Tài liệu kỹ thuật
Thứ 2, Ngày 06/05/2019, 11:00
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mì
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
06/05/2019 | Trung tâm Khuyến nông
Mì có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất phù sa, đất cát, đất feralit, đất than bùn, đất bạc màu. Mì thích hợp và cho năng suất cao ở chân đất tốt, xốp, thoát nước tốt. Ở chân đất cát pha, củ mì có nhiều tinh bột hơn. Nói chung mì không kén đất và có thể sinh trưởng phát triển ở các loại đất khác nhau. Cây mì rất kém chịu các loại đất đọng nước. Cây mì có thể chịu được đất chua pH = 4 và có thể phát triển tốt trên đất trung tính, với đất kiềm mì chịu được đến độ pH = 7,5, thích hợp nhất đối với mì là pH = 5,5.

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

- Mì có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất phù sa, đất cát, đất feralit, đất than bùn, đất bạc màu. Mì thích hợp và cho năng suất cao ở chân đất tốt, xốp, thoát nước tốt. Ở chân đất cát pha, củ mì có nhiều tinh bột hơn. Nói chung mì không kén đất và có thể sinh trưởng phát triển ở các loại đất khác nhau.

- Cây mì rất kém chịu các loại đất đọng nước. Cây mì có thể chịu được đất chua pH = 4 và có thể phát triển tốt trên đất trung tính, với đất kiềm mì chịu được đến độ pH = 7,5, thích hợp nhất đối với mì là pH = 5,5.

2. Nước     

- Cây mì có khả năng chịu hạn cao, nhưng chỉ sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm.

- Lượng mưa trung bình năm thích hợp với cây mì là 1.000 – 2.000 mm. Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau cây mì yêu cầu lượng nước khác nhau. Hom mì ở thời kỳ đầu mới trồng cần độ ẩm là 70 – 80 %. Cây mì non từ khi có 5 lá đến 20 lá, nhu cầu đối với nước có tăng lên, nhưng ở thời kỳ này sức chịu hạn của mì khá cao. 

- Khi cây mì bước vào thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh, nhu cầu nước đạt cao nhất 75 – 85 % độ ẩm bão hòa đất. Lúc này nước rất cần để cây sinh trưởng và quang hợp, cũng như vận chuyển vật chất từ bộ phận này đến bộ phận khác trong cây.

- Thời kỳ phình to của củ là lúc cây mì tập trung vào việc tích lũy tinh bột vào củ, nhu cầu về nước có giảm xuống. Yêu cầu độ ẩm đất thích hợp lúc này là 60 – 70 %. Nếu thiếu nước ở thời kỳ này sẽ ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển vật chất về củ, làm cho năng suất củ thấp.

3. Ánh sáng

- Cây mì là cây ưa sáng, khi có đầy đủ ánh sáng cây mì có khả năng tạo ra đường bột và tích lũy chúng vào củ mạnh hơn so với nhiều loại cây trồng khác. Trong điều kiện ánh sáng mạnh, mì phát triển củ tốt. Khi bị che khuất ánh sáng thân lá có hiện tượng vống, lá bị rụng sớm, tuổi thọ của lá giảm sút. Thiếu ánh sáng cây phân hóa chậm, chiều dài lóng tăng lên, năng suất giảm rõ rệt.

- Mì là cây phản ứng tích cực với ánh sáng ngày ngắn. Nó thích hợp với chu kỳ chiếu sáng 8 – 10 giờ/ngày. Ngày ngắn thuận lợi cho sinh trưởng của củ. Trong khi ngày dài thuận lợi cho sinh trưởng cành lá và trở ngại cho sinh trưởng củ, nhưng lại thúc đẩy tăng số lượng củ mì.

4. Nhiệt độ

- Nhiệt độ thích hợp nhất đối với sinh trưởng của mì là 23 – 27 0C.

- Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây mì có yêu cầu nhiệt độ khác nhau. Thời kỳ phát triển của mầm, mì yêu cầu nhiệt độ 20 – 27 0C. Ở thời kỳ cây lớn, mì yêu cầu nhiệt độ 20 – 32 0C. Thời kỳ phát triển củ mì yêu cầu nhiệt độ 25 – 35 0C.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần có cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên để lựa chọn các vùng đất thích hợp cho từng loại cây trồng.

- Cây mì là loại cây dễ trồng, không kén đất có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa, đất cát, đất bạc màu, ... nhưng cây mì thích hợp và cho năng suất cao ở chân đất tốt, xốp, thoát nước tốt, pH = 5,5. Điều kiện tự nhiên ở Tây Ninh như nhiệt độ, ánh sáng, nước, đất đai phù hợp cho cây mì phát triển. Tuy nhiên đất đai ở Tây Ninh chiếm phần lớn là đất xám bạc màu nên nghèo dinh dưỡng, pH thấp. Vì vậy, cần tiến hành phân tích đất để căn cứ xác định vùng trồng mì thích hợp. Dựa vào kết quả phân tích đất để bổ sung lượng phân bón và bón vôi thích hợp giúp cải thiện đất trồng.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

- Giống mì KM94: Thời gian sinh trưởng 9 – 12 tháng. Năng suất củ tươi đạt 30 tấn/ha; năng suất bột 8,7 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột 29 – 30 %. Cây cao 2,2 – 2,5 m, thân cong ở phần gốc, thân nâu, lá xanh, ngọn tím, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm. Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại mức độ nhẹ, thích nghi nhiều vùng sinh thái.

- Giống KM 419: Thân xanh, thẳng, tán gọn, cây cao vừa phải, nhặt mắt, không phân cành, lá xanh đậm, dạng củ rất đẹp và đồng đều, thịt củ màu trắng, năng suất củ tươi đạt 35,0 – 45,8 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột đạt 27,6 -29,4 %, Năng suất bột : 10,6 – 14,4 tấn/ha. Năng suất sắn lát khô đạt 13,5 – 18,6 tấn/ha. Chỉ số thu hoạch: 61 -65 %. Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng. Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá. Hiện nay giống KM 419 đang được trồng rất phổ biến tại Tây Ninh.

- Giống mì KM140: Thời gian sinh trưởng 8 – 10 tháng (có thể thu hoạch 7 – 8 tháng sau trồng). Năng suất củ tươi bình quân đạt 39 tấn/ha, năng suất bột 10 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột 27 %. Cây cao 1,8 – 2,5 m, thân thẳng không phân nhánh, ít đổ ngã, thân xanh, lá xanh, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm. Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại ở mức độ nhẹ.

- Giống mì KM 98-5: Thời gian sinh trưởng 8 – 10 tháng (có thể thu hoạch 7 – 8 tháng sau trồng). Năng suất củ tươi đạt 36 tấn/ha, năng suất bột 9,7 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột 27 %. Cây cao vừa phải, ít đổ ngã, thân xanh, lá xanh, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm. Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại ở mức độ nhẹ, thích nghi nhiều vùng sinh thái.

- Giống mì KM95 (giống bố trí trong vùng thấp): Thời gian sinh trưởng 6 – 7 tháng). Năng suất củ tươi đạt 30 tấn/ha, năng suất bột 8,1 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27 %. Cây cao vừa phải, ít đổ ngã, thân màu xám, cọng màu hồng, lá xanh nhạt, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phân nhánh mạnh cấp 2 – 3. Củ đồng đều, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại ở mức độ nhẹ.

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ trồng: Có 2 vụ chính:

- Vụ Đông Xuân (vụ cuối mùa mưa): Trồng vào tháng 10 – 11 (dương lịch), thu hoạch tháng 9 – 10 năm sau.

- Vụ Hè Thu (vụ đầu mùa mưa): Trồng vào tháng 4 – 5 (dương lịch), thu hoạch tháng 1 – 3 năm sau.

- Mật độ:

  •             Khoảng cách trồng 0,8 m x 0,8 m, mật độ 15.625 cây/ha.
  •             Khoảng cách trồng 0,7 m x 0,8 m, mật độ 17.857 cây/ha.

2. Chọn giống

- Cây khoai mì làm giống phải đạt từ 7 tháng tuổi trở lên, đường kính trên 1,5 cm, không nhiễm sâu bệnh. Hom mì nhặt mắt, đặc lõi và không bị trầy dập.

- Hom giống lấy từ 1/3 ở đoạn giữa thân cây giống. Dùng dao bén chặt hom và tránh làm hom bị dập, mỗi hom 4 – 5 mắt, loại bỏ phần ngọn non và phần gốc quá già.

- Xử lý hom trước khi trồng bằng cách nhúng vào các dung dịch thuốc diệt nấm hoặc nước vôi 5% trong 5 – 10 phút, sau đó vớt ra để ráo thuốc rồi đem trồng. Có thể sử dụng thuốc chứa hoạt chất Imidacloprid, ... để xử lý hom giống.

3. Kỹ thuật trồng

a. Chuẩn bị đất

Khoai mì cần lớp đất xốp, sâu để rễ củ phát triển. Cày ngầm sâu 40 – 50 cm; sau đó tiến hành cày bảy và bừa đất giúp đất bằng phẳng, tơi xốp, thông thoáng.

         

Không nên lên luống theo chiều dốc của đất, nước sẽ rửa trôi đất màu.

Lên luống:

Lên luống ba ( rộng 2,2 – 2,5 m) trồng 3 hàng mì.

Lên luống đôi (rộng 1,4 – 2 m) trồng 2 hàng mì.

Lên luống chiếc (rộng 0,7 – 0,9 m) trồng 1 hàng mì.


b. Cách trồng

- Khi trồng đặt hom xiên, đứng hoặc nằm dọc theo luống.

- Dặm hom: Cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng. Khoảng 20 ngày nếu đất còn độ ẩm thì dặm lại các hom không nảy mầm.

4. Phân bón

- Cây mì có yêu cầu khá cao về các chất dinh dưỡng. Chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây mì là kali, kế đến là đạm, lân, canxi, magiê. Việc bón phân khoáng cân đối kết hợp với việc tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh và sử dụng cây họ đậu trong hệ thống luân canh, xen canh với mì là giải pháp cơ bản để tăng năng suất mì.

- Đất trồng mì ở Tây Ninh là đất xám bạc màu nên hầu hết đều nghèo dinh dưỡng và ít được cung cấp phân bón. Tùy theo điều kiện đất đai có thể sử dụng lượng phân bón cho cây mì cho 1 ha: 80 N + 60 P2O5 + 120 K2O + 10 tấn phân chuồng hoai mục + 1 tấn vôi; tương đương 170 kg Urê + 375 kg Super lân + 200 kg Kali clorua + 10 tấn phân chuồng hoai mục + 1 tấn vôi.

* Vụ Đông Xuân:

Bón lót: Trước lúc lên luống, bón hết phân hữu cơ + toàn bộ phân lân + 60 kg urê + 1 tấn vôi.

Bón thúc lần 1: Đầu mùa mưa, 4 – 5 tháng sau khi trồng, bón 80 kg urê + 100 kg kali clorua.

Bón thúc lần 2: Cách bón thúc lần 1 khoảng 1 – 1,5 tháng 30 kg urê + 100 kg kali clorua.

* Vụ Hè Thu:

Bón lót: Trước lúc lên luống, bón hết phân hữu cơ + toàn bộ phân lân + 50 kg urê + 1 tấn vôi.

Bón thúc lần 1: 20 – 30 ngày sau khi trồng, 80 kg urê + 100 kg kali clorua.

Bón thúc lần 2: 4 – 5 tháng sau khi trồng, 40 kg urê + 100 kg kali clorua.

Lưu ý:

+ Ở các lần bón thúc 1 thì phải kết hợp với làm cỏ vun gốc, cày ra một lớp mỏng, cày ốp vô dày hơn, cho đất xốp đồng thời lấp phân để mì dễ hấp thu.

+ Bón phân lần 2 thường mì đã lớn, không nên cày mà dùng cuốc lấp phân, chú ý tránh làm đứt củ.

Ngoài ra, ở một số ruộng thâm canh cao cho năng suất cao có thể sử dụng lượng phân bón cho 1 ha cây mì 160 N + 150 P2O5 + 160 K2O; tương đương 347 kg Urê + 937 kg Super lân + 267 kg Kali clorua.

5. Quản lý cỏ dại

- Sử dụng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm sau trồng 1 – 3 ngày phun như các thuốc chứa hoạt chất: S-Metolachlor, Acetochlor, Quizalofop-P-Ethyl, …

- Làm cỏ kịp thời ba lần vào lúc 20, 40 và 70 ngày sau khi trồng kết hợp bón phân. Thường mì mọc đều trong khoảng 2 - 3 tuần tùy thuộc chất lượng hom giống, đất đai và thời tiết. Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng với cây mì rất lớn nên việc làm cỏ xới xáo là rất quan trọng để đảm bảo mì đạt năng suất cao.

+ Làm cỏ bón phân lần đầu nên thực hiện ngay sau khi cây mọc đều để mì sinh trưởng khỏe và giao tán sớm.

+ Làm cỏ bón phân lần hai giúp cây hình thành và phát triển củ.

+ Sau khi trồng 5 tháng đến khi cây mì cao lá gốc rụng, có thể phun thuốc chứa hoạt chất Fluazifop-P-Butyl, phun tránh không để lá, thân mì tiếp xúc với thuốc. Nhất là thân cây mì còn xanh. Nên phun trước khi thu hoạch ít nhất là 2 tháng để không ảnh hưởng đến hàm lượng tinh bột.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Nhện đỏ (Tetranychus urticae)

Đặc điểm gây hại:

- Nhện đỏ có miệng chích hút như mũi kim. Nhện đỏ đâm miệng vào thân cây, đầu tiên ở mặt dưới lá. Hầu hết các loài nhện đều tạo màng tơ trên cây ký chủ.

- Nhện ăn làm cho lá chuyển màu vàng xám. Các đốm hoại tử xuất hiện khi lá bị nặng. Khi nhện đỏ dời lớp sáp, lớp mô thịt lá xẹp xuống và tạo thành các đốm màu nơi nó chích hút. Quá trình chích hút tạo thành các vết chấm trắng và về sau lá trở nên vàng xám hay màu đồng. Sự rụng lá hoàn toàn có thể xảy ra nếu nhện đỏ không được phòng trừ.

- Khi quần thể tăng trưởng, nhện đỏ phân bố khắp bề mặt lá, bao gồm cả mặt trên lá và những đốm vàng bao trùm cả lá làm chuyển sang màu đỏ hay rỉ sắt. Khi bị nặng, phần lá giữa và dưới có biểu hiện tiến trình rụng lá hướng về ngọn, chồi bị teo tóp lại và cây có thể bị chết.

Phòng trừ:

- Chọn giống mì có khả năng chống chịu nhện.

- Sử dụng thiên địch trên đồng ruộng như bọ rùa.

- Khi nhện phát sinh gây hại, không để ruộng bị khô hạn, có điều kiện tưới phun là tốt nhất.

- Có thể dùng luân phiên các loại thuốc chứa hoạt chất như Clofentezine, Diafenthiuron, Avermectin, …         

 

2. Rệp sáp bột hồng (Phenacoccus manihotis)

Đặc điểm gây hại:

- Rệp trưởng thành cơ thể có dạng hình trứng, màu hồng và bao phủ bởi lớp sáp bột màu trắng; mắt hơi lồi; chân rết phát triển, cơ thể mang nhiều các tua sáp trắng rất ngắn ở phần bên mép thân và đuôi. Đôi tua sáp ở đuôi dài hơn các tua sáp khác. Chính điều này làm cho cơ thể rệp nhìn bên ngoài như có gai. Kích thước rệp trưởng thành dài khoảng 1,0 – 2,6 mm.

- Rệp sáp bột hồng gây hại ở điểm sinh trưởng của cây mì, gây hiện tượng chùn ngọn, cây lùn. Trên lá, rệp bám ở mặt sau lá, gây hại làm các lá mì bị xoăn, biến vàng. Khi bị nhiễm với mật độ cao, toàn bộ lá cây bị rụng, cây chết và làm năng suất củ giảm tới 80 %.

- Rệp sáp bột hồng lây lan qua hom giống, phát tán theo gió, trôi theo nguồn nước, kiến, bám dính trên cơ thể động vật, người, công cụ và phương tiện vận chuyển, …

Phòng trừ:

- Chọn hom giống không bị nhiễm bệnh.

- Trồng mì với mật độ hợp lý.

- Tạo vườn sắn thông thoáng, bón phân cân đối để cây mì sinh trưởng phát triển tốt.

- Sử dụng thuốc hóa học gốc Thiamethoxam, gốc Imidacloprid, gốc Dinotefuran, Carbosulfan + Chlorfluazuron, … để phòng trừ rệp sáp.

                

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh chổi rồng

Tác nhân:

Do Phytoplasma (Candidatus phytoplasma aurantifolia) gây ra.

Triệu chứng bệnh:

- Giai đoạn cây con: Hom giống bị nhiễm bệnh sau khi trồng lên mầm kém, sinh trưởng kém, lóng thân ngắn, lá ngắn và nhỏ. Chồi ngọn rụt ngắn lại, cây thấp lùn, các mầm ngủ trên thân mọc nhiều chồi, cây sinh trưởng kém, lá chuyển màu vàng, rụng hoặc chết khô. Khi bệnh nặng bên trong thân gỗ của cây và hom mì thâm đen, phần bấc trong thân cây chuyển màu nâu vàng, sau đó cây héo dần, rụng lá và chết cả cây.

- Giai đoạn thu hoạch: Những cây nhiễm bệnh nhẹ,  mặc dù cây sinh trưởng bình thường nhưng đến thời kỳ thu hoạch ngọn cây bị chết khô, phần thân đoạn dưới bị chết, các chồi mọc thành dạng chùm, hình dạng dù, biểu hiện sinh trưởng của từng chồi giống như triệu chứng của giai đoạn cây con nhiễm bệnh chổi rồng, cây mì ít củ và củ nhỏ hơn cây bình thường.

- Bệnh thường xuất hiện gây hại vào đầu mùa mưa (tháng 5 – 6) và phát triển mạnh vào các tháng 1, 3 năm sau.

Phòng trừ:

- Sử dụng những giống mì từ vùng chưa bị bệnh và cây mì sạch bệnh để làm giống, không vận chuyển hom mì giống từ vùng bệnh sang vùng khác.

- Vườn bị bệnh, thu gom đốt triệt để thân và tàn dư của cây mì bị bệnh để tiêu diệt nguồn bệnh, luân canh với cây trồng khác họ từ 1 – 2 vụ, sau đó mới trồng lại mì.

- Đối với diện tích mì non, giai đoạn phát triển thân lá bị nhiễm bệnh nhẹ, cần nhổ tiêu hủy cây bệnh và rắc vôi vào hốc những cây bị bệnh để hạn chế sự lây lan.

- Bón phân đầy đủ và cân đối N, P, K; khuyến khích sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh.

- Trồng xen cây họ đậu để bổ sung dinh dưỡng cho đất, hạn chế xói mòn rửa trôi đất.

 

2. Bệnh cháy lá vi khuẩn

Tác nhân:

Do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. Manihotis gây hại.

Triệu chứng bệnh:

- Bệnh xuất hiện nhiều vào mùa mưa. Vết bệnh trên phiến lá lúc đầu là những đốm nhỏ màu xanh xám, có góc cạnh. Về sau vết bệnh lớn dần lên, chuyển màu nâu, chung quanh có viền vàng, làm cháy 1 mảng lá, lá mềm nhũn rủ xuống.

- Vi khuẩn có thể xâm nhập vào mạch dẫn tạo thành những vết xì mủ ở cuống lá và thân non. Vi khuẩn cũng có thể phát triển trong toàn thân, tới cả rễ và củ. Cây bị nặng lá héo rủ, cành và có khi cả cây bị chết.

- Vi khuẩn tồn tại trong đất, trên tàn dư cây mì và trên hom giống là nguồn truyền bệnh cho vụ sau. Trên đồng ruộng vi khuẩn lan truyền qua mưa gió, qua dụng cụ canh tác, người và 1 số côn trùng.

Phòng trừ:

- Chọn giống kháng bệnh.

- Không dùng hom giống bệnh.

- Bón đầy đủ cân đối NPK đặc biệt là K.

- Khi bệnh mới xuất hiện, có thể dùng một số loại thuốc chứa hoạt chất như: Kasugamycin, Ningnanmycin, Cuprous Oxide, … 


2.3 Bệnh thối củ

Tác nhân:

 Do nấm Phytophthora sp. gây ra.

Triệu chứng bệnh:

Trên củ và cuống rễ, nấm gây thành hàng vết nâu có hình dạng không cố định, chỗ bị bệnh thối mềm và tiết ra chất dịch có mùi hôi. Trên bề mặt vết bệnh nhiều khi sinh lớp tơ nấm màu trắng, sau chuyển màu đen. Cây bị thối củ sinh trưởng kém, có thể chết. Bệnh phát sinh từ khi củ mới hình thành nhưng thường phát triển gây hại nặng khi củ lớn đến thu hoạch. Nấm tồn tại trong đất, xâm nhập vào củ qua các vết thương.

Phòng trừ:

- Chọn đất trồng mì ở những nơi cao không bị ngập úng cục bộ.

- Bón phân NPK cân đối, không quá lạm dụng phân đạm nhất giai đoạn hình thành củ.

- Không chọn hom giống ở những vườn mì bị bệnh (hom khỏe).

- Vệ sinh đồng ruộng, cày ải phơi đất, bón lót vôi trước khi trồng 15 ngày, sử dụng phân hữu cơ có chế phẩm sinh học Trichoderma hoặc dùng chế phẩm sinh học Trichoderma trộn với phân hữu cơ hoai mục để bón lót.

- Trong trường hợp phát hiện ruộng bị nhiễm bệnh cần hạn chế tưới quá ẩm và không tưới thấm (xả tràn giữa các luống) sẽ tạo điều kiện bệnh phát sinh và lây lan. Vào mùa mưa, đánh rãnh tiêu thoát nước tốt cho ruộng mì. Ngoài ra, cần giảm sử dụng phân đạm, tăng phân kali giúp cây hạn chế được bệnh.

- Khi bị bệnh phun tưới thuốc trừ bệnh có gốc đồng, nhóm thuốc chứa hoạt chất Kasugamycin, Fosetyl-aluminium,


2.4 Bệnh khảm lá

Tác nhân:

Do virut gây ra, bệnh lây lan do môi giới truyền bệnh là bọ phấn trắng, làm giảm năng suất và chất lượng của cây mì.

Triệu chứng bệnh:

Trên lá có những vết vàng loang lổ xen lẫn phần xanh. Khi bị nặng, vết vàng loang rộng ra trên phiến lá; lá biến dạng nhăn nheo, hơi cuốn lại và nhỏ đi. Cây mì nhiễm bệnh cho năng suất thấp.

Phòng trừ:

- Dùng hom giống từ những cây khỏe, không bị bệnh.

- Loại bỏ những cây bị bệnh trong vườn.

- Không trồng mì hoặc cây ký chủ của bọ phấn (cây thuốc lá, bông, cà chua, cà pháo, cà bát, bầu bí, khoai tây, ớt,…) ở những vùng đã bị bệnh khảm lá ít nhất một vụ.

- Cần phòng trừ bọ phấn trắng ngay từ đầu vụ.

- Sử dụng bẫy dính vàng treo trên đồng ruộng diệt bọ phấn trắng.

- Phun trừ bọ phấn bằng thuốc BVTV chứa hoạt chất như: Dinotefuran, Pymetrozine, ...

VI. THU HOẠCH

Thu hoạch khoai mì phải đúng thời kỳ. Nếu thu quá sớm, khoai mì không đủ hàm lượng tinh bột. Nếu thu hoạch quá muộn, sẽ tiêu hao chất khô trong củ. Thời gian thu hoạch khoai mì trung bình là 8 – 11 tháng. Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào giống mì, có thời gian sinh trưởng khác nhau./.

Trung tâm Khuyến nông

Lượt người xem:  Views:   931
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Email

FriendlyName

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tài liệu kỹ thuật