Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 06/05/2019, 10:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mãng cầu xiêm
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
06/05/2019 | Trung tâm Khuyến nông
Mãng cầu xiêm thích hợp với đất phù sa nhiều thịt, giàu chất hữu cơ, giữ độ ẩm ổn định và thoát nước tốt, pH tốt nhất từ 4,5 – 6,5. Tầng canh tác của đất để trồng mãng cầu xiêm không dày vì rễ ăn nông. Tuy nhiên đất pha sét, pha cát cũng chịu được. Hiện nay, cây mãng cầu xiêm ghép lên gốc bình bát nên có thể trồng ở những vùng bị ngập úng, nhiễm mặn, phèn.

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

- Mãng cầu xiêm thích hợp với đất phù sa nhiều thịt, giàu chất hữu cơ, giữ độ ẩm ổn định và thoát nước tốt, pH tốt nhất từ 4,5 – 6,5. Tầng canh tác của đất để trồng mãng cầu xiêm không dày vì rễ ăn nông. Tuy nhiên đất pha sét, pha cát cũng chịu được.

- Hiện nay, cây mãng cầu xiêm ghép lên gốc bình bát nên có thể trồng ở những vùng bị ngập úng, nhiễm mặn, phèn.

2. Nước     

Lượng mưa tối thích cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm.Ở vùng đất thấp do tập quán trồng mãng cầu xiêm cặp sát mương nên lượng mưa không thành vấn đề. Tuy nhiên, nếu có nước tưới cây sẽ cho năng suất cao và chủ động việc làm quả trái vụ.

3. Ánh sáng

 Khi còn nhỏ chúng cần che nắng. Nhưng khi cây lớn hễ bị rợp hay không tỉa thoáng hoa quả sẽ ít. Mãng cầu xiêm không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ.

4. Nhiệt độ

            Mãng cầu xiêm là cây nhiệt đới, ưa khí hậu nóng, ẩm. Yêu cầu về nhiệt độ cao, không chịu lạnh dù là tương đối. Nhiệt độ dưới 5 0C sẽ làm lá và các cành nhỏ hỏng và nhiệt độ dưới 30C thì cây có thể chết. Vì vậy, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng là 21 – 30 0C. Cây đòi hỏi về lượng mưa và ẩm độ cao.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần có cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên để lựa chọn các vùng đất thích hợp cho từng loại cây trồng.

- Đối với cây mãng cầu xiêm, yêu cầu về đất đai là quan trọng nhất. Để sinh trưởng phát triểntốt cây mãng cầu xiêm phù hợp nhất là đất phù sa nhiều thịt, giàu chất hữu cơ, thoát nước tốt, pH tốt nhất từ 4,5 – 6,5. Tuy nhiên đất đai ở Tây Ninh chủ yếu là đất xám bạc màu, pH thấp, đất nghèo dinh dưỡng. Vì vậy, cần tiến hành phân tích đất để có cơ sở tăng cường bón phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh giúp cải thiện đất trồng và bón vôi tăng pH cho đất để phù hợp cho cây mãng cầu xiêm sinh trưởng, phát triển tốt.

- Việc xác định pH đất và nước rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nếu pH thấp dẫn đến cây khó có thể hấp thu dinh dưởng, làm cho rể cây không phát triển…Do đó, độ chua của đất là yếu tố môi trường chính hạn chế sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng. Trong canh tác, trước khi gieo trồng, điều đầu tiên cần quan tâm là hiệu chỉnh pH của đất thích hợp với điều kiện sinh trưởng và dinh dưỡng của cây trồng.

- Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh thường có pH thấp. Do đó, khi sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước tưới, cần phải xác định độ pH của nước tưới để có hướng xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây trồng. Đối với nước có pH < 5, không nên sử dụng tưới trực tiếp cho cây mà cần thiết kế hệ thống bể chứa xử lý ằng vôi để cải thiện độ pH cho thích hợp.

* Biện pháp cải tạo độ chua của đất:

  • Trong đất chua còn có nhiều lưu huỳnh ở các dạng khác nhau, trong đó có những dạng gây độc cho cây trồng. Do đó không nên bón những loại phân có chứa lưu huỳnh như đạm sunfat.
  • Bón phân lân: bón lân ngoài cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng còn có tác dụng hạ độc phèn rất hiệu quả. Có thể sử dụng super lân hoặc kết hợp phun phân bón lá có chứa lân.
  •  Bón phân hữu cơ đã hoai mục: bón phân hữu cơ hoai mục rất quan trọng do phân hữu cơ cũng có tác dụng cải tạo đất tơi xốp, … Ngoài ra, phân hữu cơ còn có tác dụng như lân là khi bón vào đất sẽ kết hợp với các độc chất làm hạ độc phèn giảm độc đối với cây trồng.
  • Bón vôi: Vôi bón vào đất chua có những lợi cích chủ yếu là giúp chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan hơn. Cải thiện cấu trúc đất. Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như Ca, Mg. Thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hữu ích. Trung hòa độ chua do phân bón gây ra. Giảm độc chất ảnh hưởng đến cây trồng (các kim loại nặng hòa tan mạnh khi pH thấp).

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

- Giống mãng cầu xiêm Thái: Có xuất xứ từ Thái Lan, mãng cầu xiêm Thái là giống mãng cầu xiêm mới có tốc độ phát triển nhanh, lá có bảng dài, xanh đậm, cây cao tối đa 4 – 6 m, tàn trong 2 m. Đây là cây cóhoa lưỡng tính, có nhị đực và nhị cái chín cùng một thời điểm "cùng pha" nên khả năng tự thụ phấn, tỷ lệ đậu trái cao, có thể cho trái quanh năm. Cây chịu được vùng nước mặn, phèn, hạn, chua nếu trồng từ cây ghép gốc bình bát. Cây có sức đề kháng cao, ít kén đất, có thể trồng ở bất cứ nơi nào, ngoại trừ khi bị úng. Trọng lượng trái khi thu hoạch khoảng 2 – 4 kg; khi chín, da có màu vàng xanh, sáng bóng, thịt trắng, nhiều xơ, mùi vị thơm nhẹ, chất lượng vừa ngọt vừa chua.

- Giống mãng cầu xiêm truyền thống hay còn gọi là mãng cầu xiêm Ta: thích hợp trồng với khí hậu nhiệt đới, tuy nhiên trồng được ở cả vùng nóng, vùng nóng có mùa đông lạnh và vùng Á nhiệt đới. Cây ưa sáng và không cần che nắng, thích hợp trên đất phù sa, đất nhiều vôi và magiê sẽ cho trái to và ngọt hơn. Cây cao tối đa 6 – 8 m. Mãng cầu xiêm Ta cũng có hoa lưỡng tính nhưng nhị đực chín trước, nhị cái chín sau "lệch pha" nên không thụ phấn được, cần phải sử dụng nhị đực thụ phấn với nhụy cái thì hoa mãng cầu xiêm mới thụ phấn, đạt năng suất.Trọng lượng trái mãng cầu xiêm Ta nhỏ hơn mãng cầu xiêm thái.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ: Mãng cầu xiêm trồng được quanh năm nhưng thường được trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5 dương lịch) để đỡ tốn công tưới nước cho cây ở giai đoạn cây con.

Mật độ: Có thể trồng khoảng cách 3 x 3 m hoặc 3 x 4 m tương đương mật độ trồng là 800 – 1.100 cây/ha.

2. Chọn giống

- Tùy theo điều kiện đất đai có thể trồng bằng hạt, chiết hoặc ghép.

- Nếu đất nhiễm mặn, phèn hoặc vùng đất thấp thường ngập nước nên chọn cây ghép gốc bình bát vì bình bát cùng họ với mãng cầu, mãng cầu ghép với bình bát trái to nhưng độ ngọt thấp hơn.

- Nếu ghép mãng cầu xiêm lên gốc bình bát trong vườn ươm: Gốc ghép bình bát: Hạt bình bát được ươm trong bầu, thời gian tạo gốc ghép từ 6 – 7 tháng thì tiến hành ghép. Chiều cao từ gốc bình bát đến điểm ghép là 20 – 35 cm. Chú ý trong quá trình chăm sóc cây ghép không được di chuyển cây, tránh cây bị đứt rễ.

- Nếu ghép mãng cầu xiêm lên gốc bình bát ngoài vườn: Gốc ghép bình bát: gieo hạt tại vị trí muốn trồng, thời gian tạo gốc ghép từ 5 – 6 tháng tiến hành ghép. Chiều cao từ mắt ghép đến gốc là 35 cm. Nếu ghép lần 1 không thành công, nên chăm sóc cho cây phát triển để tiếp tục ghép. Hạn chế di dời và làm đứt rễ cái bình bát.

3. Kỹ thuật trồng

a. Chuẩn bị hố trồng

Tạo hố trồng mãng cầu xiêm được thực hiện vào mùa nắng. Hố trồng có kích thước 30 x 30 x 30 cm hoặc 40 x 40 x 40 cm. Để cây sinh trưởng phát triển tốt ngay từ đầu, sau khi đào hố tiến hành bón lót15 – 20 kg phân chuồng hoai mục + 1438 g Super lân + 1,5 kg vôi vào mỗi hố trồng.

b. Cách trồng

Đối với trồng hạt bầu trong vườn ươm: tháo bầu cây giống đặt cây giữa hố, lấp đất quanh bầu, tạo mô cao khoảng 10 cm. Hằng năm nên bồi mô theo bán kính tán lá. Dùng cây che chắn để hạn chế đổ ngã và che nắng. Đối với cây ghép cũng tiến hành tương tự.

c. Tỉa cành, tạo tán

- Được thực hiện ở thời điểm đầu mùa mưa.

- Tỉa cành tạo tán nhằm tăng diện tích lá hữu hiệu cho quang hợp của bộ lá; duy trì sức sống tốt của cây, bảo đảm sự cân bằng sinh trưởng và kết trái; để thuận lợi trong việc chăm sóc cây cũng như thụ phấn bổ sung nên khống chế chiều cao của cây cao 2,5 – 3 m.

- Hàng năm cần cắt ngọn để khống chế chiều cao của cây, tỉa thưa cành trong tán và tỉa bỏ cành ngoài tán từ 0 – 40 cm để cây có bộ tán thông thoáng cân đối, không giao tán.

- Bên trong tán cần tỉa bỏ các cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành không có khả năng mang trái.

- Sau khi cắt cành, nhánh cần quét phủ lên bề mặt vết cắt bằng keo dán gỗ kết hợp với thuốc chứa hoạt chất như Mancozeb hay Thiophanate – Methyl pha theo tỷ lệ 100 ml keo và 1 muỗng canh thuốc. Dao hay kéo cắt cần được xử lý sau mỗi lần cắt cành với thuốc tẩy gia dụng Javel 25 %.

4 Bón phân

a. Giai đoạn kiến thiết cơ bản

Năm đầu: Lượng phân bón cho cây mãng cầu xiêm như sau: (160g N + 230 g P2O5 + 100 gK2O+ 1,5 kg vôi + 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục)/cây, tương đương (348 g urê + 1438 g Super lân + 183 g Kali Clorua + 1,5 kg vôi + 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục)/cây.

Bón lót: Trước khi trồng bón 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục + 1438 g Super lân + 1,5 kg vôi vào mỗi hố trồng.

Bón thúc:

Đợt 1 (3 tháng sau trồng): Bón 1/4 phân urê.

Đợt 2 (6 tháng sau trồng): Bón 2/4 phân urê + 1/2 phân Kali Clorua.

Đợt 3 (9 tháng sau trồng): Bón 1/4 phân urê + 1/2 phân Kali Clorua.

Năm 2: Lượng phân bón cho cây mãng cầu xiêm tăng lên, bón (280 g N + 310 g P2O5+ 270 g K2O)/cây,tương đương (609 g Urê + 1938 g Super lân + 450 g Kali clorua)/cây.

Đợt 1(Trước ra hoa): Bón (200 g Super lân + 100 g Kali clorua)/cây.

Đợt 2 (Giai đoạn đậu trái và phát triển trái): Bón 700 g NPK (20 – 20 – 15)/cây, bón mỗi tháng/lần.

Đợt 3 (Giai đoạn trước khi thu hoạch 1 tháng): Bón phân bón lá 7 – 5 – 44 lượng 2g/cây.

Cách bón: Bón theo hình chiếu tán lá, sau đó xới đất lấp phân lại hoặc rải phân đều dưới tán cây cách gốc 0,5 m tưới nước đều giúp phân tan đều và thấm sâu vào đất.

b. Giai đoạn kinh doanh

- Lượng phân bón cho mãng cầu xiêm có hiệu quả ở giai đoạn cây 5 năm tuổi là : (700 g N + 750 g P2O5 + 600 g K2O + 20 kg phân chuồng hoai mục)/cây. Tùy vào tuổi cây mà lượng phân có thể giảm từ 10 đến 20 % cho thích hợp. Lượng phân được chia thành 2 vụ trái tập trung của cây trong năm, mỗi vụ bón 50 % lượng phân trên.

Lần 1: Tiến hành bón sau khi tỉa cành tạo tán lượng phân được bón: 20 % N + 20 % P2O5+ 10 % K2O + 50 % phân chuồng hoai mục, tương đương (300 g Urê + 940 g Super lân + 100 g Kali clorua + 10 kg phân chuồng hoai mục)/cây. Ở giai đoạn này có thể kết hợp phun các loại phân bón lá có hàm lượng đạm cao như 30 – 10 – 10, 40 – 4 – 4,...

Lần 2: Sau khi bón phân lần 1 được 1,5 tháng tiến hành bón lần 2 ở giai đoạn trước ra hoa. Giai đoạn này cần tỉa bỏ những cành vượt trong tán. Giai đoạn này bón ít đạm, nhiều lân và kali sẽ hạn chế cây ra lá non, đồng thời giúp cây phân hóa mầm hoa. Lượng phân bón là 10 % N + 20 % P2O5+ 20 % K2O, tương đương (150 g Urê + 940 g Super lân + 200 g Kali clorua)/cây. Ở giai đoạn này có thể kết hợp phun các loại phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao như 0 – 52 – 34, 6 – 30 – 30,...

Lần 3: Sau khi đậu trái 1 tháng bón: 10 % N + 5 % P2O5+ 10 % K2O,tương đương (150 g Urê + 235 g Super lân + 100 g Kali clorua)/cây.

Lần 4: 1,5 tháng sau khi bón lần 3, tiến hành bón 10 % N + 5 % P2O5+ 10 % K2O,tương đương (150 g Urê + 235 g Super lân + 100 g Kali clorua)/cây.

5. Tưới nước và quản lý cỏ dại

- Sau khi trồng cần tưới nước giữ ẩm cho cây, tưới mỗi ngày 1 lần trong vòng 2 tháng mùa khô. Trong mùa khô tưới 2 – 3 lần/tuần, đối với mãng cầu xiêm ghép gốc bình bát có thể tưới được nước ở độ mặn dưới 11 %.

- Đối với mãng cầu xiêm việc cỏ dại không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng của cây, nếu trồng cây giống bằng hạt thì cần quản lý cỏ dại tốt ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, trường hợp ghép gốc bình bát sức chống chịu tốt cỏ dại không ảnh hưởng nhiều lúc cây trưởng thành.

6. Thụ phấn bổ sung

a. Chọn hoa để lấy phấn

Chọn những hoa mọc ở đầu cành nhỏ, hoặc hoa có kích thước nhỏ để lấy phấn. Quan sát thấy những hoa có 3 cánh trong nở hơi lớn, hé mở 1 cánh ra thấy các tiểu nhị có màu hơi đen nhạt, các tiểu nhị bắt đầu tách rời nhau thì có thể cắt để lấy phấn. Cắt hoa lấy phấn vào buổi chiều, để nguyên cả hoa vào hộp đậy kín cho khỏi mất nước. Sáng hôm sau bẻ bỏ hết cánh hoa, rũ nhẹ hoa trên một tờ giấy để tách tiểu nhị ra rồi dùng cọ hay que quấn bông gòn chà nhẹ trên tiểu nhị để tách hạt phấn ra khỏi túi phấn, thường một hoa lấy phấn đủ để thụ phấn cho 6 – 8 hoa. Hạt phấn có màu vàng vàng, được trút vào 1 cái ly nhỏ cho tiện đem ra vườn.

b. Chọn hoa để thụ phấn

Chọn những hoa mọc trên thân chính, cành lớn và có cuống hoa to, kích thước lớn không có sâu bệnh để thụ phấn. Khi thấy 3 cánh hoa trong he hé tức là nướm đã già, mở nhẹ 3 cánh trong để quan sát nếu thấy nướm nhụy cái tươm mật thì tiến hành thụ phấn.

c. Cách thụ phấn

Kẹp chặt cuống hoa giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa, dùng ngón cái mở nhẹ một cánh ra, dùng que có quấn bông gòn chấm lên hạt phấn rồi phết nhẹ lên nướm nhụy cái nhẹ nhàng và đều tay, lập lại 3 lần như thế, trái sẽ phát triển đồng đều không bị méo mó. Vài ngày sau,quan sát nếu thấy cuống hoa thụ phấn vẫn xanh và lớn hơn là được; nếu có màu đen là thất bại, nó sẽ héo và rụng. Quả phát triển từ hoa được thụ phấn bằng tay thường to và nở đều.

7. Ngăn ngừa hiện tượng trái chín non

- Mãng cầu xiêm thường bị hiện tượng rụng trái non vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa, nhưng chủ yếu tập trung vào thời điểm sau cơn mưa lớn đầu mùa, 3 – 5 ngày sau hiện tượng trái chín non xuất hiện, kéo dài 10 – 15 ngày sau đó.

- Để hạn chế hiện tượng trái chín non cần phun NAA ở nồng độ 20 ppm (tương đương 2 ml HQ 301/lít nước), phun 2 lần, mỗi lần phun cách nhau 7 ngày ở thời điểm sau khi đậu trái 2 tháng hay trái có đường kính từ 5 – 6 cm. Hay bón 200 – 300 g Ca(NO3)2/cây để hạn chế hiện tượng trái chín non.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Sâu đục trái (Conogethes punctiferalis Guen.)

Đặc điểm gây hại:

Sâu hóa nhộng tại nơi tiếp xúc giữa các trái với nhau hoặc gần cuống trái. Trái lớn sâu không đục vào bên trong mà chỉ tấn công phần thịt trái dưới vỏ trái làm trái mất giá trị thương phẩm (tại vị trí sâu tấn công, trái sẽ bị méo, phát triển không đồng đều và bị thối khô đen). Thường thì có khoảng 2 con/trái, tuy nhiên khi mật số cao có thể phát hiện 6 – 12 con/trái. Hóa nhộng bằng cách nhả tơ kết phân thành một lớp kén mỏng và hóa nhộng trong kén trên cuống trái.

Phòng trừ:

- Thăm vườn thường xuyên phát hiện kịp thời để phun thuốc chứa hoạt chất như: Bacillus thuringiensis, Diafenthiuron, Spirotetramat, …

- Bao trái: khi trái non vừa bun gai đầy đủ, tiến hành phun các loại thuốc chứa hoạt chất trên, sau đó mới tiến hành bao trái.

 

2. Rệp sáp (Planococcus lilacinusPseudococcus sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Rệp phát tán chủ yếu ở giai đoạn ấu trùng. Trong quá trình phát tán khả năng sống sót không cao. Sau khi lột xác, ấu trùng di chuyển chậm dần, sau khi lột xác cuối cùng chúng gần như cố định. Rệp tấn công bằng cách tập trung chích hút trên lá và trái làm lá non bị biến dạng, trái bị chai không lớn được. Nếu bị tấn công vào giai đoạn trái non thì trái bị rụng đi. Nếu tấn công giai đoạn vào giai đoạn trái phát triển làm mất giá trị thương phẩm. Trong quá trình gây hại chúng thường tiết ra mật ngọt thu hút nấm bồ hóng phát triển làm cây sinh trưởng kém.

- Rệp hiện diện hầu như quanh năm trên cây, nhưng gây hại nặng nhất vào mùa nắng từ tháng 2 – 4 dương lịch hàng năm.

Phòng trừ:

- Sau khi thu hoạch cần xén tỉa cành cho vườn thông thoáng, đồng thời loại bỏ những cành mang rệp sáp.

- Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phun thuốc trừ rệp kịp thời, nhất là giai đoạn cây đang có bông, trái non, trái đang phát triển.

- Khi phát hiện có sự hiện diện của rệp sáp có thể sử dụng dầu khoáng nồng độ 0,4 – 0,5 % để phun.

- Có thể sử dụng một số loại thuốc chứa hoạt chất như: Celastrus angulatus, Azadirachtin, Celastrus angulatus, … Cần lưu ý là luân phiên các loại thuốc để tránh rệp kháng thuốc và khi sử dụng cần phối hợp với nước rửa chén để tăng hiệu quả phòng trị.

- Ở giai đoạn trái già sắp chín nếu có phun thuốc thì lưu ý cần phải bảo đảm thời gian cách ly để giữ an toàn cho người tiêu dùng sản phẩm.

 

3. Rầy xanh (Empoasca sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Rầy xanh có thân dài 2,5 – 4 mm, màu xanh lá mạ. Đầu hơi hình tam giác, chính giữa đỉnh đầu có đường vân trắng, hai cánh trước màu xanh trong suốt xếp úp hình mái nhà.

- Cả rầy non và rầy trưởng thành dùng vòi chọc chích hút cây dọc hai bên gân chính và gân phụ của lá non, đọt chồi non gây nên những vết châm làm cho lá non bị tổn thương, làm cho việc vận chuyển nước và chất dinh dưỡng đến lá gặp trở ngại. Những lá này gặp điều kiện khô nóng sẽ bị khô từ đầu lá và mép lá đến 1/2 lá sau đó lá sẽ rụng đi.

Phòng trừ:

- Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, dọn sạch cỏ dại.

- Cần chú ý theo dõi phòng trừ trong thời gian rầy phát sinh nhiều và gây hại nặng.

- Sử dụng một số thuốc chứa hoạt chất như: Azadirachtin, Artemisinin, Cypermethrin, ... để phun phòng trừ rầy.


4. Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Con trưởng thành có hình dạng giống con muỗi, màu xanh, phần bụng màu xanh lá mạ đến màu xanh lơ, trên lưng ngực có cái chùy nghiêng về phía sau, nhìn thẳng từ trên xuống núm chùy có hình tròn.

- Bọ xít muỗi phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25 – 28 0C, ẩm độ > 90 %, vì thế chúng thường hoạt động mạnh vào sáng sớm hoặc chiều tối. Ngày âm u bọ xít muỗi hoạt động mạnh hơn những ngày nắng, đặc biệt những ngày mưa sẽ xuất hiện và phá hoại nặng. Trời nắng, nóng chúng ẩn nấp dưới lá.

- Bọ trưởng thành và bọ non đều chích hút chồi non, cành non, trái. Vết châm của bọ xít muỗi có hình tròn hoặc gần tròn lúc đầu có màu chì xung quanh có màu nhạt, sau đó vết châm biến thành màu nâu đậm. Bọ gây hại nặng trên lá thì lá non xoăn lại, khô héo; trên trái thì trái non kém phát triển bị héo khô, trái lớn bị dị dạng dễ tạo điều kiện cho nấm hại xâm nhập.

Phòng trừ:

- Cần chú ý phòng trừ trong thời gian bọ xít muỗi phát sinh nhiều và gây hại nặng (mùa mưa).

- Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bỏ các cành nhánh vô hiệu.

- Để áp dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả nên phun thuốc vào sáng sớm khi cây ra lá non, chồi non mới nhú và đậu trái non bằng một số thuốc chứa hoạt chất như: Cypermethrin, Dinotefuran, Abamectin, Citrus oil, ...


5. Ruồi đục trái (Bactrocera sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Thành trùng (ruồi trưởng thành) có cơ thể dài 6 – 9 mm, đầu có dạng hình bán cầu, mặt trước màu nâu đỏ với 6 chấm đỏ màu đen. Thân màu vàng nâu đỏ với những vân vàng, cánh trong, hình dạng giống nhưng nhỏ hơn ruồi nhà, hoạt động vào ban ngày.

- Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc sâu vào vỏ quả (thường đẻ trứng lên quả phần tiếp giáp giữa vỏ và thịt quả). Vỏ trái nơi ruồi đục vào có màu đen, mềm, ứ nhựa (mủ), tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công làm thối trái và có thể bị rụng hoặc vẫn đeo trên cây. Dòi nở ra đục ăn trong quả (ăn thịt trái), một quả có thể bị nhiều dòi phá hại. Ruồi đục quả phá hoại từ khi quả già đến chín.

- Mùa mưa là giai đoạn ruồi sinh sản mạnh và gây hại nặng cho nhà vườn.

Phòng trừ:

- Thăm vườn thường xuyên phát hiện kịp thời để phun thuốc chứa hoạt chất như: Abamectin, ... theo đúng hướng dẫn trên nhãn thuốc.

- Sử dụng bao trái: Khi trái non vừa bun gai đầy đủ, tiến hành phun 1 lần thuốc chứa các hoạt chất trên, sau đó bao trái, có tác dụng hạn chế ruồi rất tốt.

- Thu hoạch trái đạt độ chín thu hoạch, không giữ trái chín quá lâu trên cây.

- Không trồng xen các loại cây ăn trái khác trong vườn, loại bỏ các cây là ký chủ của ruồi.

- Tỉa cành cho vườn thông thoáng.

- Vệ sinh đồng ruộng, vườn trồng, thường xuyên thu, hái và đem tiêu hủy toàn bộ trái rụng trên mặt đất và trái còn đeo trên cây vì là nơi ruồi lưu tồn.

- Các biện pháp sử dụng SOFRI Protein thủy phân để phun, cần lưu ý là phải thực hiện trên diện rộng hoặc bẫy Pheromol.

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh thối quả

Tác nhân:

Do nấm Lasiodiplodia pseudotheobromaeColletotrichum gloeosporioides gây ra.

Triệu chứng bệnh:

- Triệu chứng thối do nấm Lasiodiplodia pseudotheobromae: Vết bệnh màu đen, lan dần trên bề mặt vỏ quả, hóa bần, cứng và răn nứt.

- Triệu chứng thối do nấm Colletotrichum gloeosporioides: Là những đốm nâu đen, gây thối mềm nhanh trên quả và gây thối cả hoa đặc biệt là vào mùa mưa, có những cụm bào tử màu nâu được hình thành trên vết bệnh.

Phòng trừ:

- Cần bón phân cân đối (NPK) và hợp lý vào các giai đoạn phát triển của cây giúp cây khỏe mạnh, chống chịu với mầm bệnh.

- Hằng năm nên bổ sung thêm vôi để cải thiện pH của đất cũng như cung cấp canxi cho cây để tăng phẩm chất trái và kéo dài thời gian tồn trữ sau thu hoạch của quả.

- Cắt hoa, quả bệnh và đặc biệt là các cành bệnh, cành chéo giữa các cây.

- Vệ sinh vườn, thu gom và tiêu hủy bằng hố chôn kết hợp với vôi (hoa, quả bệnh), phơi khô và đốt (cành sâu).

- Dùng thuốc có chứa các hoạt chất như: Cytokinin, Dimethomorph, … để phòng ngừa.

2. Bệnh thối rễ cây

Tác nhân:

Do nấm Calonectria variabilis và tuyến trùng Pratylenchus sp. gây ra.

Triệu chứng bệnh:

- Cây sinh trưởng suy yếu, lá vàng nhợt nhạt héo úa rồi rụng lá dần trên một số bộ phận hay trên các cành dẫn đến cây trơ cành, chết dần từng cành, tổn thương thân và sau đó chết cả cây.

- Rễ tơ và rễ cái đều bị hoại tử, thối đen lốm đốm phần vỏ rễ trước rồi lan sâu vào trong rễ. Bệnh tấn công từ rễ non dần vào gốc thân, vỏ thân nứt hay thối đen từng mảng cây hư rễ dần nên dễ đổ ngã rồi chết cây.

Phòng trừ:

- Sử dụng cây giống sạch bệnh.

- Vệ sinh vườn: Sau khi thu hoạch cắt tỉa và tiêu hủy cành vô hiệu, cành bị sâu bệnh hay trái thối trong vườn.

- Bón phân đầy đủ, cân đối và hợp lý vào các giai đoạn phát triển của cây.

- Hàng năm, nên bón bổ sung vôi để cải thiện độ pH của đất và cung cấp thêm nguyên tố canxi cho cây.

- Cần tránh để quá nhiều trái trên cây; hạn chế tạo vết thương cho vỏ hoặc thân cây; cắt tỉa cành hay khống chế chiều cao cây nên thực hiện vào giai đoạn sau thu hoạch và cuối mùa nắng để giảm thiểu sự lây lan các bào tử nấm.

- Cần cô lập, cách ly với những vườn bị nhiễm để tránh sự phát tán của nấm, tuyến trùng từ vườn này sang vườn khác thông qua nguồn nước.

- Có thể trồng cây phân xanh, cây họ đậu hay cây vạn thọ xen canh trong vườn để lấy nguồn phân xanh và phòng trừ tuyến trùng.

- Ngừa bệnh:

Sử dụng thuốc có chứa hoạt chất như: Metalaxyl , Streptomyces lydicus, Validamycin, Cytokinin, …

3. Bệnh chết cành

Tác nhân:

Do nấm Diaphorthe phaseolorum gây chết nhánh và cành nhỏ của cây và nấm Lasiodiplodia pseudotheobromaegây chết nhánh, loét cành và thân cây mãng cầu xiêm. Ngoài ra, cũng do một số tác nhân không sinh học là lạm dụng thuốc làm chín trái (hoạt chất ethephon), khai thác tối đa, triệt để trái trên cây.

Triệu chứng bệnh:

Những cành nhỏ bên ngoài ngọn cành chết trước, sau đó tấn công ngược vào cành chính, gây chết những cành lớn hơn. Bề mặt vết bệnh hơi lõm xuống vỏ cành nứt dọc, hệ thống mạch dẫn hóa nâu với hình dạng cái nêm hay có những sọc đen chạy dọc thân hay cành mãng cầu xiêm.

Phòng trừ:

- Hạn chế tối đa làm chính trái bằng kỹ thuật chấm thuốc Ethephon trực tiếp lên cuống trái ở nồng độ nguyên chất.

- Đối với cây bị bệnh chết cành, cần cắt bỏ cành bệnh dưới vị trí vết chết, loét từ 15 – 50 cm (sao cho mặt cắt được trắng, không còn sọc đen). Sau đó quét hỗn hợp gồm 100 cc keo chống thấm trộn với 20 g Mancozeb hoặc 15 g Chlorothalonil (thành phẩm).

- Khi chồi tái sinh và trước khi hoa nở, tiến hành phun Mancozeb (40 g/10 lít nước) hoặc Difenoconazole (10 cc/10 lít nước), mỗi giai đoạn phun 2 lần cách nhau 10 ngày/lần để phòng ngừa bệnh chết cành.

- Dùng thuốc trừ rầy, rệp có chứa hoạt chất: Emamectin benzoate, Dinotefuran, …

Bảng tổng hợp sâu bệnh gây hại trên cây mãng cầu xiêm





VI. THU HOẠCH

- Trái từ khi đậu đến khi thu hoạch khoảng 12 – 13 tuần, giai đoạn này đã chín sinh lý. Tùy theo yêu cầu của thị trường mà có thể thu hoạch trái sớm (12 tuần) hay muộn (13 tuần).

- Nên thu hoạch quả lúc trời mát, khi trái đã hoàn toàn khô sương. Vì nếu thu hoạch quả khi còn đọng sương sẽ làm cho quả có ẩm độ cao, quả dễ bị lây nhiễm bệnh. Cũng không nên thu hoạch lúc trời quá nóng (giữa trưa) vì sẽ làm cho nhiệt độ của trái tăng cao và sẽ rút ngắn thời gian bảo quản.

- Chú ý trái mãng cầu xiêm rất dễ bị tổn thương, do cấu trúc và vỏ mỏng nên cần thu hoạch thật cẩn thận tránh va đập ảnh hưởng chất lượng sau thu hoạch.

- Dụng cụ thu hái (dao, kéo) cần phải làm vệ sinh trước và sau thu hoạch và cất giữ nơi sạch sẽ./.

Trung tâm Khuyến nông


Lượt người xem:  Views:   899
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật