg phân chuồng, 0,5 kg lân, 0,2 kg kali, 0,5 kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.

- Khi đu đủ trong bầu cao 15 – 20 cm thì đem ra trồng, chỉ lấy những cây có thân hình tháp bút, lóng ngắn kề nhau, có lá màu xanh đậm, xẻ 4 thùy, biểu hiện của cây cái. Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ ngã khi có mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc ra.   

- Khi cây cao 40 – 50 cm (2,5 - 3 tháng tuổi) phải vun gốc bón thúc bằng phân tổng hợp NPK hay DAP, hay bón 100 g urê + 300 g super lân + 50 g kali quanh gốc sau đó tưới nước cho phân tan để cây hút được chất dinh dưỡng. Khoảng 5 - 6 tháng sau khi đặt vào hố, cây đu đủ bắt đầu trổ hoa. Chỉ nên giữ lại các cây cái hay cây lưỡng tính mọc mạnh, tỉa bỏ các cây khác. Khi cây đã ra hoa, trái nên bón phân thêm một lần nữa, liều lượng phân bón như đã nêu trên. Khoảng  9 - 10 tháng sau khi trồng là đu đủ có trái và cây ra trái suốt năm. Đều quan trọng là gốc đu đủ phải luôn sạch cỏ, được tủ gốc để giữ ẩm thì đu đủ mới sai và to trái, vỏ căng, mã đẹp.

5. Chăm sóc

- Chặt bỏ và tiêu hủy những cây bị bệnh để tránh lây lan cho các cây khác. Đu đủ có bộ rễ ăn nông, cây dễ đổ ngã do gió, bão và khả năng chiụ ngập úng rất kém, vì vậy cần chú ý làm cỏ, vun gốc cho cây, chống đổ trong mùa  mưa  gió và khơi rãnh thoát nước trong mùa mưa, bão. Những nơi mùa khô kéo dài, thiếu nước cần có biện pháp tưới nước và giữ ẩm cho cây. 

- Tốt nhất là tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm. Những nơi lạnh cần bao quả. Để đạt năng suất cao cần thụ phấn bổ khuyết cho hoa. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho cây, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thếbằng cây con mới.

- Thường cứ 30 - 45 ngày làm cỏ, tỉa hoa, tỉa quả, cành lá một lần. Nên dùng đất thịt mới ở ruộng cầy ải, đất bùn ao phơi khô xếp vào xung quanh gốc, hoặc đất phù sa thật tốt. Khi cây ra quả và hoa nhiều, cần thường xuyên tỉa bớt quả èo, hoa xấu, bỏ bớt những chùm quả quá dầy. Cây đu đủ nào cao trên 3 m ở những nơi thoáng gió cần tỉa đốn ngọn (có nơi dùng nồi đất, gạch ngói úp lên ngọn đã cắt) cho cây đâm nhánh không vươn lên cao. 

- Cắm cây  cọc: Thông  thường đu đủ đều trồng thẳng, khi  gặp  gió bão  phải cắm  cọc chống gió, dùng 3 cây cọc cắm chéo hoặc 1 cây cọc cắm thẳng và cột chắc cây đu đủ vào cọc. Vào thời kỳ cây đậu trái nhiều mà gặp gió bão có thể chặt bớt một số lá già gần gốc, để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gãy.  

- Tỉa cành và hái trái: Sau khi xuống giống, nếu trên thân chính mọc ra nhánh con phải ngắt bỏ sớm. Vào thời kỳ đậu trái phải hái bỏ kịp thời những trái bị méo, bị sâu bệnh, những lá già héo chết phải ngắt bỏ luôn cuống lá.

Tưới nước: Đu đủ là loại cây cần nhiều nước nhưng rất sợ úng. Do đó cần cung cấp đầy đủ nước cho cây vào mùa nắng và thoát nước tốt cho cây vào mùa mưa hoặc khi bị úng, lũ. 

- Làm cỏ: Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh. Cần làm thường xuyên quanh gốc. 

Tủ gốc: Dùng rơm hoặc cỏ khô tủ quanh gốc vào mùa nắng để giữ độ ẩm và giữ nhiệt độ thích hợp cho cây.

7. Phân bón

- Đu đủ có quả quanh năm, vì vậy cần phải bón phân để cung cấp dinh dưỡng cho cây nuôi hoa, quả. Ngoài việc bón lót trước khi trồng, cần bón thúc các loại phân hữu cơ, đạm, lân, kali trong đó chú ý đến lân, kali. Lượng phân bón cho 1 cây như sau: 

  • Năm thứ  1: Phân chuồng 10 – 15 kg + 0,3 -0,5 kg urê + 0,5 - 1kg lân super + 0,2 - 0,3 kg kali sulfat (kali trắng).
  • Năm thứ 2: Phân chuồng 15 – 20 kg + 0,3 - 0,4 kg urê + 1 - 1,5 kg lân super + 0,3 - 0,4 kg kali sulfat.
  • Các thời kỳ bón cho cây: Sau trồng 1,5 - 2 tháng hoặc vào đầu mùa mưa (năm thứ 2) bón  toàn bộ phân chuồng, 30 % lân, 30 % đạm. Khi cây ra hoa: 30 % đạm, 30 % lân và 50 % kali. 

- Sau khi thu quả lứa đầu (sau trồng khoảng 5 - 6 tháng) bón 20 % đạm, 40 % lân, 20 % kali.  Khi bón phân cần xăm đất, rải phân kết hợp với vun gốc lấp phân cho cây. Cũng có thể chia lượng phân ra bón nhiều lần. Các đợt bón kết hợp với làm cỏ vun gốc cho cây. Bón thúc 3 lần trong năm đầu: Lần 1 sau trồng 4 - 6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số bệnh như sau:

1. Bệnh phấn trắng do nấm Oidium caricae

Triệu chứng bệnh phấn trắng:

- Dấu hiệu nhận biết dễ thấy của bệnh phấn trắng là những đốm vàng xuất hiện trên lá và thân cây, dần dần những đốm vàng này chuyển sang màu trắng bao phủ toàn bộ lá và thân cây

- Cây bị nhiễm bệnh có chung một đặc điểm Bệnh xuất hiện phá hại ngay từ thời kỳ cây con. Ban đầu trên lá xuất hiện những chòm nhỏ mất màu xanh hóa vàng, dần dần được bao phủ bởi một lớp nấm trắng dày đặc như bột phấn, bao trùm cả phiến lá (không bị giới hạn bởi gân lá). sau một thời gian lá bệnh chuyển dần từ màu xanh sang vàng lá khô cháy và dễ rụng.

- Bệnh nặng lớp phấn trắng xuất hiện trên cả thân, cành, hoa làm hoa khô và chết. Cây bị bệnh sinh trưởng yếu, phẩm chất kém.

- Bệnh xuất hiện do nấm, thường xảy ra trên những lá già dưới thấp trước tiên và không làm giảm nhiều đến năng suất trái.Tuy nhiên, nấm sẽ gây hại nặng trên vườn cây còn nhỏ, nếu gặp nóng và ẩm độ tăng cao nấm phát triển ở mặt dưới lá, tập trung gần gân lá. Vết bệnh lúc đầu xanh nhạt, úa vàng và có viền xanh đậm bao quanh. Sợi nấm sinh ra bào tử bao phủ như 1 lớp phấn trắng, thânlá, cuống hoa và trái đều bị nhiễm nấm.

Nguyên nhân gây bệnh phấn trắng cho cây:

- Cũng như đa số loại bệnh dịch trên cây khi thời tiết mưa nhiều, độ ẩm không khí tăng cao là khoảng thời gian bệnh phấn trắng xuất hiện. Nấm Sphaerotheca pannosa là nguyên nhân chính gây ra bệnh phấn trắng.

Bệnh thường phát triển nhanh khoảng đầu xuân khi có thời tiết mưa xuân và thời tiết bắt đầu ấm dần lên và khoảng đầu tháng 9 đến tháng 12 là thời điểm mà bệnh phấn trắng phát triển nhanh.

- Cách phòng bệnh phấn trắng đơn giản nhất:

  • Lên luống cao, thoát nước tốt để tránh ẩm độ cao trên ruộng.
  • Tỉa bớt cây, trồng cây với khoảng cách hợp lý để bệnh không lây lan.
  • Khi có dấu hiệu của bệnh cần cắt bỏ, tiêu hủy những cây nhiễm bệnh, tránh để bệnh bùng phát.
  • Vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ lá bị bệnh thu gom đem tiêu hủy.
  • Trồng mật độ hợp lý, không trồng quá dày dễ làm cho bệnh gây hại nặng.
  • Chọn giống tốt, sạch, có khả năng kháng bệnh.
  • Dọn sạch tàn dư cây bệnh sau khi thu hoạch.
  • Xử lý hạt giống bằng những loại thuốc đặc hiệu cho từng loại bệnh trước khi trồng.
  • Các loại thuốc phòng trừ bệnh phấn trắng có hoạt chất như: Bacillus subtilis,  Chlorothaloni, Propineb, …

2. Bệnh xoăn vàng lá


Triệu chứng bệnh xoăn vàng lá

- Tác nhân gây bệnh: Do một số loài virus gây ra. Các virus này có tên Papaya Mosaic Virus (PapMV), Papaya Ringspot Virus (PRSV)…

- Cách lan truyền và nguồn bệnh: Tác nhân gây bệnh là do virus cho nên phải có vật trung gian (các vector) mang và truyền bệnh thì bệnh mới được phát sinh và phát tán (các vector như rệp, hoặc một số loài sâu chích hút khác…).

- Rệp mang virus từ cây bị bệnh rồi truyền sang cây khỏe. Con người cũng có thể làm virus lây lan trong quá trình trồng và chăm sóc. Trong tự nhiên, virus có thể tồn tại trong nhiều loại cây hoang dại, … Chính vì vậy nguồn bệnh trong tự nhiên rất lớn, nên khả năng lây lan phát dịch luôn thường trực.

Triệu chứng bệnh và tác hại:

- Tùy loài virus, tùy thời tiết và giai đoạn cây bị nhiễm mà thời gian phát bệnh và triệu chứng sẽ khác nhau.

- Thông thường, khi bị nhiễm virus thì cây thường bị lùn, sinh trưởng và phát triển đều kém, lá có màu không đồng nhất vàng xanh lẫn lộn, bị khảm, có thể bị nhỏ, bị nhăn nheo, biến dạng, …

- Khi một cây bị nhiễm nhiều loài virus thì triệu chứng hỗn hợp. Khi bị nhiễm nặng thì cây ngừng lớn, có ra hoa nhưng không đậu quả, hoặc đậu trái rất nhỏ, biến dạng và bị sượng.

- Giai đoạn cây nhỏ, nếu bị nhiễm virus càng sớm, thì thời gian ủ bệnh càng ngắn và cây phát bệnh càng sớm. Khi cây đã lớn bị nhiễm, do sức đề kháng cao hơn, nên cây phát bệnh muộn hơn.

- Cây phát bệnh càng sớm thì tác hại càng lớn. Cây bị bệnh thường lùn và lá bị xoăn, khảm vàng nên khả năng quang hợp giảm, làm giảm hoa trái, vì vậy làm giảm năng suất và chất lượng. Nếu cây bị bệnh sớm sẽ không cho thu hoạch.

Biện pháp phòng trừ:

- Phòng trừ: Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc đặc trị. Việc phòng trừ bệnh virus cho đu đủ khá khó khăn so với cây trồng khác. Tuy nhiên, chúng ta có thể quản lý bệnh khá hữu hiệu bằng cách quản lý con đường lây lan. Để quản lý được bệnh, chúng ta phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp mới đạt kết quả mong muốn.

- Các biện pháp đó là: 

  • Vệ sinh chặt bỏ cây đu đủ già trong vườn, vệ sinh tàn dư những cây đu đủ hoang dại… Nếu được thì tránh trồng gần vườn đu đủ ở giai đoạn lớn, đặc biệt là giai đoạn già.
  • Vệ sinh các loài cây dại quanh bờ, đặc biệt lưu ý kể từ giai đoạn đu đủ trong vườn ươm. Sử dụng các giống đu đủ kháng sâu chích hút, và kháng virus. Tránh làm xây xát cây trong quá trình trồng và chăm sóc.
  • Nhổ và tiêu huỷ các cây bị bệnh, không vứt cây bệnh bừa bãi.
  • Tránh bón thừa phân đạm, tăng cường các loại vi lượng bằng cách sử dụng phân bón lá.

3. Bệnh thán thư:  Do nấm (Collectotrichum gloeoporioides-Deuteromycetes):

Bệnh thán thư gây hại trên quả

Triệu chứng:

Bệnh gây hại chủ yếu trên lá và quả, đôi khi có trên cuống quả và thân cây. Trên lá, vết bệnh lúc đầu là những đốm tròn màu vàng nhạt, về sau vết bệnh lớn lên có màu nâu, trên đó có các đường vân vòng đồng tâm. Lá bệnh nặng cháy từng mảng lớn.Trên quả vết bênh là những đốm tròn hơi úng nước, lúc đầu nhỏ màu xanh tái, sau lớn lên có màu nâu, lõm vào thịt quả. Nhiều vết bệnh liền nhau thành vết lớn và thường thấy có tơ nấm trắng ở xung quanh, chỗ vết bệnh bị thối và có màu nâu tối. Nấm có thể gây hại từ khi quả còn xanh, nhất là khi chín thì quả thối nhanh hơn. Cuống quả bị bệnh cũng hóa nâu và thối, quả rụng. Trên thân vết bệnh màu nâu, hơi lõm . Nấm phát triển trong phạm vi 6 - 32 0C, thích hợp nhất ở 23-25 0C. Nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh trong đất. Thời tiết ấm áp và mưa nhiều thuận lợi cho bệnh phát triển gây hại.

Phòng trừ:

- Trồng cây phải thông thoáng, có ánh nắng, đất thoát nước tốt.

- Tiêu hủy những bộ phận bị bệnh.

- Thường xuyên kiểm tra, phát hiện bệnh và phun thuốc có chứa hoạt chất như: Iprodione, Propineb, ...

4. Bệnh đốm vòng (Papaya Ringspot Virus)

- Trên lá: Ban đầu là các vết đốm sáng vàng lợt, lá hơi co lại, sau đó vết bệnh phát triển dần thành các đốm vòng tròn 

- Trên quả: Lúc đầu vết bệnh chỉ là những đốm thâm xanh sẫm, sau đó phát triển dần thành những đốm vòng tròn hoặc bầu dục, có kích thước khoảng 0,5 - 1 cm

Biện pháp phòng trừ:

- Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc đặc trị. Một số côn trùng chích hút trung gian làm lây virus: Việc phòng trừ bệnh virus cho đu đủ khá khó khăn so với cây trồng khác. Để quản lý được bệnh cần phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp mới đạt kết quả mong muốn.

- Không trồng đu đủ liên tục nhiều vụ, nhất là trên vùng đất trước đó đã bị nhiễm bệnh.

- Không trồng xen đu đủ với các cây cà, ớt, đậu bắp, bầu bí, dưa, để không bị lây bệnh hoặc dẫn dụ rầy phá hại. Thường xuyên làm sạch cỏ dại trong vườn đu đủ.

- Vệ sinh chặt bỏ cây đu đủ già trong vườn, vệ sinh tàn dư những cây đu đủ hoang dại, ... Nếu được thì tránh trồng gần vườn đu đủ ở giai đoạn lớn, đặc biệt là giai đoạn già.

- Vệ sinh các loài cây dại quanh bờ, đặc biệt lưu ý kể từ giai đoạn đu đủ trong vườn ươm. Sử dụng các giống đu đủ kháng sâu chích hút, và kháng virus. Tránh làm xây xát cây trong quá trình trồng và chăm sóc.

- Nhổ và tiêu huỷ các cây bị bệnh, không vứt cây bệnh bừa bãi.

- Hạn chế bón nhiều phân đạm, bón thêm kali và vôi, tăng cường các loại vi lượng bằng cách sử dụng phân bón lá để tăng khả năng chống chịu của cây.

- Theo dõi thật chặt chẽ mật độ các loại sâu chích hút, đặc biệt là mật độ rệp để phòng trừ kịp thời. Chủ động phòng ngừa rệp giai đoạn vườn ươm, giai đoạn cây còn nhỏ cho đến giai đoạn có hoa (vì đây là giai đoạn quyết định tỷ lệ cây bị bệnh và mức độ bệnh nặng hay nhẹ).

- Tiêu diệt côn trùng môi giới hạn chế bệnh đốm vòng. Khi thấy rầy mềm xuất hiện có thể phun các loại thuốc có chưa hoạt chất như: Azadirachtin, Artemisinin, Cypermethrin, ...

5. Rệp sáp

Rệp sáp phát triển mạnh trong mùa nắng nóng. Rệp sáp là một loại côn trùng đa thực vì ngoài cây đu đủ chúng còn gây hại trên rất nhiều loại cây ăn trái khác như ổi, mãng cầu, cam, quýt, chanh, bưởi,… vì thế việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp khá nhiều khó khăn do nguồn thức ăn của chúng rất phong phú. Do cơ thể của nhóm rệp sáp được phủ bởi sáp nên sử dụng thuốc hóa học để phòng trị khó khăn và việc sử dụng thuốc không đúng có thể ảnh hưởng đến thiên địch của rệp sáp trong tự nhiên.

Biện pháp phòng trị:

- Để hạn chế tác hại của rệp sáp cần áp dụng nhiều biện pháp và phải thực hiện đồng thời trên các loại cây ký chủ của rệp trong vườn.

- Không nên trồng xen trong vườn những cây dễ nhiễm rệp sáp như sua đũa, bình bát, …

- Dùng máy bơm nước có áp suất cao, tia nước mạnh xoáy vào những chổ bị rệp bám sẽ rửa trôi bớt rệp.

- Trong điều kiện tự nhiên, có nhiều loài thiên địch tấn công, phổ biến nhất là ong ký sinh thuộc giống Anagyrus và các thiên địch ăn mồi như kiến vàng, bọ rùa,…

- Thường xuyên dọn dẹp vệ sinh vườn, không trồng mật độ quá dày để tạo thông thoáng vườn cây.

- Phải thường xuyên kiểm tra đu đủ nhất là giai đoạn ra hoa, trái non để kịp thời phát hiện rệp sáp khi mật số còn thấp và chưa phát tán rộng sẽ dễ xử lý. Một số thuốc hóa học có hiệu quả trên rệp sáp có hoạt chất như: Celastrus angulatus, Azadirachtin, Celastrus angulatus, …

- Lưu ý: vì rệp sáp có một lớp sáp bao phủ bên ngoài nên khi phun phải thật kỹ hoặc có thể pha thêm chất bám dính vào dung dịch thuốc để thuốc phun bám được vào lớp sáp thì mới đạt hiệu quả cao.

 

Rệp sáp trên lá vè quả đu đủ

 6. Nhện đỏ

 Đặc tính nhện đỏ:

- Con nhện đỏ rất nhỏ mắt thường không thấy đuợc, muốn thấy chúng phải dùng kính lúp. 

- Nhện đỏ phát triển mạnh lúc trời nắng ráo, hay nói cách khác là mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm).

- Thân hình yếu ớt, nhưng phát triển rất nhanh.

- Đặc điểm gây hại: Nhện đỏ hại cây bằng cách ăn biểu bì của lá, hút nhựa cây làm cây yếu đi và chết. 

Cách nhận biết có nhện đỏ:

- Thông thường, nhện đỏ thích núp duới mặt lá cây và sống trên đọt non của cây. Bằng cách lật mặt duới lá cây và coi bằng kính lúp sẽ thấy những con nhỏ li ti đang bò giống như con nhện.

- Ta có thể nhìn trên đọt cây lúc có ánh sáng xuyên qua, ta thấy có tơ của nhện bao xung quanh ngọn cây và có những con li ti như đầu kim di động, đó là nhện đỏ.

- Khi mà trên rau có nhiều tơ trên đọt là lúc này đã có rất nhiều nhện đỏ trên cây. 

- Nếu không có kính lúp, có thể lấy tay vuốt mạnh dưới mép lá thì ta thấy có nước màu vàng, đó là cây có thể đã có nhện đỏ cần khám xét lại thật kỹ để chữa trị. Dùng một tờ giấy trắng để dưới sát cành cây lắc, rung mạnh rồi hứng đem ra chỗ có ánh sáng mà coi sẽ thấy.

Đặc điểm gây hại của nhện đỏ:

- Nhện di chuyển rất nhanh và nhả tơ mỏng bao thành một lớp ở mặt dưới lá nên trông lá có màu trắng dơ do lớp da để lại sau khi lột cùng với bụi và những tạp chất khác. Chúng sinh sống và gây hại ở mặt dưới lá, cả ấu trùng và thành trùng (nhện trưởng thành và nhện non) nhện đỏ đều ăn biểu bì và chích hút mô dịch của lá cây khi lá bước vào giai đoạn bánh tẻ trở đi làm cây bị mất màu xanh và có màu vàng, làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lỗ (những chấm trắng vàng rất dễ nhận ra trên mặt lá), còn ở mặt dưới lá có những vết trắng lấm tấm giống bụi cám, nhìn kỹ thấy trên đó có lớp tơ rất mỏng.

- Khi nhện hại nặng lá cây bị phồng rộp sau đó cằn lại, vàng, thô cứng và sau cùng lá sẽ bị khô đi. Màu vàng của lá dễ nhìn thấy nhất là ở mặt dưới lá, làm giảm phẩm chất và năng suất trái. Khi mật số cao, cả cành non cũng bị nhện đỏ tấn công, cành cũng trở nên khô và chết.

- Nhện đỏ gây hại làm cho trái bị vàng, sạm và nứt khi trái lớn. Hoa bị hại có thể bị thui, rụng. Nhện còn có thể tuyền bệnh virus cho cây.

- Nhện đỏ phát triển trong điều kiện khô hạn trong mùa nắng, cây bón nhiều đạm. Do có vòng đời ngắn nên thường mật số tăng lên rất nhanh và gây hại nghiêm trọng.  Chúng lan truyền nhờ gió và những sợi tơ, mạng của chúng.

Biện pháp phòng trị nhện đỏ:

- Bón phân dứt điểm thành từng đợt và phải bón cân đối giữa đạm, lân và kali. Nếu vườn bị nhện gây hại nhiều thì nên tăng cường bón thêm phân lân và kali.

- Tỉa bỏ những cành, lá không cần thiết bên trong tán cây để tán cây luôn luôn được thông thoáng.

- Tưới nước giữ ẩm cho cây trong mùa khô.

- Vệ sinh đồng ruộng, hủy triệt để tàn dư cây trồng.

- Tưới phun với áp lực mạnh khi mật độ nhện cao.

Biện pháp sinh học, tự nhiên: 

- Thiên địch có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế mật số nhện đỏ như:

- Nhện đỏ Galandromus (Metaseiulus) occidentalis, loài này có cùng kích thước với nhện gây hại nhưng thiếu các chấm và có màu vàng nhạt đến màu đỏ nâu, khả năng diệt nhện của loài này không cao lắm.

- Bù lạch 6 chấm Scolothrips sexmaculatus có 3 chấm màu sậm trên mỗi cánh trước, bù lạch bông Frankliniella occidentalis có màu từ vàng chanh sáng đến nâu sậm.

- Bọ rùa Stethorus sp.

- Bọ xít nhỏ Orius tristicolor và Chysoperla carnea cũng là thiên địch của nhện đỏ.

- Bọ trĩ ăn thịt.

- Các loài thiên địch này thường khống chế nhện đỏ dưới ngưỡng gây hại nên không cần sử dụng thuốc hóa học để trừ nhện đỏ.

- Chú ý việc dùng thuốc hóa học nhiều dễ gây bộc phát nhện đỏ, do tiêu diệt thiên địch của nhện đỏ và nhện đỏ có khả năng quen và kháng thuốc cao.

Biện pháp hóa học:

- Nhện đỏ rất khó trị vì rất nhỏ và thường sống ở gần gân lá, nơi thuốc trừ sâu rất khó tiếp xúc, hơn nữa, nhện tạo lập quần thể rất nhanh nên mật số tăng nhanh và nhiều. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nhện nhưng phải để ý đến quần thể thiên địch.

- Phun các thuốc có chứa hoạt chất như: Clofentezine, Diafenthiuron, Emamectin benzoate Avermectin + Avermectin, …

- Lưu ý cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý để bảo vệ thiên địch. Tưới nước đầy đủ trong mùa nắng để làm tăng ẩm độ vườn. Chú ý dùng khi dùng thuốc cần luân phiên thuốc để tránh nhện hại nhờn thuốc.





V. THU HOẠCH: 

Đu đủ sau khi trồng 5 - 6 tháng có thể thu hoạch quả xanh làm rau xanh, thu quả chín sau trồng 9 - 10 tháng. Cây đu đủ có thể thu hoạch quanh năm. Khi quả chín vàng (hay đỏ) từ 2/3 quả trở lên, trên quả đã xuất hiện các sọc vàng nhạt, lúc này vật chất khô trong quả đã tích lũy tối đa để khi chín, quả đạt chất lượng thương phẩm tốt. Khi thu hái trái (cây cao dùng  thang) nên vặn từng quả một nhẹ nhàng. Quả chín đem xếp vào sọt, mỗi lớp quả có một lớp rơm. Trên cùng phủ kín rơm hay bao tải để 3 - 5  ngày vàng đều và sờ tay hơi mềm là có thể lấy ra ăn hay đem bán. Mỗi cây có thể cho thu hoạch trung bình 70kg quả, cây cho thu hoạch caocó thể đạt 100 – 120 kg quả/cây./.

Trung tâm Khuyến nông


Lượt người xem:  Views:   901
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật