Toạ đàm nhà nông
 
Chỉ dẫn địa lý là thông tin dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương hay vùng lãnh thổ mà hàng hóa được sản xuất ra từ đó. Đây cũng là tiền đề để xây dựng thương hiệu cho nông sản. Chính vì vậy, đẩy mạnh xây dựng và khai thác hiệu quả chỉ dẫn địa lý nông sản là yêu cầu cấp bách của ngành Nông nghiệp nước ta, cũng là của tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt là các loại trái cây có nhu cầu xuất khẩu sang thị trường khó tính. Góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng nông sản. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập với thị trường quốc tế như hiện nay, đây còn là điều kiện bắc buộc để nông sản được cấp phép nhập khẩu. Vì vậy, xây dựng chỉ dẫn địa lý không còn là yêu cầu khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu bắc buộc để nông sản Việt Nam hội nhập thành công.
 
Bọ phấn trắng, rầy phấn trắng, bọ cánh phấn hay rầy phấn là tên gọi chung của loại dịch hại này. Cơ thể chúng có màu trắng tinh như bột, toàn thân phủ một lớp phấn bao quanh.
 
Qua hơn 03 năm kể từ khi bệnh xuất hiện gây hại, mặc dù đã nỗ lực áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống nhưng chưa thể kiểm soát bệnh hiệu quả. Tuy nhiên, các ngành chức năng, các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu đã xác định việc sử dụng giống kháng bệnh/chống chịu với bệnh khảm lá sẽ là giải pháp giúp kiểm soát bệnh hiệu quả, bền vững và kinh tế nhất.
 
Dịch bệnh COVID-19 đang khiến cho các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm trên thị trường tiêu thụ trở nên khan hiếm với đa số các quốc gia trên thế giới do các hàng hóa này đều bị tắc nghẽn tại các cảng biển và cửa khẩu. Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng, trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, vấn đề an ninh lương thực đang là nhiệm vụ ưu tiên số 01 và được đảm bảo tuyệt đối, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về gạo và các loại nhu yếu phẩm của người dân.
 
Triển khai thực hiện Kế hoạch số 290/KH-TTBVTV ngày 29/4/2020 về bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực Trồng trọt và Bảo vệ thực vật năm 2020; thực hiện chương trình "Cùng nông dân bảo vệ môi trường" do Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tổ chức, ngày 25/5/2020, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp cùng Công ty xử lý chất thải nguy hại INSEE tổ chức ra quân thu gom được 477kg vỏ bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
 
Sâu keo mùa thu là loài sâu mới xâm nhập vào nước ta từ tháng 4 năm 2019. Loài sâu này có thể gây hại rất nhiều loài thực vật như bắp, đậu tương, lúa, kê, mía, rau, cà, bông..., trong đó gây hại nặng trên nhóm cây họ hòa thảo, có khả năng lây lan nhanh trên diện rộng, trong đó thức ăn ưa thích nhất của chúng là cây bắp. Đây là loài sâu đặc biệt nguy hiểm, trưởng thành có khả năng bay xa, đẻ khỏe (1000-2000 trứng/ con), vòng đời ngắn, có nhiều lứa đan xen, hơn nữa sâu gây hại từ giai đoạn bắp 4-5 lá đến khi thu hoạch, vì vậy gây khó khăn trong việc phòng trừ.
 
Thực hiện Quyết định 382/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án cơ cấu lại nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; thực hiện cơ cấu lại trồng trọt trong đó nâng cao giá trị sản xuất cây trồng truyền thống (lúa, mía, cao su), đồng thời tiếp tục chuyển đổi vùng sản xuất lúa, mía, cao su hiệu quả thấp sang trồng rau quả, cây ăn trái để từng bước hình thành vùng nguyên liệu hướng tới phục vụ cho chế biến và xuất khẩu.
 
Tây Ninh vốn nổi tiếng và nơi trồng cây công nghiệp như cao su với diện tích trên 100 ngàn ha, mía trên 10 ngàn ha, mì trên 50 ngàn ha…, những năm gần đây do giá cao su liên tục giảm nên hiệu quả trồng 01 ha cao su đang ở mức rất thấp khoảng 50 triệu đồng/ha/năm nên người sản suất đã mạnh dạng chuyển đổi sang cây ăn quả, rau để mang lại giá trị kinh tế cao hơn. Hiện nay, diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh khoảng 23 ngàn ha, tăng 5,7 ngàn ha so với năm 2016. Diện tích các cây ăn quả năm 2020 đều tăng so với năm 2016.
 
Hiện nay, việc ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất đang là xu hướng phát triển của ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh cũng như cả nước. Ứng dụng các công nghệ vào sản xuất có thể giảm đi ⅓ thời gian làm việc tại vườn, cắt giảm được nhiều nhân công mà chất lượng nông sản vẫn đạt chuẩn so với sản xuất theo cách truyền thống. Trong đó, tưới nhỏ giọt là một trong những hình thức ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là giải pháp giúp nâng cao năng suất cây trồng và mang lại hiệu quả trong sản xuất nên được nông dân trong tỉnh ứng dụng, góp phần thay đổi cách thức sản xuất trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt có nhiều cách thức áp dụng như: Tưới quấn quanh gốc đối với cây ăn quả, tưới trên giá thể cho dưa lưới, rau
 
Dưa trong mùa mưa đậu trái rất khó do mưa làm hư phấn. Để dưa thụ phấn tốt, Ngắt hoa đực bất kỳ, hoa vừa nở, to và có nhiều phấn; chấm phấn đều lên hoa cái vừa nở. Tránh để trái dưa bị ngập nước, dưa sẽ dễ bị thúi trái. Phân bón sử dụng cân đối, nên bón NPK 16-16-8, không nên sử dụng nhiều phân urê và phân bón lá, sẽ làm ruột dưa úng nước kém phẩm chất. Rút nước cạn trong mương để đất không bị úng rễ và dây dưa phát triển tốt, nhất là sau khi để trái và giai đoạn dưa chín
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Chuyên mục: Chỉ dẫn địa lý Mãng cầu Bà Đen.Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtChuyên mục: Chỉ dẫn địa lý Mãng cầu Bà Đen./PublishingImages/2020-12/Chỉ dẫn địa lý mãng cầu núi Bà đen.png
Chỉ dẫn địa lý là thông tin dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương hay vùng lãnh thổ mà hàng hóa được sản xuất ra từ đó.
Đây cũng là tiền đề để xây dựng thương hiệu cho nông sản. Chính vì vậy, đẩy mạnh xây dựng và khai thác hiệu quả chỉ dẫn địa lý nông sản là yêu cầu cấp bách của ngành Nông nghiệp nước ta, cũng là của tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt là các loại trái cây có nhu cầu xuất khẩu sang thị trường khó tính. Góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng nông sản. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập với thị trường quốc tế như hiện nay, đây còn là điều kiện bắc buộc để nông sản được cấp phép nhập khẩu. Vì vậy, xây dựng chỉ dẫn địa lý không còn là yêu cầu khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu bắc buộc để nông sản Việt Nam hội nhập thành công.

12/8/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Chỉ dẫn địa lý là thông tin dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương hay vùng lãnh thổ mà hàng hóa được sản xuất ra từ đó.

Đây cũng là tiền đề để xây dựng thương hiệu cho nông sản. Chính vì vậy, đẩy mạnh xây dựng và khai thác hiệu quả chỉ dẫn địa lý nông sản là yêu cầu cấp bách của ngành Nông nghiệp nước ta, cũng là của tỉnh Tây Ninh. Đặc biệt là các loại trái cây có nhu cầu xuất khẩu sang thị trường khó tính. Góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng nông sản. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập với thị trường quốc tế như hiện nay, đây còn là điều kiện bắc buộc để nông sản được cấp phép nhập khẩu. Vì vậy, xây dựng chỉ dẫn địa lý không còn là yêu cầu khuyến khích mà đang trở thành yêu cầu bắc buộc để nông sản Việt Nam hội nhập thành công.


Mãng cầu núi Bà đen

Tính đến tháng 5/2019 cục Sở hữu trí tuệ đã bảo hộ chỉ đãn địa lý cho 63 sản phẩm Nông nghiệp Việt Nam, nhờ đó giá trị và giá bán sản phẩm cũng được tăng lên đáng kể. Đây cũng là cơ sở giúp địa phương hình thành các tổ chức tập thể: Hội, hiệp hội, đại diện doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh, ... nhằm tham gia tích cực vào sản xuất nông sản.

tháng 8/2011, sản phẩm Mãng cầu Bà đen được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý và Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm mãng cầu Bà Đen Tây Ninh./.

https://youtu.be/FZy6B5QxaA

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Chuyên mục: Hướng dẫn nhận biết và phòng trừ bọ phấn trắng (rầy phấn trắng) gây hại lúaChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtChuyên mục: Hướng dẫn nhận biết và phòng trừ bọ phấn trắng (rầy phấn trắng) gây hại lúa/PublishingImages/2020-12/bọ phấn trắng hại lúa.png
Bọ phấn trắng, rầy phấn trắng, bọ cánh phấn hay rầy phấn là tên gọi chung của loại dịch hại này. Cơ thể chúng có màu trắng tinh như bột, toàn thân phủ một lớp phấn bao quanh.
12/7/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Bọ phấn trắng, rầy phấn trắng, bọ cánh phấn hay rầy phấn là tên gọi chung của loại dịch hại này. Cơ thể chúng có màu trắng tinh như bột, toàn thân phủ một lớp phấn bao quanh.

Trong vụ Hè thu 2020 trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 9.534ha lúa bị bọ phấn trắng gây hại. Trong đó xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu hơn 10.000 ha, có 600 ha nhiễm bọ phấn trắng

 Bọ phấn trắng hay còn gọi là rầy cánh trắng, là loại dịch hại đa ký chủ., ngoài cây lúa chúng còn gây hại nhiều loại rau màu, cây ăn trái, cây công nghiệp… nên việc phòng trừ chúng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn.


Ruộng lúa nhiễm bọ phấn trắng

*Triệu chứng gây hại

Cả ấu trùng và trưởng thành bọ phấn trắng đều gây hại bằng cách chích hút nhựa lá lúa làm cho lá lúa bị suy dinh dưỡng, chuyển sang màu vàng, cây phát triển kém, lá mới mọc ra sẽ bị triệu chứng xoắn lại giống như bị "siết cổ lá". Ở giai đoạn lúa làm đòng, lá cờ bị xoắn làm bông trổ không thoát; nếu trổ được hạt lúa sẽ bị lép toàn bộ.

* Các biện pháp phòng trị

- Biện pháp canh tác: Sạ thưa với mật độ vừa phải, không nên sạ dày; bón phân cân đối N-P-K, không nên bón thừa đạm, thường xuyên chăm sóc để lúa phát triển tốt, tăng cường sức chống chịu cho cây.

- Biện pháp sinh học: Các loài thiên địch như: bọ rùa, kiến 3 khoang, nhện các loại… có khả năng khống chế sự phát triển bọ phấn trắng ở mức gây hại thấp.

- Biện pháp hóa học: Có thể chọn các loại thuốc trừ rầy để phun phòng trừ bọ phấn trắng. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng./.


Chi cục Trồng trọt và BVTV


Nghiên cứu giống khoai mì kháng bệnh khảm láChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtNghiên cứu giống khoai mì kháng bệnh khảm lá/PublishingImages/2020-12/Mì giong mới.png
Qua hơn 03 năm kể từ khi bệnh xuất hiện gây hại, mặc dù đã nỗ lực áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống nhưng chưa thể kiểm soát bệnh hiệu quả. Tuy nhiên, các ngành chức năng, các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu đã xác định việc sử dụng giống kháng bệnh/chống chịu với bệnh khảm lá sẽ là giải pháp giúp kiểm soát bệnh hiệu quả, bền vững và kinh tế nhất.
12/7/2020 9:00 AMNoĐã ban hành


Giống khoai mì kháng bệnh khảm lá đang được nhóm nghiên cứu trồng tại huyện Tân Châu trong vụ Hè Thu 2020

Vào giữa năm 2017, bệnh khảm lá khoai mì được ghi nhận lần đầu xuất hiện ở Việt Nam và Tây Ninh là tỉnh đầu tiên bị hại. Đến nay, bệnh đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước và trở thành mối đe dọa nghiêm trọng cho ngành sản xuất và công nghiệp chế biến tinh bột mì không chỉ ở Tây Ninh mà cả trên phạm vi toàn quốc.

Qua hơn 03 năm kể từ khi bệnh xuất hiện gây hại, mặc dù đã nỗ lực áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống nhưng chưa thể kiểm soát bệnh hiệu quả. Tuy nhiên, các ngành chức năng, các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu đã xác định việc sử dụng giống kháng bệnh/chống chịu với bệnh khảm lá sẽ là giải pháp giúp kiểm soát bệnh hiệu quả, bền vững và kinh tế nhất.

Từ giữa năm 2018 đến nay, được sự cho phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự hỗ trợ của các Tổ chức Quốc tế, Viện Di truyền Nông nghiệp đã phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Tây Ninh tiến hành các nghiên cứu, đánh giá, khảo sát giống khoai mì kháng bệnh khảm lá trong 03 vụ, cụ thể như sau: Vụ 1 (Đông Xuân 2018 – 2019) đã tiến hành trồng khoảng 250 dòng/giống, trong đó có 50 dòng do Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (Gọi tắt là CIAT) nhập vào Việt Nam và nhiều giống được sưu tập ở nước ta, kết quả đã tuyển chọn được 08 dòng/giống kháng bệnh có năng suất đạt trên 35 tấn/ha và 09 dòng nhiễm bệnh rất nhẹ có năng suất đạt trên 37 tấn/ha để tiếp tục trồng theo dõi trong vụ 2 (Đông Xuân 2019 – 2020). Vụ 2 đã xuống giống trong tháng 10/2019 với 210 dòng/giống, trong đó có 107 dòng nhập nội trồng bằng cấy mô, kết quả bước đầu có một số giống sinh trưởng tốt, không nhiễm hoặc nhiễm bệnh rất thấp cần được tiếp tục đánh giá về chỉ tiêu năng suất, chữ bột và tính kháng bệnh ổn định trong nhiều vụ, trong đó nhóm nghiên cứu đã ghi nhận có một số dòng kháng bệnh (HN3, HN5) có triển vọng nên được chuyển sang trồng thuần để tiếp tục theo dõi ở vụ 3 (Hè Thu 2020) với diện tích 1,3 ha và hiện đang giai đoạn 7 – 8 tháng tuổi, sinh trưởng phát triển tốt và chưa nhiễm bệnh.

Định hướng trong năm 2021 và các năm tiếp theo, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Tây Ninh sẽ tiếp tục phối hợp với Viện Di truyền Nông nghiệp triển khai các nội dung nghiên cứu liên quan đến chọn tạo giống kháng bệnh khảm lá, đánh giá khả năng chống chịu bệnh hay kháng bệnh của các dòng triển vọng.    



Cây khoai mì giống kháng bệnh khảm lá được trồng tại huyện Tân Châu trong vụ Đông Xuân 2019 – 2020

 

                                                                                                                   Chi cục Trồng trọt và BVTV (PBVTV)

An ninh lương thực trong dịch bệnh Covid-19Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtAn ninh lương thực trong dịch bệnh Covid-19/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Dịch bệnh COVID-19 đang khiến cho các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm trên thị trường tiêu thụ trở nên khan hiếm với đa số các quốc gia trên thế giới do các hàng hóa này đều bị tắc nghẽn tại các cảng biển và cửa khẩu. Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng, trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, vấn đề an ninh lương thực đang là nhiệm vụ ưu tiên số 01 và được đảm bảo tuyệt đối, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về gạo và các loại nhu yếu phẩm của người dân.
12/7/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Dịch bệnh COVID-19 đang khiến cho các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm trên thị trường tiêu thụ trở nên khan hiếm với đa số các quốc gia trên thế giới do các hàng hóa này đều bị tắc nghẽn tại các cảng biển và cửa khẩu. Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng, trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, vấn đề an ninh lương thực đang là nhiệm vụ ưu tiên số 01 và được đảm bảo tuyệt đối, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về gạo và các loại nhu yếu phẩm của người dân.

Cùng với gạo, các thực phẩm giàu đạm, rau xanh, rau an toàn là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần hằng ngày của mỗi người, đang có nhu cầu ngày càng cao trong cuộc sống hiện đại nhất là trong mùa chống dịch COVID – 19 hiện nay.

Cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, tại Tây Ninh, sản lượng rau, củ, quả cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, phương pháp bảo quản, thị trường tiêu thụ, … Những yếu tố này có thể làm giảm nguồn cung, hoặc đẩy giá rau xanh lên cao, gây ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng. Những năm gần đây, diện tích các loại rau màu ở Tây Ninh có tăng giảm theo từng vụ nhưng nhìn chung, diện tích rau màu các loại vụ Hè Thu hàng năm vào khoảng 10.000 ha. Riêng vụ Hè Thu năm 2020, tuy thời tiết nắng hạn gay gắt nhưng diện tích cây rau trên toàn tỉnh vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: toàn tỉnh đang có hơn 9.000 ha rau màu đã được xuống giống và có diện tích rau đang cho thu hoạch; Những vùng chuyên canh rau màu ở huyện Châu Thành, Bến Cầu, Trảng Bàng, Gò Dầu đều đang tập trung xuống giống trước thời vụ khoảng 2 – 3 tuần nhằm cung cấp thực phẩm rau tươi đến người tiêu dùng kịp thời; đồng thời với năng suất trung bình khoảng 14 – 15 tấn/ha rau màu, cho thấy không có sự khan hiếm mà còn đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm rau xanh dồi dào, ổn định, đa chủng loại đến người tiêu dùng.

Song song với việc ổn định diện tích canh tác, năng suất, sản lượng rau củ quả các loại, hầu hết người canh tác rau ở Tây Ninh không còn sử dụng vật tư nông nghiệp bừa bãi như nhiều năm trước mà đã có ý thức cao về canh tác theo hướng an toàn thực phẩm với nhiều tiến bộ trong sử dụng vật tư nông nghiệp, cụ thể như: quan tâm sử dụng phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam và nhất là ưu tiên sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học để trừ các đối tượng gây hại phổ biến như bọ trĩ, bọ phấn trắng, sâu đục trái, … để mang lại hiệu quả kinh tế và vừa đảm bảo quy định về an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, các siêu thị, cửa hàng chuyên cung cấp rau xanh, rau an toàn đã cam kết luôn duy trì trữ lượng rau, củ quả ổn định trong thời gian dài để phục vụ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Do đó, chúng ta càng có thể an tâm sẽ có đủ nguồn rau xanh, rau an toàn trong mùa chống dịch COVID-19./.

https://youtu.be/5Fv39QUA59U

       Chi cục Trồng trọt và BVTV (PBVTV)


Chuyên mục: cùng nông dân bảo vệ môi trườngChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtChuyên mục: cùng nông dân bảo vệ môi trường/PublishingImages/2020-12/Cùng Nông dân bảo vệ môi trường.png
 Triển khai thực hiện Kế hoạch số 290/KH-TTBVTV ngày 29/4/2020 về bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực Trồng trọt và Bảo vệ thực vật năm 2020; thực hiện chương trình "Cùng nông dân bảo vệ môi trường" do Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tổ chức, ngày 25/5/2020, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp cùng Công ty xử lý chất thải nguy hại INSEE tổ chức ra quân thu gom được 477kg vỏ bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
12/5/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

        Thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và làm giảm về cơ bản các nguồn gây ô nhiễm môi trường, thông qua chương trình "Cùng nông dân bảo vệ môi trường" do Cục Bảo vệ thực vật tổ chức đã nâng tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý, tiêu hủy đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, chôn lấp an toàn sau xử lý, tiêu hủy, cụ thể: sự tăng dần về số lượng bao bì thuốc BVTV sau sử dụng được thu gom và xử lý qua các năm: 28 kg (2014) → 125 kg (2015) → 1.431 kg (2016) → 752 kg (2017) → 1.156 kg (2018). Riêng năm 2019: do chỉ triển khai tại huyện Hòa Thành nên lượng bao bì thu gom được là 189 kg.

        Triển khai thực hiện Kế hoạch số 290/KH-TTBVTV ngày 29/4/2020 về bảo vệ môi trường thuộc lĩnh vực Trồng trọt và Bảo vệ thực vật năm 2020; thực hiện chương trình "Cùng nông dân bảo vệ môi trường" do Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tổ chức, ngày 25/5/2020, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp cùng Công ty xử lý chất thải nguy hại INSEE tổ chức ra quân thu gom được 477kg vỏ bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh


Nông dân ra quân thu gom bao bì thuốc bảo vẹ thực vật qua sử dụng

Chương trình "Cùng nông dân bảo vệ môi trường" đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn nông dân sử dụng hiệu quả và an toàn thuốc BVTV; chương trình hỗ trợ lắp đặt nhiều bể chứa bao bì thuốc BVTV sau sử dụng ở các cánh đồng, giúp nông dân thu gom rác thải nguy hại, đồng thời hiểu rõ tác dụng của các loại thiên địch trên đồng ruộng, tác hại của việc tiêu huỷ bao bì thuốc BVTV không đúng cách...

          Chương trình "Cùng nông dân bảo vệ môi trường" đã được các địa phương cũng như nông dân nhiệt tình hưởng ứng./.

https://youtu.be/qTVK7VPm4dg

                             Chi cục Trồng trọt và BVTV






Chuyên mục: phòng trừ sâu keo mùa thu hại bắpChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtChuyên mục: phòng trừ sâu keo mùa thu hại bắp/PublishingImages/2020-12/Ruông bắp bị Sâu keo mùa thu phá hại.png
Sâu keo mùa thu là loài sâu mới xâm nhập vào nước ta từ tháng 4 năm 2019. Loài sâu này có thể gây hại rất nhiều loài thực vật như bắp, đậu tương, lúa, kê, mía, rau, cà, bông..., trong đó gây hại nặng trên nhóm cây họ hòa thảo, có khả năng lây lan nhanh trên diện rộng, trong đó thức ăn ưa thích nhất của chúng là cây bắp. Đây là loài sâu đặc biệt nguy hiểm, trưởng thành có khả năng bay xa, đẻ khỏe (1000-2000 trứng/ con), vòng đời ngắn, có nhiều lứa đan xen, hơn nữa sâu gây hại từ giai đoạn bắp 4-5 lá đến khi thu hoạch, vì vậy gây khó khăn trong việc phòng trừ.
12/5/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Sâu keo mùa thu là loài sâu mới xâm nhập vào nước ta từ tháng 4 năm 2019. Loài sâu này có thể gây hại rất nhiều loài thực vật như bắp, đậu tương, lúa, kê, mía, rau, cà, bông..., trong đó gây hại nặng trên nhóm cây họ hòa thảo, có khả năng lây lan nhanh trên diện rộng, trong đó thức ăn ưa thích nhất của chúng là cây bắp. Đây là loài sâu đặc biệt nguy hiểm, trưởng thành có khả năng bay xa, đẻ khỏe (1000-2000 trứng/ con), vòng đời ngắn, có nhiều lứa đan xen, hơn nữa sâu gây hại từ giai đoạn bắp 4-5 lá đến khi thu hoạch, vì vậy gây khó khăn trong việc phòng trừ.

* Triệu chứng gây hại:

Sâu non tuổi 1-2 ăn biểu bì ở mặt dưới của lá non gây ra các vết hình vuông hoặc hình chữ nhật màu trắng đặc trưng. Sâu non tuổi lớn hơn ăn khuyết lá, khi nguồn thức ăn khan hiếm chúng ăn cả các phần xanh, mềm của cây.


Sâu keo mùa thu


* Biện pháp phòng trừ sâu keo mùa thu:

Phòng trừ sâu keo mùa thu bằng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp theo Quy trình kỹ thuật phòng, chống sâu keo mùa thu do Cục Bảo vệ thực vật ban hành, gồm:

a) Biện pháp canh tác

- Làm sạch cỏ dại xung quanh vườn trồng ngô để hạn chế nơi trú ẩn của sâu.

- Làm đất rồi phơi đất khô để ấu trùng, nhộng trong đất chết hoặc dễ dàng bị thiên địch tiêu diệt.

- Luân canh ngô – lúa nước ngay sau vụ ngô để diệt nhộng trong đất. Làm đất kỹ cũng góp phần diệt nhộng trong đất.

b) Biện pháp thủ công

- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, đặc biệt ở giai đoạn ngô 3-6 lá để phát hiện ổ trứng, ngắt tiêu hủy.

- Sử dụng tro bếp hoặc nước xà phòng loãng đổ vào nõn ngô diệt sâu non.

c) Biện pháp sinh học

- Hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học để bảo vệ thiên địch của sâu keo mùa thu.

- Sử dụng chế phẩm nấm xanh, nấm trắng, vi khuẩn Bt, virus NPV để phun trừ khi sâu tuổi nhỏ.

- Nhân thả ong ký sinh trứng (ong mắt đỏ, …), các loài bắt mồi ăn thịt như bọ đuôi kìm để kiểm soát sâu non mới nở - tuổi nhỏ.

d) Biện pháp bẫy, bả

- Bẫy bả, bẫy đèn: Sử dụng bẫy dính màu vàng có pheromone giới tính, bẫy bả chua ngọt hoặc bẫy đèn để diệt trưởng thành.

- Bẫy cây trồng: Trên cánh đồng trồng ngô trồng một số diện tích cỏ voi, ngô nếp sớm hơn so thời vụ chung để dẫn dụ trưởng thành đến đẻ trứng. Sử dụng bẫy diệt trưởng thành, ngắt ổ trứng và phun trừ sâu non trên các diện tích bẫy cây trồng.

e) Biện pháp hóa học

- Sử dụng các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng  như: Baccilus thuringiensis, Spinetoram, Indoxacarb, Lufenuron, … để phun trừ khi sâu đa số tuổi 1-3 (giai đoạn ngô 3-6 lá), phun sáng sớm hoặc chiều mát.

- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng./.

https://youtu.be/IWUIzIqsW4E           

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Một số lưu ý trong trồng và chăm sóc cây sầu riêngChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtMột số lưu ý trong trồng và chăm sóc cây sầu riêng/PublishingImages/2020-11/Quả sầu riêng.png
Thực hiện Quyết định 382/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án cơ cấu lại nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; thực hiện cơ cấu lại trồng trọt trong đó nâng cao giá trị sản xuất cây trồng truyền thống (lúa, mía, cao su), đồng thời tiếp tục chuyển đổi vùng sản xuất lúa, mía, cao su hiệu quả thấp sang trồng rau quả, cây ăn trái để từng bước hình thành vùng nguyên liệu hướng tới phục vụ cho chế biến và xuất khẩu.
12/5/2020 3:00 PMNoĐã ban hành

Thực hiện Quyết định 382/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án cơ cấu lại nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; thực hiện cơ cấu lại trồng trọt trong đó nâng cao giá trị sản xuất cây trồng truyền thống (lúa, mía, cao su), đồng thời tiếp tục chuyển đổi vùng sản xuất lúa, mía, cao su hiệu quả thấp sang trồng rau quả, cây ăn trái để từng bước hình thành vùng nguyên liệu hướng tới phục vụ cho chế biến và xuất khẩu.

Hiện nay, toàn tỉnh có 30.829 ha đất lúa đã được chuyển đổi sang trồng cây hằng năm như rau các loại, bắp, mì, đậu các loại... và 5.541.87 ha đất lúa đã được chuyển đổi sang trồng cây lâu năm (cây ăn quả), còn lại là đất trồng cây lâu năm (cao su) chuyển sang trồng cây ăn quả. Diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh khoảng 23 ngàn ha, tăng 5,7 ngàn ha so với năm 2016. Năm 2020 diện tích các cây ăn quả tăng so với năm 2016, điển hình như: cây sầu riêng có diện tích tăng nhiều nhất, tăng 1.320 ha so với năm 2016 (tăng 180,8%), tập trung chủ yếu ở huyện Gò Dầu; kế đến là cây nhãn có diện tích canh tác là 4.435 ha, tăng 1.135 ha (tăng 34,4%), tập trung chủ yếu ở huyện Dương Minh Châu và Hòa Thành; cây bưởi tăng 857 ha; cây mãng cầu tăng 683 ha, năng suất 14,6 tấn/ha (tăng 2,3% so với năm 2017), sản lượng đạt 72.270 tấn, tập trung phát triển ở Thành phố Tây Ninh; Tân Châu; Dương Minh Châu. 


Sâu đục quả sầu riêng


Nhìn chung, điều kiện tự nhiên tại Tây Ninh phù hợp để canh tác sầu riêng nhưng cần phải có hệ thống tưới tiêu tốt và tăng cường đầu tư phân bón nhất là phân hữu cơ để cải tạo đất.

Khi chọn canh tác sầu riêng, người sản xuất nên thực hiện phân tích phẫu diện đất canh tác của mình để xác định chính xác hàm lượng các chất dinh dưỡng, pH đất, pH nước, độ dày tầng canh tác … làm cơ sở đưa ra quyết định nên canh tác sầu riêng hay không hoặc cần bổ sung, khắc phục yếu tố nào để đầu tư thâm canh đạt hiệu quả mong muốn.

Ngoài ra, cần chú ý điều kiện tự nhiên như: Điều kiện khí hậu, đất, nước, … để đạt năng suất cao trong canh tác./.

https://youtu.be/6ocRms1uyJ4

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh Tây NinhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtKết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2020-12/DỨA MỘT TRONG NHỮNG CÂY LÀM GIÀU 1.png
Tây Ninh vốn nổi tiếng và nơi trồng cây công nghiệp như cao su với diện tích trên 100 ngàn ha, mía trên 10 ngàn ha, mì trên 50 ngàn ha…, những năm gần đây do giá cao su liên tục giảm nên hiệu quả trồng 01 ha cao su đang ở mức rất thấp khoảng 50 triệu đồng/ha/năm nên người sản suất đã mạnh dạng chuyển đổi sang cây ăn quả, rau để mang lại giá trị kinh tế cao hơn.
Hiện nay, diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh khoảng 23 ngàn ha, tăng 5,7 ngàn ha so với năm 2016. Diện tích các cây ăn quả năm 2020 đều tăng so với năm 2016.
12/5/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

1. Tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Tây Ninh vốn nổi tiếng và nơi trồng cây công nghiệp như cao su với diện tích trên 100 ngàn ha, mía trên 10 ngàn ha, mì trên 50 ngàn ha…, những năm gần đây do giá cao su liên tục giảm nên hiệu quả trồng 01 ha cao su đang ở mức rất thấp khoảng 50 triệu đồng/ha/năm nên người sản suất đã mạnh dạng chuyển đổi sang cây ăn quả, rau để mang lại giá trị kinh tế cao hơn.

Trong 5 năm (2016 – 2020), ngành Nông nghiệp đã tập trung định hướng phát triển các cây trồng chủ lực của tỉnh theo hướng đẩy mạnh thâm canh, cánh đồng lớn, cơ giới hóa đồng bộ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực; năng suất, chất lượng cây trồng được nâng lên, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, liên kết sản xuất với tiêu thụ, xây dựng một số mô hình, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trên cây trồng chủ lực theo hướng hình thành các vùng sản xuất chuyên canh gắn với thị trường, công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Hiện nay, diện tích cây ăn quả trên địa bàn tỉnh khoảng 23 ngàn ha, tăng 5,7 ngàn ha so với năm 2016. Diện tích các cây ăn quả năm 2020 đều tăng so với năm 2016.

2. Kết quả đạt được

Việc thực hiện chuyển đổi một phần diện tích canh tác cây trồng truyền thống (mía, mì, cao su) hiệu quả kinh tế thấp sang trồng rau và cây ăn quả mang lại giá trị cao là hướng đi theo định hướng cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh. Bước đầu tỉnh đã hình thành một số mô hình trồng cây ăn quả như:

- Chuyển sang trồng rau màu.

- Riêng sản xuất dưa lưới theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.

- Mô hình sản xuất mãng cầu VietGAP (sử dụng bao trái);

- Mô hình sản xuất bưởi da xanh;

- Mô hình sản xuất chuối già xuất khẩu.

3. Định hướng trong thời gian tới

Tích cực thực hiện Quyết định 382/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án cơ cấu lại nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030:      

- Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại trồng trọt trong đó nâng cao giá trị sản xuất cây trồng truyền thống (lúa, mía, cao su), đồng thời tiếp tục chuyển đổi vùng sản xuất lúa, mía, cao su hiệu quả thấp sang trồng rau quả, cây ăn trái để từng bước hình thành vùng nguyên liệu hướng tới phục vụ cho chế biến và xuất khẩu.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng năm 2020. Tiếp tục hướng dẫn, tuyên truyền nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo định hướng của tỉnh.

Hiện trạng đất trồng lúa đến năm 2020 của địa phương có tổng diện tích là 72.939,63 ha.Theo kế hoạch đến năm 2025 hiện trạng đất trồng lúa ở tỉnh còn lại 67.790 ha và định hướng đến năm 2030 diện tích là 63.321 ha. Hiện trạng đất trồng lúa thay đổi chủ yếu do được chuyển sang trồng cây lâu năm, vì thời gian trồng cây lâu năm dài. Thời gian trồng cây hàng năm hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa được người dân luân phiên thay đổi với các vụ lúa trong năm.

- Giai đoạn năm 2021-2025, tổng diện tích đất trồng lúa chuyển đổi là 11.498,19 ha.

- Định hướng đến năm 2030, tổng diện tích đất trồng lúa chuyển đổi là 9.958 ha.

https://youtu.be/eU_4o87Yqgk                       

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Chuyên mục: áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trong sản xuất nông nghiệpChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtChuyên mục: áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trong sản xuất nông nghiệp/PublishingImages/2020-12/Mô hình trồng rau công nghệ cao, tưới nước nhỏ giọt.png
Hiện nay, việc ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất đang là xu hướng phát triển của ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh cũng như cả nước.
Ứng dụng các công nghệ vào sản xuất có thể giảm đi ⅓ thời gian làm việc tại vườn, cắt giảm được nhiều nhân công mà chất lượng nông sản vẫn đạt chuẩn so với sản xuất theo cách truyền thống. Trong đó, tưới nhỏ giọt là một trong những hình thức ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là giải pháp giúp nâng cao năng suất cây trồng và mang lại hiệu quả trong sản xuất nên được nông dân trong tỉnh ứng dụng, góp phần thay đổi cách thức sản xuất trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt có nhiều cách thức áp dụng như: Tưới quấn quanh gốc đối với cây ăn quả, tưới trên giá thể cho dưa lưới, rau
12/5/2020 12:00 PMNoĐã ban hành

Hiện nay, việc ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất đang là xu hướng phát triển của ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh cũng như cả nước.

Ứng dụng các công nghệ vào sản xuất có thể giảm đi ⅓ thời gian làm việc tại vườn, cắt giảm được nhiều nhân công mà chất lượng nông sản vẫn đạt chuẩn so với sản xuất theo cách truyền thống. Trong đó, tưới nhỏ giọt là một trong những hình thức ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là giải pháp giúp nâng cao năng suất cây trồng và mang lại hiệu quả trong sản xuất nên được nông dân trong tỉnh ứng dụng, góp phần thay đổi cách thức sản xuất trong nông nghiệp. Tưới nhỏ giọt có nhiều cách thức áp dụng như: Tưới quấn quanh gốc đối với cây ăn quả, tưới trên giá thể cho dưa lưới, rau…

Nếu như tưới nước theo cách truyền thống làm lãng phí nước, gây xói mòn đất thì công nghệ tưới nhỏ giọt là tưới vừa đúng với nhu cầu nước của cây trồng, không có lượng nước thừa cũng như tổn thất trong quá trình tưới. Phương pháp tưới này cũng cho phép thực hiện ở rất nhiều địa hình, phù hợp với mọi loại cây trồng, do nó ít phụ thuộc vào các yếu tố địa hình, thành phần đất.

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có khoảng 52.565 ha cây trồng tưới tiết kiệm (bao gồm tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt, tưới phun sương), trong đó có 56,32 ha áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt.


Hệ thống tưới tiết kiệm nước

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp tưới nước tiết kiệm này là người dân không phải tốn công đào mương dẫn nước, đồng thời điều chỉnh lượng nước tưới theo nhu cầu của từng loại cây trồng nên tiết kiệm đáng kể nguồn nước. Ngoài ra, còn có thể hòa lẫn các loại phân bón dễ hòa tan như đạm, kali, hay các loại phân bón dạng nước... đều có thể áp dụng được nhờ hệ thống ống dẫn thông qua bồn pha chế gắn tại van điều chỉnh tổng, phân bón được hòa lẫn vào nước tưới nên cây hấp thụ tốt hơn so với cách tưới truyền thống giúp giảm công lao động, giảm chi phí sản xuất,... nâng cao năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất.

Tuy lợi ích của hệ thống tưới này rất nhiều, nhưng hình thức tưới nào cũng có nhược điểm của nó. Nhược điểm của tưới nhỏ giọt là chi phí đầu tư cao; dễ bị tắc ngẽn do rong rêu, bùn, chất cặn trong dinh dưỡng hay nguồn nước, do đó nguồn dung dịch đi qua ống tưới cần có bộ lọc trước khi đến cây trồng; người đầu tư phải am hiểu về kỹ thuật tưới nhỏ giọt mới vận hành được.

Việc ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt hiện nay trên địa bàn tỉnh chủ yếu sử dụng để trồng và chăm sóc dưa lưới. Điển hình như Mô hình trồng dưa lưới của Hợp tác xã nông nghiệp Chà Là, diện tích sản xuất dưa lưới của Hợp tác xã là 1,2 ha.

Như vậy, việc ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt trong sản xuất nông nghiệp không chỉ giúp nông dân tiết kiệm nguồn tài nguyên nước mà còn giảm sức lao động, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất, chất lượng cây trồng và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị./.

https://youtu.be/9NN9uKVvQBM

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Chuyên mục kỹ thuật trồng cây dưa hấu mùa mưa mang lại hiệu quả kinh tế caoChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtChuyên mục kỹ thuật trồng cây dưa hấu mùa mưa mang lại hiệu quả kinh tế cao/PublishingImages/2020-12/DƯA HẤU CHO TRÁI MÙA MƯA.png
Dưa trong mùa mưa đậu trái rất khó do mưa làm hư phấn. Để dưa thụ phấn tốt, Ngắt hoa đực bất kỳ, hoa vừa nở, to và có nhiều phấn; chấm phấn đều lên hoa cái vừa nở. Tránh để trái dưa bị ngập nước, dưa sẽ dễ bị thúi trái. Phân bón sử dụng cân đối, nên bón NPK 16-16-8, không nên sử dụng nhiều phân urê và phân bón lá, sẽ làm ruột dưa úng nước kém phẩm chất. Rút nước cạn trong mương để đất không bị úng rễ và dây dưa phát triển tốt, nhất là sau khi để trái và giai đoạn dưa chín
12/5/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

Trước đây, dưa hấu chỉ trồng được trong mùa nắng, nhưng bây giờ trong mùa mưa nếu trồng đúng kỹ thuật vẫn cho năng suất cao và chất lượng ngon không thua gì dưa mùa nắng. Để đạt được kết quả tốt cần quan tâm những vấn đề sau:

1. Chọn giống:

Giống là một yếu tố rất quan trọng đưa đến thành công khi trồng trong mùa mưa, cho nên cần chọn những giống có đặc tính tốt, thích hợp mùa mưa.

– Chống chịu bệnh trong mùa mưa.

– Lá tương đối dày, lá càng đứng càng tốt để tránh mưa làm rách lá dễ bị nhiễm bệnh.

– Dễ đậu trái, vỏ trái mỏng vừa vận chuyển đi xa tốt.

– Ruột giòn, độ đường cao.

2. Những biện pháp canh tác cần quan tâm:

Ruộng trồng phải thoát nước tốt không bị ngập khi mưa nhiều.

Nên dùng màng phủ nông nghiệp để:

– Hạn chế cỏ dại, bệnh dại.

– Điều hòa độ ẩm mặt đất, tăng nhiệt độ đất cho bộ rễ phát triển tốt.

– Giữ phân bón không bị rửa trôi và bốc hơi phân.

– Hạn chế việc mao dẫn phèn lên lớp đất giúp rễ phát triển tốt mặt.

Nên dùng màng phủ chỉ cần xẻ mương nhỏ dọc theo nơi hai mép màng phủ ngoài, để thoát nước.Liếp nên được làm hơi dốc xuôi từ hàng dưa vào giữa liếp để thoát nước tốt, không đọng nước trên liếp.Cắt tỉa dây để liếp dưa được thoáng đầy đủ ánh nắng giúp dưa thụ phấn tốt và mầm bệnh ít phát triển.

Thụ phấn:

Dưa trong mùa mưa đậu trái rất khó do mưa làm hư phấn. Để dưa thụ phấn tốt, Ngắt hoa đực bất kỳ, hoa vừa nở, to và có nhiều phấn; chấm phấn đều lên hoa cái vừa nở. Tránh để trái dưa bị ngập nước, dưa sẽ dễ bị thúi trái. Phân bón sử dụng cân đối, nên bón NPK 16-16-8, không nên sử dụng nhiều phân urê và phân bón lá, sẽ làm ruột dưa úng nước kém phẩm chất. Rút nước cạn trong mương để đất không bị úng rễ và dây dưa phát triển tốt, nhất là sau khi để trái và giai đoạn dưa chín.

https://youtu.be/6lALY7GdsqI

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Chuyên mục “Mô hình ghép chuyển đổi giống nhãn tiêu da bò sang nhãn xuồng cơm ráo”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục “Mô hình ghép chuyển đổi giống nhãn tiêu da bò sang nhãn xuồng cơm ráo”/PublishingImages/2018-03/13fd9ad12a81c4df9d90.jpg
11/30/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Chuyên mục “Mô hình ghép chuyển đổi giống nhãn tiêu da bò sang nhãn xuồng cơm ráo”

Địa điểm thực hiện: xã Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu


Nhãn là một trong những cây ăn quả đang phát triển mạnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trong những năm trở lại đây. Các giống nhãn được trồng phổ biến hiện nay gồm: Giống nhãn tiêu da bò chiếm khoảng 90% tổng diện tích, khoảng 10% diện tích còn lại đã trồng và đang chuyển đổi sang các giống có giá trị cao và phù hợp với thị trường xuất khẩu như là nhãn Xuồng cơm ráo, Thanh nhãn và nhãn Ido.... Diện tích trồng Nhãn trên toàn tỉnh khoảng 3.838 ha, tập trung chủ yếu tại các huyện: Hòa Thành, Gò Dầu, Dương Minh Châu,…Năng suất bình quân đạt 17 tấn/ha.

Nhiều năm trở lại đây, người trồng nhãn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đang gặp khó khăn, do đa số trồng nhãn tiêu da bò đã nhiều năm tuổi, cây dễ nhiễm bệnh, cây khô chết… Bên cạnh đó, giá bán thấp, nhiều nhà vườn chưa áp dụng kỹ thuật thâm canh đồng bộ nên năng suất không cao; không có đăng ký thương hiệu hàng hóa; thương lái ép giá… làm cho diện tích cây nhãn có xu hướng giảm, vì thế nhiều nhà nông không "mặn mà" tìm hiểu để nâng cao chất lượng vườn nhãn.

Tuy nhiên, cũng có hộ nông dân mạnh dạn tìm hiểu, học hỏi và tìm ra phương pháp chiết ghép cây nhãn tiêu da bò sang nhãn xuồng cơm ráo. Đó là anh Trần Văn Liền, ngụ ấp Lộc Tân, xã Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu, với quyết tâm nâng cao giá trị cây nhãn, anh Liền đã mạnh dạn tìm hiểu, học hỏi và tìm ra phương pháp chiết ghép cây nhãn tiêu da bò sang nhãn xuồng cơm ráo trên diện tích 1,4 ha của mình. Theo anh Liền, nhãn xuồng cơm ráo là loại cây rất thích hợp với vùng đất cát và thịt nhẹ. Do đó, chỉ cần bỏ công đầu tư chăm sóc thì hiệu quả kinh tế của cây nhãn xuồng mang lại rất cao so với nhiều loại cây trồng truyền thống.

Đây là phương pháp góp phần trẻ hóa vườn cây, rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, giúp nhà vườn nâng cao giá trị cây nhãn, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích./.

Trung tâm Khuyến nông


Tọa đàm chương trình “Chuyện nhà nông” Chủ đề “Chăm sóc cây ăn trái mùa mưa”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtTọa đàm chương trình “Chuyện nhà nông” Chủ đề “Chăm sóc cây ăn trái mùa mưa”/PublishingImages/2020-11/Tọa đàm trong mùa mưa.png
Thông qua Chương trình tọa đàm, ngành Nông nghiệp đã phần nào giải đáp, tư vấn kịp thời đến nông dân một số biện pháp canh tác, chăm sóc, quản lý các đối tượng gây hại phổ biến trên cây mãng cầu ta, cây sầu riêng và cây bưởi và một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Toàn bộ nội dung buổi tọa đàm tham khảo tại trang web Đài Phát thanh và Truyền hình Tây Ninh (TTV11), chuyên mục "Khoa học Kỹ thuật"
11/13/2020 2:00 PMYesĐã ban hành


 

Nội dung chương trình tọa đàm:

Vào lúc 15 giờ 15 phút, ngày 30/10/2020, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp cùng Đài Phát thanh và Truyền hình Tây Ninh, Công ty Cổ phần đầu tư Hợp Trí tổ chức truyền hình trực tiếp chương trình tọa đàm "Chuyện Nhà Nông" với chủ đề "Chăm sóc cây ăn trái mùa mưa", tham gia buổi tọa đàm có 02 diễn giả gồm Thạc sĩ Kiều Quốc Hưng – Đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Tây Ninh và Kỹ sư Phan Quốc Hùng – Trưởng bộ phận Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm, đại diện Công ty Cổ phần đầu tư Hợp Trí.

Chương trình được tổ chức trên cơ sở: (1) thực hiện Quyết định số 382/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của UBND tỉnh phê duyệt Đề án cơ cấu lại nông nghiệp tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và thực hiện Quyết định số 2029/QĐ-UBND ngày 20/9/2019 của UBND tỉnh phê duyệt Đề án phát triển chuỗi giá trị và cụm ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và PTNT Tây Ninh đã tích cực chỉ đạo thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích, trong đó có giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây có hiệu quả kinh tế cao hơn, nổi bật là nhóm cây ăn trái như mãng cầu ta, bưởi da xanh, sầu riêng, nhãn, … được nhiều nông dân mạnh dạn lựa chọn sản xuất do hiệu quả kinh tế mang lại khá cao, từ 80 triệu đồng/năm – đến 160 triệu đồng/năm tùy theo mỗi loại cây ăn trái. Do đó, tổng diện tích cây ăn trái trên địa bàn tỉnh hiện nay vào khoảng 23.800 ha với một số loại cây ăn trái có diện tích canh tác khá lớn như: cây mãng cầu ta khoảng 5.400 ha, cây sầu riêng khoảng 2.000 ha, cây bưởi khoảng 1.400 ha. (2) nhằm tư vấn, hướng dẫn kịp thời biện pháp quản lý một số đối tượng sâu bệnh phát sinh gây hại phổ biến trong điều kiện thời tiết mưa nhiều, như: ruồi đục trái, bọ vòi voi, bọ xít muỗi, bệnh thối rễ, bệnh thán thư/mãng cầu ta; bệnh do nấm Phytophthora palmivora gây ra với những triệu chứng nứt thân, thối rễ, chảy nhựa hoặc bệnh cháy lá chết ngọn/cây sầu riêng; bệnh vàng lá thối rễ, loét, ghẻ, thán thư/cây bưởi.

Trong thời gian phát sóng, Chương trình đã được bà con nông dân quan tâm theo dõi và đặt câu hỏi trao đổi với các Diễn giả về một số nội dung: cách sử dụng phân bón đạt hiệu quả trong giai đoạn cây ra hoa – cho trái; kỹ thuật chăm sóc vườn cây luôn đạt năng suất theo yêu cầu; kỹ thuật sử dụng các loại nông dược an toàn, hiệu quả trong quản lý cây có triệu chứng vàng lá, rụng bông, rụng trái; biện pháp quản lý một số đối tượng sâu bệnh như: ruồi đục trái, nhóm bệnh da ếch, nắng trái, khô cành/cây mãng cầu ta; sâu đục thân, bệnh nứt thân xì mủ/cây sầu riêng; sâu đục trái, hiện tượng nám trái một bên và rụng trái/cây bưởi; …, một số yêu cầu trong việc đăng ký sử dụng Chỉ dẫn địa lý "Bà Đen" cho sản phẩm quả mãng cầu ta tại Tây Ninh; thông tin về những chính sách hỗ trợ của tỉnh đến doanh nghiệp, hộ sản xuất trong cơ cấu lại ngành sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Thông qua Chương trình tọa đàm, ngành Nông nghiệp đã phần nào giải đáp, tư vấn kịp thời đến nông dân một số biện pháp canh tác, chăm sóc, quản lý các đối tượng gây hại phổ biến trên cây mãng cầu ta, cây sầu riêng và cây bưởi và một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Toàn bộ nội dung buổi tọa đàm tham khảo tại trang web Đài Phát thanh và Truyền hình Tây Ninh (TTV11), chuyên mục "Khoa học Kỹ thuật".

Dự kiến trong năm 2021, ngành Nông nghiệp tiếp tục phối hợp cùng Đài Phát thanh và Truyền hình Tây Ninh và một số doanh nghiệp, tổ chức, các nhân có liên quan thực hiện chương trình tọa đàm trực tiếp nhằm cung cấp thông tin, tư vấn kịp thời những nội dung đang được nông dân quan tâm.

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Chuyên mục: “Nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngBài viếtTrung tâm Nước sạch và VSMTNTChuyên mục: “Nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành”/PublishingImages/2020-11/TTNS_Hộ dân sử dụng nước sạch từ CTCN.jpg
Nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ và tình hình cấp nước sạch cho các hộ dân trong khu vực, tháng 9/2020, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn xây dựng Kế hoạch và phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình Tây Ninh thực hiện thực hiện nội dung Chuyên mục: “Nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành”.
11/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ và tình hình cấp nước sạch cho các hộ dân trong khu vực, tháng 9/2020, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn xây dựng Kế hoạch và phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình Tây Ninh thực hiện thực hiện nội dung Chuyên mục: "Nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành".

          Trên địa bàn xã Ninh Điền, huyện Châu Thành có 02 công trình cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành. Các công trình cấp nước hoạt động ổn định và liên tục 16h/ngày, trung bình từ 5h đến 21h hàng ngày, chất lượng nước sau xử lý đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt. Hàng quý, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiến hành lấy mẫu nước sau xử lý để phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước, kịp thời đưa ra các giải pháp khắc phục, đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt quy chuẩn.

Cả 02 công trình cấp nước này khai thác nước ngầm để hoạt động, xử lý, mạng lưới đường ống truyền tải và phân phối được lắp đặt chạy dọc các trục đường chính trong ấp, đảm bảo cung cấp nước cho khu dân cư tập trung khu trung tâm và các vùng lân cận.

Đến năm 2018, 02 Công trình cấp nước ấp Gò Nổi và Bến Cừ đã hoạt động vượt công suất, cụ thể là 170/100 m3/ngày.đêm, cấp nước cho 268/150 hộ, không đáp ứng đủ nguồn cung cấp nhu cầu sử dụng cho người dân, đặc biệt vào mùa khô. Ngoài ra, các công trình cấp nước xuống cấp, công suất hoạt động bị hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân cũng như quá trình cấp nước cho các khu vực dân cư sống tập trung có nhu cầu sử dụng nước sạch, cần phải nâng cấp cụm liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ lên công suất 314 m3/ngày đêm, tương đương 20 m3/h, bổ sung thêm một số hạng mục như giếng khoan, trạm bơm, cụm xử lý, bể chưa 40m3, nhà trạm bơm cấp 2 – hóa chất, hệ thống điện và mạng lưới cấp nước.

Hiện nay, công trình cấp nước đã nâng cấp, sửa chữa hoàn thiện, hoạt động với công suất 183 m3/ngày đêm, cấp nước cho 294 hộ, công trình cấp nước hoạt động 16h/ngày, cấp nước đạt QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Công trình cấp nước hoàn thành, đảm bảo việc cấp nước liên tục và ổn định cho các hộ dân. Qua đó, cả thiện sức khỏe, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người dân, ngăn chặn các dịch bệnh có thể xảy ra, lây lan do dụng nước không hợp vệ sinh.

 

Hình ảnh: Công trình cấp nước ấp Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành


Hình ảnh: Hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước

Trong công tác nâng cấp, sửa chữa và cấp nước của công trình cấp nước liên ấp Gò Nổi-Bến Cừ có những tồn tại và khó khăn:

- Thuận lợi:

Được sự quan tâm của các cấp, ngành, địa phương hỗ trợ nguồn vốn xây dựng, nâng cấp sửa chữa Công trình cấp nước tập trung nông thôn cung cấp nước sạch cho các hộ dân, góp phần nâng cao đời sống tinh người dân trong khu vực, đảm bảo an sinh xã hội, sức khỏe và ổn định cuộc sống cho người dân;

- Khó khăn:

+ Kinh phí đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa các công trình cấp nước lớn trong khi số lượng hộ dân có nhu cầu dùng nước chưa tăng lên đáng kể;

+ Một số hộ dân chưa thật sự ý thức được vai trò của nước sạch với sức khỏe và đời sống, nhiều trường hợp cấp nước sạch đến tận nhà nhưng hộ dân không đăng ký sử dụng hoặc đăng ký sử dụng nước sạch nhưng chủ hộ thường xuyên không có nhà, không có người bảo quản, dẫn đến đường ống cấp nước và đồng hồ đo nước hộ dân xuống cấp, hư hỏng;

+ Một sống hộ dân chưa ý thức việc bảo vệ nguồn nước sạch và công trình cấp nước, gây khó khăn, áp lực trong việc chi trả chi phí sử dụng nước sạch, quản lý đường ống cấp nước;

- Kiến nghị: Tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương, tuyên truyền, vận động hộ dân sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT và nâng cao hiểu biết cho hộ dân về các chính sách, pháp luật của Nhà nước về nước sạch, bảo vệ tài sản của công trình cấp nước./.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.

Thực hiện Chuyên mục “ Thực trạng cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh ”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Nước sạch và VSMTNTThực hiện Chuyên mục “ Thực trạng cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh ”/PublishingImages/2020-11/TTNS_Hộ dân sử dụng nước sạch.jpg
Năm 2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Đài Phát thanh – Truyền hình Tây Ninh thực hiện Chuyên mục và Tọa đàm nông nghiệp nông thôn Tây Ninh. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đăng ký thực hiện 03 chuyên mục (Chuyên mục 1: Nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành; Chuyên mục 2: Thực trạng cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 3: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh).
11/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Năm 2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Đài Phát thanh – Truyền hình Tây Ninh thực hiện Chuyên mục và Tọa đàm nông nghiệp nông thôn Tây Ninh. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đăng ký thực hiện 03 chuyên mục (Chuyên mục 1: Nâng cấp sửa chữa công trình cấp nước tập trung liên ấp Gò Nổi – Bến Cừ, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành; Chuyên mục 2: Thực trạng cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 3: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh).

Nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động các Công trình cấp nước cung cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, giúp người dân có điều kiện để tiếp cận nguồn nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT – Quy chẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng, thay đổi ý thức sử dụng nước sạch, ổn định nơi ở và sản xuất, tháng 9/2020, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã phối hợp Đài Phát thanh – Truyền hình Tây Ninh xây dựng Kế hoạch và thực hiện nội dung Chuyên mục: "Thực trạng cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh".

Trong số 70 công trình cấp nước do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn hiện đang khai thác, quản lý có 13/33 công trình cấp nước, cung cấp nước sạch cho đồng bào dân tộc với tổng số hộ: 1.330/18.557 hộ (chủ yếu là dân tộc: Khmer, Chăm, Thái), chiếm tỷ lệ: 7,17% trên tổng số hộ sử dụng nước từ công trình cấp nước.

Các công trình cấp nước hoạt động ổn định và liên tục 16h/ngày, trung bình từ 5h đến 21h hàng ngày, chất lượng nước sau xử lý đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt. Hàng quý, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tiến hành lấy mẫu nước sau xử lý để phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước, kịp thời đưa ra các giải pháp khắc phục, đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt quy chuẩn.

Qua đó, góp phần nâng cao tỷ lệ đồng bào dân tộc sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT trên địa bàn tỉnh, cũng như nâng cao tỷ lệ số dân nông thôn trên địa bàn tỉnh sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT.

Ngoài ra, đồng bào dân tộc cũng có thể tiếp cận nguồn nước sạch bằng cách sử dụng hệ thống xử lý nước hộ gia đình nếu đảm bảo các điều kiện tại Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước Hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020.

Công trình cấp nước cung cấp nước an toàn, liên tục, ổn định, đáp ứng nhu cầu nước sạch ngày càng cao của người dân. Qua đó, cả thiện sức khỏe, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người dân, ngăn chặn các dịch bệnh có thể xảy ra, lây lan do dụng nước không hợp vệ sinh.

Hình ảnh: Hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn bảo trì, kiểm tra đường ống cấp nước thường xuyên, hạn chế các sự cố ảnh hưởng đến thời gian cấp nước sạch ở mức thấp nhất. Phối hợp với chính quyền địa phương để cùng quản lý công trình cấp nước, vận động, khuyến khích các hộ dân đăng ký sử dụng nước sạch, sử dụng nước sạch tiết kiệm, tránh lãnh phí, tuyên truyền cho người dân hiểu về các chính sách, pháp luật về nước sạch, cùng người dân bảo vệ nguồn nước và công trình cấp nước.

   Trong công tác cấp nước cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh cũng có nhiều thuận lợi và tồn tại những khó khăn, cụ thể:

- Thuận lợi:

Được sự quan tâm của các cấp, ngành, địa phương, tạo điều kiện cho hoạt động cung cấp nước sạch cho các hộ dân, góp phần nâng cao đời sống tinh người dân trong khu vực, đảm bảo an sinh xã hội, sức khỏe và ổn định cuộc sống cho người dân;

- Khó khăn:

+ Kinh phí đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa các công trình cấp nước cho đồng bào dân tộc khá lớn trong khi số lượng hộ dân còn ít, một số công trình cấp nước hoạt động chưa đủ công suất;

+ Một số hộ dân chưa ý thức được vai trò của nước sạch, hộ dân không đăng ký sử dụng hoặc đăng ký sử dụng nước sạch nhưng chủ hộ thường xuyên không có nhà, không có người bảo quản, dẫn đến đường ống cấp nước và đồng hồ đo nước hộ dân xuống cấp, hư hỏng;

+ Một số hộ dân đồng bào dân có thu nhập mức thấp, trung bình nên khó khăn trong chi trả tiền sử dụng nước sạch hàng tháng; một số lợi dụng chính sách của Nhà nước, gây khó khăn, áp lực trong việc chi trả chi phí sử dụng nước sạch, quản lý đường ống cấp nước;

+ Các công trình cấp nước cấp nước sạch cho các hộ dân đồng bào dân tộc sử dụng nguồn nước thô để xử lý là nước ngầm, mùa khô mực nước tĩnh giếng khoan xuống thấp, gây thiếu nguồn nước thô để xử lý và cung cấp nước sạch cho hộ dân.

- Kiến nghị: Tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương, tuyên truyền, vận động hộ dân sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT và nâng cao hiểu biết cho hộ dân về các chính sách, pháp luật của Nhà nước về nước sạch, bảo vệ tài sản của công trình cấp nước./.


Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn.


Chuyên mục “Hiệu quả từ mô hình trồng thâm canh Dứa Queen (Nữ hoàng)”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục “Hiệu quả từ mô hình trồng thâm canh Dứa Queen (Nữ hoàng)”/PublishingImages/2020-08/20170719_101311.jpg
8/5/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

​CHUYÊN MỤC

Hiệu quả từ mô hình trồng thâm canh dứa Queen (Nữ hoàng)”

Thời gian: ngày 23/6/2020

Địa điểm: huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh.

Nội dung chuyên mục:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, dứa là một trong những loại cây trồng mới đang phát triển, chiếm diện tích nhỏ so với các cây trồng khác trên địa bàn, nhưng đang được xem là một trong những cây ăn trái đặc thù của tỉnh trong thời gian tới. Theo Đề án Cơ cấu lại Ngành Nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Sở Nông nghiệp và PTNT Tây Ninh tích cực chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích, trong đó có giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây có hiệu quả kinh tế cao hơn, trong đó có cây Dứa, dự kiến đến năm 2020 tăng diện tích trồng dứa và một số loại cây ăn quả đặc sản có giá trị cao lên khoảng 3.000 ha.

Diện tích gieo trồng Dứa tại tỉnh vào khoảng 100 ha tập trung chủ yếu tại các huyện Trảng Bàng, Bến Cầu. Hiện nay, tỉnh đang phát triển thêm vùng nguyên liệu tại các huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu…Giống được trồng phổ biến hiện nay là giống dứa Queen (Nữ hoàng), với năng suất bình quân khoảng 25 tấn/ha. Lợi thế hiện nay của cây dứa là tỉnh Tây Ninh đã có Nhà máy chế biến rau củ quả Tanifood, đây là cơ hội cho người sản xuất dứa nếu ký kết được hợp đồng tiêu thụ với nhà máy giải quyết đầu ra ổn định.

Qua thời gian thực hiện mô hình dứa tại tỉnh, nhận thấy cây dứa Queen là loại cây dễ trồng, chịu hạn tốt, không tốn nhiều công chăm sóc, ít sâu bệnh hại. Với 1 ha dứa chi phí đầu tư bình quân chỉ khoảng 40-65 triệu đồng/ha/năm (vòng đời 6 năm). Giá dứa hiện nay được Nhà máy Tanifood tại xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu ký hợp đồng thu mua dứa tại tỉnh là 6.000đ/kg loại 1kg/trái trở lên và 4.500đ/kg cho loại dưới 1kg (giao hàng tại Nhà máy). Với giá bán khoảng 6.000đ/kg ước tính mỗi ha dứa cho thu nhập ít nhất 150 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi khoảng 80 triệu đồng. Từ năm thứ hai trở đi dứa cho thu hoạch tương đối ổn định, mang lại hiệu quả kinh tế, thu lợi nhuận hàng năm ổn định hơn so với lúa, mì, mía,… Để năng suất dứa cao cần phải áp dụng quy trình kỹ thuật đồng bộ từ khâu làm đất, xuống giống, phân bón nhất là bón lót và chăm sóc cho tới khi thu hoạch.        

Trước những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây, việc canh tác loại cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương, thích ứng với hạn và mang lại hiệu quả kinh tế cao là điều đáng mừng đối với người dân tỉnh Tây Ninh. Mô hình trồng Dứa sẽ mở ra hướng sản xuất bền vững cho người dân.


Chuyên mục “Hiệu quả từ mô hình chăn nuôi gà thịt (gà lông màu) ATSH năm 2020”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục “Hiệu quả từ mô hình chăn nuôi gà thịt (gà lông màu) ATSH năm 2020”/PublishingImages/2020-07/TTKN CH MGà.jpg
8/5/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MỤC

"Hiệu quả từ mô hình chăn nuôi gà thịt (gà lông màu) ATSH năm 2020" 

Thời gian: Ngày 4/8/2020.

Địa điểm: khu phố Ninh Thành - phường Ninh Sơn – Thành phố Tây Ninh

Nội dung chuyên mục:

Tây Ninh là vùng có khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ quanh năm ổn định, có 2 mùa rõ rệt, ít thiên tai. Điều kiện khí hậu của tỉnh khá thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển ổn định quanh năm. Tuy nhiên vào thời điểm thời tiết giao mùa dễ làm cho gia súc - gia cầm mắc bệnh nếu không được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật và phòng bệnh tốt. So với các tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao như Tp.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thì quỹ đất nông nghiệp của tỉnh lớn, chiếm 85,57% tổng diện tích đất tự nhiên (345.824 ha). Trong đó quỹ đất xám bạc màu chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, địa hình khá bằng phẳng phù hợp để xây dựng chuồng trại chăn nuôi. Tây Ninh có nguồn nước phong phú, dồi dào, chất lượng khá tốt đủ phục vụ cho ngành chăn nuôi, ngay cả vào mùa khô.

Nhìn chung, ngành chăn nuôi gà thịt tỉnh Tây Ninh trong những năm gần đây có những bước tiến vượt bậc về quy mô chăn nuôi cũng như ứng dụng tiến bộ khoa học trong chăn nuôi. Từ năm 2015 đến nay, tổng đàn gà thịt tỉnh Tây Ninh có xu hướng tăng. Tổng đàn gà năm 2018 là 5,6 triệu con và đã vượt 3,7% so với chỉ tiêu quy hoạch năm 2020 của Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Tây Ninh. Sản lượng thịt gà hơi chiếm 27,9% tổng sản lượng thịt hơi các loại, cơ cấu tăng 4,1% so với năm 2016.

Tổng đàn gà và sản lượng thịt gà hơi từ năm 2015 đến nay

Gà thịt2015201620172018Tốc độ tăng 2015-2018
Tổng đàn (con)4.500.0004.900.0005.100.0005.600.0007,56%
Sản lượng thịt gà (Tấn)19.75522.60624.60830.76015,91%
GTSX (triệu đồng)765.738876.248953.8491.192.32615,91%
GTGT (Triệu đồng)138.568158.566172.609215.76415,91%

Trước tình hình đó, Trung tâm Khuyến nông xây dựng kế hoạch trình Sở Nông nghiệp và PTNT phê duyệt mô hình khyến nông "Chăn nuôi gà thịt (gà lông màu) an toàn sinh học năm 2020" với quy mô 2.000 con (giống gà Mía), thực hiện tại Thành phố Tây Ninh và Thị xã Hòa Thành,  mỗi thị xã, thành phố 1.000 con.

Mục đích của mô hình: Lựa chọn các giống gà đặc sản từ các tỉnh khác về nuôi (Gà Mía) nhằm đa dạng hóa nguồn con giống trên địa bàn tỉnh, đồng thời chuyển giao tiến bộ kỹ thuật quy trình chăn nuôi gà an toàn sinh học đến người chăn nuôi góp phần  tạo ra sản phẩm an toàn phục vụ người tiêu dùng.

Tình hình sinh trưởng và phát triển:

Thực hiện tiêm phòng đầy đủ các bệnh truyền nhiễm:

- Niu-cat-xơn  chủng  F (lần1) (3 ngày);

- Gumboro lần 1 (7 ngày);

- Đậu gà (10 ngày);

- Gumboro lần 2 (14 ngày);

- Newcastle (Lasota) (21 ngày);

- H5N1 (35 ngày);

- Tụ huyết trùng (50 ngày);

- Niu-cat-xơn chủng M (60 ngày)

Tỷ lệ sống 99%

Trọng lượng bình quân sau 60 ngày nuôi:

+ Gà Mía: 1,25kg/con.

+ Gà Lượng Huệ: 1,35kg/con.

Thuận lợi:

- Được Trung tâm Khuyến nông đầu tư hỗ trợ 50% giống và 30% vật tư, được tập huấn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi gà an toàn sinh học có kiểm soát tốt dịch bệnh, hướng dẫn làm chuồng trại, và áp dụng đệm lót sinh học trong suốt quá trình nuôi gà.

- Cán bộ kỹ thuật thường xuyên theo dõi, kịp thời hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học và hỗ trợ tiêm phòng các loại vacxin ngừa bệnh cho gà theo đúng lịch tiêm phòng giúp đàn gà khỏe mạnh, tỷ lệ nuôi sống cao.

- Đại lý thức ăn gia súc thuốc thú y Nguyễn Công Hậu, khu phố 4, thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành cam kết bao tiêu sản phẩm theo giá thị trường.

Khó khăn:

- Chăn nuôi gà thịt hiện nay còn nhiều khó khăn, khả năng khép chuỗi nhìn chung là thấp do tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ nhiều.

- Chưa tạo ra sản phẩm thế mạnh để xây dựng thương hiệu gà thịt Tây Ninh.

Ước hiệu quả kinh tế:

Chi phí đầu tư cho 1 con gà (trọng lượng 1,8kg) sau 3,5 tháng:

+ Thức ăn: 5,04 kg x12.500đ =  63.000đ

+ Con giống:                          =  19.000đ

+ Vacxin, thuốc thú y:            =    6.000đ

+ Chi phí khác:                       =    5.000đ

Tổng chi:                                    93.000đ/con

Tổng thu: 1,8kg x 80.000đ     =  144.000đ

Lợi nhuận: 144.000 – 93.000  = 51.000đ/con

Lợi nhuận tổng đàn: 495 con (hao hụt 1%) x 51.000đ = 25.245.000 đ.


Chuyên mục “Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và xử lý sâu bệnh hại thanh long ruột đỏ” Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục “Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và xử lý sâu bệnh hại thanh long ruột đỏ” /PublishingImages/2020-05/TTKN_Thanh long.jpg
5/29/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MỤC

“Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và xử lý sâu bệnh hại thanh long ruột đỏ” 

Thời gian thực hiện: tháng 5/2020

Địa điểm: xã Trà Vong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh


Nội dung

1. Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc 

          Thời vụ trồng và mật độ

          Thời vụ trồng: Thanh long có thể trồng được quanh năm nếu chủ động được nguồn nước. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà chọn thời vụ thích hợp.

         Mật độ trồng: Mật độ trồng khoảng 900 – 1.100 trụ/ha tùy vào khoảng cách trồng (3 x 3 m hoặc 3 x 3,5 m). 

          Chọn giống

          Giống phải có nguồn gốc rõ ràng, cơ sở nhân giống và sản xuất giống phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép. Chọn các cành từ 1 năm tuổi trở đi (đã cho trái vụ trước, không nên chọn những cành vừa mới cho trái) từ các trụ sinh trưởng tốt, chọn các cành có gốc cành đã bắt đầu hóa gỗ để hạn chế bệnh thối cành. Chiều dài cành tốt nhất từ 50 – 70 cm. Cành mập, màu xanh đậm, không sâu bệnh, mắt gai tốt, mẩy, khả năng nảy chồi tốt. Sau khi chọn cành xong, phần gốc cành 2 – 4 cm được cắt bỏ phần vỏ cành chỉ để lại lõi cành giúp cành nhanh ra rễ và tránh thối gốc. Giâm cành vào nơi thoáng mát, khô ráo, 10 – 15 ngày sau hom ra rễ dài 3 – 5 cm là có thể đem trồng.

          Kỹ thuật trồng

          Chuẩn bị đất trồng

  • Đất trồng thanh long phải đảm bảo thoát nước tốt.
              - Đối với vùng đất thấp cần đào mương lên líp nhằm xả phèn và nâng cao tầng canh tác: mương rộng 1 – 2 m, líp rộng 6 – 7 m. Sau đó trồng cây trụ, lên mô và bón lót. Líp thiết kế bảo đảm cây nhận được đầy đủ ánh sáng.
              - Đối với vùng đất cao nên đào hố, chọn nơi có nguồn nước để tưới cho cây vào mùa nắng.
              Chuẩn bị cây trụ
              - Có thể dùng trụ xi măng cốt sắt, trụ gạch hoặc trụ gỗ. Tuy nhiên, nếu dùng trụ xi măng cần chú ý vào mùa nắng trụ hấp thụ nhiệt rất mạnh, dễ làm đứt các rễ khí sinh của thanh long, nên dùng rơm rạ, lá chuối hoặc bao tải bao một lớp mỏng xung quanh trụ để giảm bớt hấp thụ nhiệt và tưới nước lên trụ vào sáng sớm hay chiều tối.
              - Trụ xi măng được thiết kế có cạnh ngang hay đường kính 12 – 20 cm, trụ cao cách mặt đất 1,5 – 1,6 m; đối với trụ xi măng phần chôn sâu dưới mặt đất khoảng 0,5 m; phía trên trụ có 4 cọng sắt ló ra dài 30 – 40 cm được bẻ cong theo 4 hướng dùng làm giá đỡ cho thanh long.
              Cách đặt hom
              - Đặt hom cạn từ 2 – 4 cm, đặt phần lõi (đã gọt lớp vỏ bên ngoài) xuống đất để tránh thối gốc. Mỗi trụ trồng 3 – 4 hom.
              - Đặt áp phần phẳng của hom vào mép trụ tạo điều kiện thuận lợi cho cành ra rễ và bám sát vào trụ.
              - Cố định hom sát vào cây trụ để tránh gió làm lung lay và đổ ngã. Vào mùa nắng sau khi trồng nên tủ gốc bằng rơm rạ mục để giữ độ ẩm.
              Tủ gốc giữ ẩm
              Tủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa nắng bằng rơm rạ, cỏ khô, xơ dừa, rễ lục bình, tủ cách gốc 5 – 10 cm. Biện pháp này cũng tránh được cỏ dại đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp một lượng dinh dưỡng cho đất.
    Tỉa cành, tạo tán
              Sau trồng 2 - 3 tuần, khi cây đã ra nhiều chồi, tiến tỉa bỏ những ốm yếu, nhỏ, nhánh nảy ngang (nhánh tai chuột.
              - Uốn cành: Khi cành dài vượt khỏi đỉnh trụ khoảng 30 – 40 cm, tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ.
              - Khi cành đâm chồi: Chọn 1 – 2 chồi phát triển tốt để lại. Tốt nhất nên tỉa bỏ một số chồi/cành chừa lại 3 – 4 nhánh có bẹ to, khoẻ cho leo lên giàn trụ để tạo tán.
              - Từ năm thứ 2 cần tiến hành tỉa nhẹ đồng thời tạo tán và định hình cho cây.
              - Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ trung bình chỉ chừa khoảng 100 cành, lúc này trên đầu trụ số cành đã phân bố khá dày.
              - Một số cành già đã từng cho trái trong những năm đầu, nằm khuất bên trong, nếu giữ lại sẽ không cho trái hoặc cho trái nhỏ, cần phải tỉa bớt làm thông thoáng tán cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi cành mới.
              Ngoài các đợt tỉa cành chính, sau khi cây cho trái: Hết mùa thu hoạch trái, tỉa bỏ cành cũ bên trong tán, cắt ngang cành và cách gốc 30 – 40 cm nhằm làm giá đỡ cho cây. Cành vừa cho trái vụ trước nên để lại nuôi chồi mới (chỉ để lại 1 chồi trên cành mẹ) khi cành dài 1,2 – 1,5 m thì cắt đọt cành con tạo điều kiện cho cành mập và nhanh cho trái. Chú ý tỉa cành cần giữ cho tán cây cân đối, không bị lệch tán.
              Phân bón
              Thời kỳ kiến thiết cơ bản (1 – 2 năm đầu sau khi trồng)
              * Năm thứ 1
              - Phân hữu cơ: Được áp dụng vào 1 ngày trước khi trồng và 6 tháng sau khi trồng, với liều lượng 5 – 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg Super lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 1 - 2 kg/trụ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
              - Phân hóa học: Một tháng sau khi trồng, bón 50 - 80 gam urea + 100 - 150 gam NPK 20-20-15/trụ. Định kỳ bón 1 tháng/lần. Cách bón: rải phân xung quanh gốc (cách gốc 20 – 40 cm), dùng rơm tủ lên và tưới nước.
    * Năm thứ 2
              - Phân hữu cơ: Bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa, với liều lượng 15 – 20 kg phân chuồng hoai + 1 kg Super lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 3 - 4 kg/trụ.
              - Phân hóa học: Định kỳ bón 1 tháng/lần bón với liều lượng bón 80 - 100 gam urea + 150 - 200 gam NPK 20 - 20 - 15/trụ.
              Thời kỳ kinh doanh (Giai đoạn kinh doanh từ năm 3 trở đi)
              * Phân hữu cơ:
              Bón 2 lần (đầu và cuối) mùa mưa, với liều lượng 20 - 30 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg supe lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Có thể sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh thay thế cho phân chuồng, với liều lượng 3 - 5 kg/trụ.
              * Phân hóa học
              - Giai đoạn trước khi ra hoa: Tỷ lệ NPK thích hợp cho giai đoạn này là (1:2:2) hoặc (1:3:2).
              - Giai đoạn nuôi nụ và nuôi trái: Sử dung phân bón có tỷ lệ N và K cao hơn P với tỷ lệ (3:1:2), (2:1:2), (2:1:3), (1:1:1); thêm chất điều hoà sinh trưởng GA3, NAA lúc nhú nụ và khi kết thúc thụ phấn.
    Mùa thuận (chính vụ), chia làm 4 lần bón:
              + Lần 1: Sau khi kết thúc vụ nghịch (đợt thắp đèn cuối cùng), tùy tình trạng sức khoẻ của cây, có thể áp dụng một trong các tỷ lệ NPK (1:1:0,75) như NPK 20 - 20 - 15 + TE; tỷ lệ (2:2:1) như NPK 16 - 16 - 8 + TE, với lượng dùng từ 400 - 500 g/trụ. Kết hợp phun phân bón lá có hàm lượng N cao như NPK 30 - 10 - 10 từ 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày.
              + Lần 2: Trước khi cây ra hoa, bón 400 - 500 gam/trụ phân NPK 20 - 20 - 15 + TE hoặc 500 - 700 gam phân NPK 16 - 16 - 8 + TE, có thể sử dụng thêm phân bón lá có hàm lượng P cao như NPK 10 - 60 - 10.
              + Lần 3: Khi cây đã có nụ hoa, bón 300 - 400 gam/trụ phân NPK 24 - 10 - 22 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6 - 12 + TE hay NPK 15 - 15 - 15 + TE.
              + Lần 4: Bón cách lần thứ 3 khoảng 40 - 45 ngày, với lượng 300 - 400 gam/trụ NPK 24 - 10 - 22 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6-12 + TE, kết hợp phun phân bón qua lá, Canxi, Bo.
    Mùa trái vụ (thắp đèn):
              + Lần 1: Trước khi thắp đèn 15 ngày, bón 400 - 500 gam phân NPK 8 - 16 - 16 + TE, có thể bổ sung phân bón qua lá như NPK 10 - 60 - 10 + TE hay NPK 6 - 30 - 30 + TE theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.
              + Lần 2: Khi cây đã bung nụ hoa, khoảng 3 - 5 ngày sau khi ngưng đèn, bón 400 - 500 gam/trụ phân NPK 18 - 6 - 12 + TE hoặc 300 - 500 gam phân NPK 22 - 10 - 24 + TE, bổ sung thêm phân bón qua lá NPK 30 - 10 - 10, phun định kỳ 7 - 10 ngày/lần.
              + Lần 3: Bón cách lần 2 khoảng 40 - 45 ngày với lượng 300 - 400 gam/trụ NPK 24 - 10 - 20 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6 - 12 + TE, kết hợp phun phân bón qua lá, Canxi, Bo
              Cách bón: Rải đều trên mặt đất quanh trụ, xới nhẹ cho hạt phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó tủ bằng rơm, rạ hoặc cỏ khô. Sau đó tưới nước cho phân tan.
              Tưới nước
              Tuy cây thanh long là cây chịu hạn tốt, nhưng nắng hạn kéo dài sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của cây thanh long và làm giảm năng suất. Biểu hiện của thiếu nước là: cành mới hình thành ít, cành phát triển chậm, cành bị teo lại và chuyển sang màu vàng, tỷ lệ rụng hoa ở các đợt hoa đầu tiên cao >80%, quả bé. Do đó, cần tưới nước thường xuyên cho cây, tùy theo độ ẩm của đất mà chu kỳ tưới cho cây có thể thay đổi 1 – 7 ngày/lần.
    2. Phòng trừ sâu bệnh hại gây hại phổ biến
    Các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và biện pháp phòng trừ:
TTGiai đoạnĐối tượngPhòng trừ (theo liều lượng khuyến cáo)
1

 

 

Kiến thiết cơ bản

 

 

 

Rệp sáp

- Vệ sinh vườn

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bơm xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp đeo bám. Phun dầu khoáng (Petroleum spray oil)

- Ngoài ra có thể sử dụng một số thuốc hóa học chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Chlorpyrifos Methyl; Spirotetramat, Pymetrozine,…

  Thán thư

- Vệ sinh đồng ruộng. Trong vườn nên bón nhiều phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma.

- Biện pháp hóa học: Phun thuốc trừ nấm gốc đồng sau khi thu hoạch và khi có nụ hoa. Phun thuốc gốc Propineb khi vừa đậu trái và một số thuốc có hoạt chất như Azoxytrobin, Chlorothalonil, Mancozeb, Kasugamycin,…

  Thối cành

- Cung cấp đủ nước, bón phân cân đối.

- Cắt bỏ cành bị bệnh và đem tiêu hủy.

- Khi phát hiện mới có bệnh dùng các thuốc có chứa hoạt chất như Mancozeb, Azoxytrobin, Chitosan, Propineb,…

 

  Đốm nâu

- Vệ sinh vườn cây, bón phân cân đối, sử dụng giống sạch bệnh.

-    Dùng nấm Trichoderma trộn với phân hữu cơ bón vào gốc để tăng khả năng kiểm soát nguồn bệnh trong đất.

- Cuối mùa khô tiến hành rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 1 – 2 tấn/ha.

- Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Phosphorus acid; các loại thuốc gốc đồng; hoạt chất Azoxystrobin,   Hexaconazole,  Mancozeb, Fluoxastrobin + Chlorothalonil.

  Vàng bẹ, rám cành

- Tuyệt đối không tưới nước vào buổi trưa nắng nóng.

- Bón phân cân đối. Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng lân, canxi, magiê cao.

- Ở những cành đã bị bệnh nặng (thối phần thịt lá), cần tỉa bỏ cành và tiêu hủy, đồng thời tiến hành phun thuốc trừ bệnh. Có thể sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất như Kasugamycin, Azoxytrobin, Mancozeb, …

2Kinh doanhRệp sáp- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản
  Rầy mềm

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bảo tồn thiên địch. Phun dầu khoáng nồng độ 0,5 – 1%.

- Sử dụng thuốc chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Pymetrozine,… theo liều lượng khuyến cáo và luân phiên nhau.

 

  Bọ xít

- Vệ sinh vườn, phát quang, bón phân chuồng hoai; tạo điều kiện thuận lợi cho kiến vàng, ong kí sinh phát triển

- Tỉa cành để các đọt non và hoa ra tập trung.

- Bắt bằng tay bọ xít trưởng thành.

- Phòng trị bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như Etofenprox, Pymetrozine,... luân phiên nhau và theo liều lượng khuyến cáo.

  Ruồi đục quả

- Vệ sinh đồng ruộng

- Xử lý cho ra hoa đồng loạt trên diện tích lớn để dễ quản lý.

 - Biện pháp bao trái có tác dụng hạn chế ruồi đục trái. Bao trái sau khi hoa thụ phấn 3 – 4 ngày.

- Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugennol, chế phẩm Protein thủy phân để dẫn dụ.

  Bọ trĩ

- Tỉa cành thông thoáng; Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên trái non để rữa trôi bọ trĩ.

- Bảo tồn thiên địch.

- Phun dầu khoáng DC Tron plus nồng độ 0,5 –1%.

- Thăm vườn thường xuyên, nếu phát hiện bọ trĩ có mật số cao nên sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV: Abamectin, Emamectin Benzoate, Spinetoram và Emamectin Benzoate+Matrine, Garlicin vào thời điểm bọ trĩ gây hại

  Thán thư- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản
  Thối cành- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản
  Đốm nâu- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản
  Vàng bẹ, rám cành- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản
  

 

 

Thối trái

- Vệ sinh vườn và tiêu huỷ cành, nụ bông và trái bị nhiễm bệnh từ vụ trước.

-  Bón vôi cho toàn bộ vườn thanh long với liều lượng khoảng 1-2kg/ trụ.

- Có thể phun ngừa bệnh bằng thuốc gốc đồng, Chitosan, Kasugamycin…Phun phủ toàn bộ trụ thanh long.

Lưu ý: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Trung tâm Khuyến nông./.


Chuyên mục “Các vấn đề cần quan tâm về giống, kỹ thuật canh tác, BVTV đối với cây Xoài cát chu”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục “Các vấn đề cần quan tâm về giống, kỹ thuật canh tác, BVTV đối với cây Xoài cát chu”/PublishingImages/2018-10/TTKN-CM XOAI.jpg
5/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MỤC

“Các vấn đề cần quan tâm về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật đối với cây Xoài cát chu”

Thời gian thực hiện: tháng 4/2020

Địa điểm: xã Thạnh Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh

Nội dung

1. Các vấn đề cần quan tâm về giống trên cây Xoài cát chu 

Đặc điểm giống

Xoài cát chu: Dạng trái hơi tròn, trọng lượng trung bình 250 – 350g. Quả chín cho vị ngọt thanh và mùi thơm dễ chịu. Ngoài ra, quả chín ít xơ, thịt quả có độ dai nhẹ và có màu vàng hơi đỏ. Đây là giống xoài ra hoa tập trung và dễ đậu trái, năng suất rất cao (400kg/cây/năm, cây khoảng 10 năm tuổi) và khá ổn định. Độ ngọt 18 - 20%, tỷ lệ phần ăn được cao 78 - 80%.

Tiêu chuẩn cây giống

Chọn mua cây giống tại những cơ sở có uy tín, chọn cây khỏe mạnh, không nhiễm sâu, bệnh, chọn nhân giống theo phương pháp vô tính (gốc ghép) để rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, cây ra trái ổn định (sau 3 năm cho trái).

Nên chọn những cây giống có gốc ghép được trồng từ hạt của những cây xoài đã được trồng nhiều năm, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của địa phương nhằm giúp cây phát triển tốt về sau.

Tiêu chuẩn cụ thể:

- Gốc ghép phải có thân và cổ rễ thẳng, vỏ không bị tổn thương đến phần gỗ, có quét keo hoặc các chất tương tự, không bị dập,…

- Đường kính gốc ghép (đo phía dưới vết ghép khoảng 2cm) từ 1.2-1,7cm trở lên.

- Vị trí ghép: Cách mặt giá thể của bầu ươm từ 22-23 cm.

- Vết ghép: phải liền và tiếp hợp tốt.

- Bộ rễ phát triển tốt, có nhiều rễ tơ, rễ cọc không cong vẹo.

- Thân thẳng, vững chắc.

- Các lá ngọn trưởng thành, xanh tốt, lá có hình dạng và kích thước đặc trưng của giống.

- Số tầng lá (cơi lá); có 2 tầng lá trở lên.

- Chiều cao cây giống (tính từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi): từ 60-80 cm.

- Đường kính gốc ghép (đo phía trên vết ghép khoảng 2cm) từ 1 cm trở lên.

- Mức độ khác biệt về hình thái cây giống không vượt quá 5% số lượng cây giống.

- Cây giống đang sinh trưởng khỏe, không mang các dịch hại chính như: bệnh thán thư, phấn trắng, nhện, rệp sáp,…

- Tuổi xuất vườn: sau khi ghép 4-5 tháng.

2. Các vấn đề cần quan tâm về kỹ thuật canh tác

- Xoài là cây đại thụ, sống rất lâu từ 30-50 năm, do đó có thể trồng thưa (cách khoảng 8m x 8m, hoặc 10m x 10m), có thể trồng dày hơn (5m x 6m) rồi sau đó tỉa thưa dần.

- Thời kỳ cây mới trồng từ 1-3 năm tuổi, cây sinh trưởng mạnh hầu như quanh năm để hoàn thiện bộ khung tán do đó cần cung cấp đủ phân, đủ nước, diệt trừ cỏ dại thường xuyên để tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng.

- Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản việc tưới nước có thể tiến hành quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần. Càng về sau số lần tưới càng ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc.

- Để hạn chế bớt cỏ dại và ngăn cản quá trình bốc hơi nước ta nên dùng rơm rác mục, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc cây.

- Bón phân: Công thức phân bón cho cây xoài có thể thay đổi, tăng giảm tuỳ theo điều kiện: tuổi cây, đất, sản lượng thu hoạch vụ trước... Có thể tham khảo lượng phân bón sau:

Tuổi câyUre (g/cây)

Super lân

(g/cây)

Sunfat Kali

(g/cây)

Phân hữu cơ

(kg)

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

hơn 10

150

300

450

600

750

900

1050

1200

1350

1500

2.000 - 4.000

300

600

900

1200

1500

1800

2100

2400

2700

3000

3.000 - 6.000

100

200

300

400

500

600

700

800

900

1000

1.300 - 2.600

30-60 kg/cây/năm

- Thời kỳ bón:

+ Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Lượng phân của năm 1 nên được chia đều thành 5-6 lần, bón và cung cấp cho cây dưới dạng dung dịch tưới quanh gốc cây. Lượng phân của năm thứ 2 cũng nên được chia đều 5-6 lần bón.

+ Thời kỳ kinh doanh: Từ khi cây bắt đầu cho trái việc cung cấp phân bón nên tương ứng với các giai đoạn phát triển của cây.

Lần 1: Bón ngay sau tỉa cành sau thu hoạch: 60% lượng đạm cả năm + 60% lượng lân + 40% lượng kali.

Lần 2: Khi chuẩn bị cho xoài ra hoa, bón 40% lượng lân còn lại + 30 % lượng kali.

Lần 3: 3 tuần sau khi đậu trái (trái có đường kính khoảng 1cm) bón 20 % lượng đạm +15 % lượng kali + 25% phân hữu cơ.

Lần 4: khoảng 8-10 tuần sau khi đậu trái, bón hết lượng phân còn lại.
Lưu ý:
+ Những năm được mùa, xoài cho nhiều quả, cần phun bổ sung canxi nitrat và sunfat kali.
+ Nếu thấy cây ra nhiều lá và lá bóng láng cần giảm bớt lượng phân đạm.
+ Trước khi ra hoa nên phun các loại phân bón lá hoặc phân vi lượng để đảm bảo cho xoài có đủ các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết và kích thích cho cây ra nhiều hoa, đậu nhiều trái.
+ Xoài bị thiếu kali cho trái nhỏ, chát. Vì vậy cần bón đủ kali để trái to,  ngọt.
3. Các vấn đề cần quan tâm về phòng trừ sâu bệnh hại
Biện pháp phòng trừ một số loại sâu bệnh hại gây hại phổ biến

  • Sâu đục trái, ruồi đục trái, rầy bông xoài, rệp sáp, bọ trĩ, sâu đục thân: bao trái; tỉa cành, tạo tán để tạo thông thoáng, vệ sinh vườn thường xuyên; sử dụng các loại bẫy dẫn dụ. Nếu phát hiện có trên 2% trái bị nhiễm trên tồng số trái trên cây thì tiến hành phun thuốc BVTV; bảo tồn thiên địch. Cần phát hiện sớm sự gây hại (quan sát phần chóp trái khi sâu chưa kịp đục vào trong hột) để phòng trị kịp thời. Một số hoạt chất có thể sử dụng như: Emamectin benzoate, Spinosad, Abamectin, Dầu Khoáng…
  • Bệnh thán thư, xì mủ trái, phấn trắng, thối trái, khô đọt: Tạo thông thoáng cho vườn (mật độ cây trồng hợp lý, tỉa cành tạo tán), cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái bị bệnh. Một số hoạt chất có thể sử dụng như:  Azoxystrobin, Thiophanate-methyl, Citrus oil, Carbendazim, Mancozeb (thán thư); Fluopicolide + Fosetyl alumilium, Amisulbrom (xì mù trái); Hexaconazole, Chlorothalonil (phấn trắng); Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole +Propiconazole (thối trái, khô đọt).

- Lưu ý: Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất. Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Trung tâm Khuyến nông./.


Chuyên mục Nâng cao hiệu quả mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thônThời gian: Ngày 18/3/2020 tại Trạm cấp nước ấp Phước Tân 2, xã Phan, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây NinhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Thủy lợiChuyên mục Nâng cao hiệu quả mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thônThời gian: Ngày 18/3/2020 tại Trạm cấp nước ấp Phước Tân 2, xã Phan, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2020-03/20200318_082148_Key_30032020101733.jpg
3/30/2020 11:00 AMNoĐã ban hành
Chuyên mục Nâng cao hiệu quả mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn -  Thời gian: Ngày 18/3/2020 tại Trạm cấp nước ấp Phước Tân 2, xã Phan, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây NinhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Thủy lợiChuyên mục Nâng cao hiệu quả mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn -  Thời gian: Ngày 18/3/2020 tại Trạm cấp nước ấp Phước Tân 2, xã Phan, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2020-03/20200318_082148_Key_30032020102054.jpg
3/30/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

1. "Nêu tóm tắt tình hình mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn ở Tây Ninh thời gian qua."Đánh giá hiệu quả? 

        a) Tóm tắt tình hình mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn ở Tây Ninh thời gian qua

- Về công trình cấp nước sạch nông thôn: Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 76 công trình cấp nước tập trung phân bổ rộng khắp các các địa bàn 09 huyện, thị xã, thành phố; Đa số công trình cấp nước tập trung nông thôn có công nghệ xử lý nước đơn giản, quy mô, công suất nhỏ, công suất thiết kế từ 50 đến 500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khu vực dân cư tập trung từ 50-500 hộ dân, tổng công suất hoạt động đạt 79,74% công suất thiết kế (8.602/10.787 m3/ngày.đêm), tổng số hộ sử dụng nước: đạt 92,86% số hộ thiết kế (18.442/19.859 hộ), với tổng chiều dài tuyến ống cấp nước khoảng 540km.

- Công tác quản lý công trình cấp nước nông thôn, gồm 02 mô hình: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (Ủy ban nhân dân xã quản lý 06/76 công trình), trong đó: 48 công trình hoạt động hiệu quả, 22 công trình hoạt động bình thường, 01 công trình tạm dừng hoạt động; về chất lượng nước, thực hiện lấy mẫu nước giám sát định kỳ, kết quả 65/65 công trình cấp nước tập trung đạt QCVN 02: 2009/BYT ban hành kèm theo Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ Y tế (các công trình còn lại đang trong giai đoạn nâng cấp, sửa chữa, đấu nối, hòa mạng lưới cấp nước nên không đánh giá hiệu quả hoạt động, lấy mẫu nước để xét nghiệm, đánh giá chất lượng nước).

        - Ngoài ra, để thu hút, tạo điều kiện cho tư nhân tham gia đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 1351/QĐ-UBND ngày 31/5/2016, gồm có 33 công trình (06 công trình xây mới, 27 công trình nâng cấp sửa chữa); đồng thời quy định mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh tại Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 23/02/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (Ngân sách nhà nước hỗ trợ 90% giá trị quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với các xã biên giới theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, không phải hoàn trả ngân sách nhà nước; Ngân sách nhà nước hỗ trợ 75% giá trị quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với vùng nông thôn khác,phải hoàn trả ngân sách nhà nước bằng khấu hao cơ bản tài sản cố định theo quy định); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai, mời gọi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp nước sạch tiếp cận, nghiên cứu thực hiện đầu tư dự án cấp nước sạch nông thôn; kết quả, đã có 05 doanh nghiệp đăng ký tiếp cận, nghiên cứu, khảo sát, trong đó: 01/05 doanh nghiệp đang triển khai thực hiện dự án tại; 04/05 doanh nghiệp còn lại, chưa có ý định đề xuất dự án để tỉnh xem xét, quyết định chủ trương đầu tư làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện.

- Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ công trình cấp nước hộ gia đình theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018, theo đó: Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ có mục tiêu cho Ủy ban nhân dân 06 huyện, thị xã giai đoạn 2018-2020: 41,18 tỷ đồng/7.514 hệ thống xử lý nước, trong đó: Đã thực hiện năm 2018, năm 2019 là 20,51 tỷ đồng/3.526 hệ thống (năm 2018: 8,32 tỷ đồng/1.415 hệ thống; năm 2019: 12,19 tỷ đồng/2.111 hệ thống); dự kiến năm 2020: 20,67 tỷ đồng/3.988 hệ thống.

b) Đánh giá hiệu quả công tác cấp nước trong thời gian quan

- Công trình cấp nước nông thôn phát huy hiệu quả đầu tư, cụ thể: cấp nước cho 18.442 hộ, đạt 92,86% so với số hộ thiết kế (hộ thiết kế: 19.859 hộ), công suất hoạt động đạt 79,74% công suất thiết kế (8.602/10.787 m3/ngày.đêm), công tác thu tiền nước đảm bảo duy tu sửa chữa nhỏ để duy trì hoạt động cấp nước.

- Giúp hộ dân nông thôn được tiếp cận với nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế, giảm chi phí về y tế do sử dụng nước ô nhiễm gây ra; nâng tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận, sử dụng nước sạch góp phần đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

2. "Nêu thuận lợi, khó khăn trong công tác mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh"

a) Thuận lợi

Một là, Ban hành danh mục, chính sách mời gọi đầu tư làm cơ sở để doanh nghiệp đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn tiếp cận, nghiên cứu thực hiện dự án; sự phối hợp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các sở, ngành trong việc hướng dẫn doanh nghiệp khảo sát thực tế, tham vấn cộng đồng về nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân.

Hai là, Việc quản lý, khai thác vận hành công trình cấp nước tập trung với mô hình đơn vị sự nghiệp do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành là phù hợp, mang tính bền vững, việc xác lập hồ sơ công trình, kê khai tài sản công trình,… được triển khai thực hiện, số hộ cấp nước và doanh thu hàng năm tăng, cơ bản đảm bảo cân đối thu chi, sửa chữa nhỏ để duy trì hoạt động cấp nước theo quy định.

Ba là, Việc cung cấp sản phẩm nước sạch hiện nay được xem là một loại dịch vụ, người dân nông thôn được xem là khách hành để cơ quan nhà nước phục vụ; chất lượng nước cung cấp phải đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Y tế; bên cạnh đó, Nhân dân sử nước nước sạch từ công trình cấp nước tập trung nông thôn được Ngân sách nhà nước hỗ trợ giá nước sinh hoạt (mức giá thu tiền nước đối với hộ dân nông thôn 5.500 đồng/1m3, mức giá nói trên do người dân nông thôn chi trả, Ủy ban nhân tỉnh cấp bù giá nước nông thôn và bước đầu bảo đảm tối thiểu các chi phí để duy trì vận hành và trích nộp các nghĩa vụ thuế theo quy định).

Bốn là, Người dân đồng tình ủng hộ về chính sách mời gọi đầu tư xây dựng các công trình nước sạch, giúp người dân có điều kiện tiếp cận, sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT, đồng thời phấn đấu đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới; nâng tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận, sử dụng nước sạch đạt Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020.

b) Khó khăn

Một là, Công tác triển khai chính sách mời gọi doanh nghiệp đầu tư xây dựng các công trình nước sạch được triển khai từ năm 2017 nay, tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tiếp cận, tìm kiếm cơ hội đầu tư rất ít (05 doanh, tuy nhiên có 01/05 doanh nghiệp là Cổ phần Tư vấn - Thiết kế - Xây dựng - Công nghệ môi trường Hùng Phương tham gia thực hiện dự án); do công trình cấp nước sạch nông thôn mời gọi đầu tư thường có quy nhỏ, nằm khu vực các xã biên giới; kinh phí đầu tư lớn trong khi dân cư nông thôn sinh sống phân tán và người dân nông thôn có thói quen sử dụng nước giếng khoan nhỏ, lẻ (do không phải tốn chi phí gắn đồng hồ đo nước, trả tiền sử dụng nước sạch hàng tháng); khả năng thu hồi nguồn vốn đầu tư chậm, lợi nhuận thấp, do đó chưa khuyến khích nhà đầu tư.

Hai là, công trình cấp nước sạch nông thôn quy mô đầu tư nhỏ, xây dựng chủ yếu từ năm 2000-2005, hạng mục công trình xuống cấp (tuyến ống cấp nước, bể chứa, bể lọc, đài nước) làm tăng tỉ lệ thất thoát nước và ảnh hưởng đến chất lượng nước sạch sau xử lý.

Ba là, Mô hình Ủy ban nhân dân xã quản lý, chưa thực sự phù hợp, do năng lực và kinh nghiệm trong quản lý vận hành công trình hạn chế, chưa đảm bảo nguồn lực cho sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng công trình, chưa được thực hiện tính đúng, tính đủ, quy mô đầu tư nhỏ, số hộ sử dụng ít...

c) Giải pháp trong thời gian tới

Để từng bước khắc phục hiện trạng cấp nước sạch nông thôn hiện nay do: Công suất thấp, nhỏ lẻ, phân tán, chưa bao phủ địa bàn các huyện, theo đó định hướng đầu tư các công trình cấp nước có quy mô tập trung, liên xã, liên huyện, công suất lớn, theo đó, định hướng đầu tư, phát triển công trình cấp nước theo kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2021-2025, theo đó, đầu tư 14 công trình cấp nước, với kinh phí khoảng 60 tỷ đồng; đồng thời ngành đang xúc tiến dự án nước sạch và vệ sinh nông thôn bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Tây Ninh, nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới (WB) để đầu tư 02 dự án, với kinh phí khoảng 440 tỷ đồng, cấp nước cho 27.000 hộ dân nông thôn, cụ thể:

- Dự án 1: Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (06 xã: Mỏ Công, Trà Vong, Tân Phong, Tân Bình, Tân Lập, Thạnh Tây); công suất: từ 8.000-10.500 m3.ngày/đêm, cấp nước: khoảng 13.500 hộ; Tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng

- Dự án 2: Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã huyện Châu Thành và Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (10 xã: Ninh Điền, Thành Long, Hòa Thạnh, Hòa Hội, Long Vĩnh huyện Châu Thành và xã: Long Phước, Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh); công suất: từ 8.000-10.500 m3.ngày/đêm, cấp nước: khoảng 13.500 hộ; Tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng./.

                                                                          Chi cc Thủy lợi

Chuyên mục Nâng cao hiệu quả mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thônChuyên mục Toạ đàm nhà nôngBài viếtChi cục Thủy lợiChuyên mục Nâng cao hiệu quả mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn/PublishingImages/2020-03/20200318_082148_Key_24032020092441.jpg
3/24/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Thời gian: Ngày 18/3/2020 tại Trạm cấp nước ấp Phước Tân 2, xã Phan, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

1. "Nêu tóm tắt tình hình mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn ở Tây Ninh thời gian qua."Đánh giá hiệu quả? 

        a) Tóm tắt tình hình mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn ở Tây Ninh thời gian qua

- Về công trình cấp nước sạch nông thôn: Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 76 công trình cấp nước tập trung phân bổ rộng khắp các các địa bàn 09 huyện, thị xã, thành phố; Đa số công trình cấp nước tập trung nông thôn có công nghệ xử lý nước đơn giản, quy mô, công suất nhỏ, công suất thiết kế từ 50 đến 500 m3/ngày.đêm, cấp nước cho khu vực dân cư tập trung từ 50-500 hộ dân, tổng công suất hoạt động đạt 79,74% công suất thiết kế (8.602/10.787 m3/ngày.đêm), tổng số hộ sử dụng nước: đạt 92,86% số hộ thiết kế (18.442/19.859 hộ), với tổng chiều dài tuyến ống cấp nước khoảng 540km.

- Công tác quản lý công trình cấp nước nông thôn, gồm 02 mô hình: đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý 70/76 công trình), cộng đồng quản lý (Ủy ban nhân dân xã quản lý 06/76 công trình), trong đó: 48 công trình hoạt động hiệu quả, 22 công trình hoạt động bình thường, 01 công trình tạm dừng hoạt động; về chất lượng nước, thực hiện lấy mẫu nước giám sát định kỳ, kết quả 65/65 công trình cấp nước tập trung đạt QCVN 02: 2009/BYT ban hành kèm theo Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ Y tế (các công trình còn lại đang trong giai đoạn nâng cấp, sửa chữa, đấu nối, hòa mạng lưới cấp nước nên không đánh giá hiệu quả hoạt động, lấy mẫu nước để xét nghiệm, đánh giá chất lượng nước).

        - Ngoài ra, để thu hút, tạo điều kiện cho tư nhân tham gia đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Danh mục công trình cấp nước sạch nông thôn khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 1351/QĐ-UBND ngày 31/5/2016, gồm có 33 công trình (06 công trình xây mới, 27 công trình nâng cấp sửa chữa); đồng thời quy định mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh tại Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 23/02/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (Ngân sách nhà nước hỗ trợ 90% giá trị quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với các xã biên giới theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, không phải hoàn trả ngân sách nhà nước; Ngân sách nhà nước hỗ trợ 75% giá trị quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với vùng nông thôn khác,phải hoàn trả ngân sách nhà nước bằng khấu hao cơ bản tài sản cố định theo quy định); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai, mời gọi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp nước sạch tiếp cận, nghiên cứu thực hiện đầu tư dự án cấp nước sạch nông thôn; kết quả, đã có 05 doanh nghiệp đăng ký tiếp cận, nghiên cứu, khảo sát, trong đó: 01/05 doanh nghiệp đang triển khai thực hiện dự án tại; 04/05 doanh nghiệp còn lại, chưa có ý định đề xuất dự án để tỉnh xem xét, quyết định chủ trương đầu tư làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện.

- Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ công trình cấp nước hộ gia đình theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018, theo đó: Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ có mục tiêu cho Ủy ban nhân dân 06 huyện, thị xã giai đoạn 2018-2020: 41,18 tỷ đồng/7.514 hệ thống xử lý nước, trong đó: Đã thực hiện năm 2018, năm 2019 là 20,51 tỷ đồng/3.526 hệ thống (năm 2018: 8,32 tỷ đồng/1.415 hệ thống; năm 2019: 12,19 tỷ đồng/2.111 hệ thống); dự kiến năm 2020: 20,67 tỷ đồng/3.988 hệ thống.

b) Đánh giá hiệu quả công tác cấp nước trong thời gian quan

- Công trình cấp nước nông thôn phát huy hiệu quả đầu tư, cụ thể: cấp nước cho 18.442 hộ, đạt 92,86% so với số hộ thiết kế (hộ thiết kế: 19.859 hộ), công suất hoạt động đạt 79,74% công suất thiết kế (8.602/10.787 m3/ngày.đêm), công tác thu tiền nước đảm bảo duy tu sửa chữa nhỏ để duy trì hoạt động cấp nước.

- Giúp hộ dân nông thôn được tiếp cận với nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế, giảm chi phí về y tế do sử dụng nước ô nhiễm gây ra; nâng tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận, sử dụng nước sạch góp phần đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

2. "Nêu thuận lợi, khó khăn trong công tác mời gọi đầu tư, quản lý khai thác công trình cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh"

a) Thuận lợi

Một là, Ban hành danh mục, chính sách mời gọi đầu tư làm cơ sở để doanh nghiệp đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn tiếp cận, nghiên cứu thực hiện dự án; sự phối hợp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các sở, ngành trong việc hướng dẫn doanh nghiệp khảo sát thực tế, tham vấn cộng đồng về nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân.

Hai là, Việc quản lý, khai thác vận hành công trình cấp nước tập trung với mô hình đơn vị sự nghiệp do Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành là phù hợp, mang tính bền vững, việc xác lập hồ sơ công trình, kê khai tài sản công trình,… được triển khai thực hiện, số hộ cấp nước và doanh thu hàng năm tăng, cơ bản đảm bảo cân đối thu chi, sửa chữa nhỏ để duy trì hoạt động cấp nước theo quy định.

Ba là, Việc cung cấp sản phẩm nước sạch hiện nay được xem là một loại dịch vụ, người dân nông thôn được xem là khách hành để cơ quan nhà nước phục vụ; chất lượng nước cung cấp phải đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Y tế; bên cạnh đó, Nhân dân sử nước nước sạch từ công trình cấp nước tập trung nông thôn được Ngân sách nhà nước hỗ trợ giá nước sinh hoạt (mức giá thu tiền nước đối với hộ dân nông thôn 5.500 đồng/1m3, mức giá nói trên do người dân nông thôn chi trả, Ủy ban nhân tỉnh cấp bù giá nước nông thôn và bước đầu bảo đảm tối thiểu các chi phí để duy trì vận hành và trích nộp các nghĩa vụ thuế theo quy định).

Bốn là, Người dân đồng tình ủng hộ về chính sách mời gọi đầu tư xây dựng các công trình nước sạch, giúp người dân có điều kiện tiếp cận, sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT, đồng thời phấn đấu đạt chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới; nâng tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận, sử dụng nước sạch đạt Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020.

b) Khó khăn

Một là, Công tác triển khai chính sách mời gọi doanh nghiệp đầu tư xây dựng các công trình nước sạch được triển khai từ năm 2017 nay, tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp tiếp cận, tìm kiếm cơ hội đầu tư rất ít (05 doanh, tuy nhiên có 01/05 doanh nghiệp là Cổ phần Tư vấn - Thiết kế - Xây dựng - Công nghệ môi trường Hùng Phương tham gia thực hiện dự án); do công trình cấp nước sạch nông thôn mời gọi đầu tư thường có quy nhỏ, nằm khu vực các xã biên giới; kinh phí đầu tư lớn trong khi dân cư nông thôn sinh sống phân tán và người dân nông thôn có thói quen sử dụng nước giếng khoan nhỏ, lẻ (do không phải tốn chi phí gắn đồng hồ đo nước, trả tiền sử dụng nước sạch hàng tháng); khả năng thu hồi nguồn vốn đầu tư chậm, lợi nhuận thấp, do đó chưa khuyến khích nhà đầu tư.

Hai là, công trình cấp nước sạch nông thôn quy mô đầu tư nhỏ, xây dựng chủ yếu từ năm 2000-2005, hạng mục công trình xuống cấp (tuyến ống cấp nước, bể chứa, bể lọc, đài nước) làm tăng tỉ lệ thất thoát nước và ảnh hưởng đến chất lượng nước sạch sau xử lý.

Ba là, Mô hình Ủy ban nhân dân xã quản lý, chưa thực sự phù hợp, do năng lực và kinh nghiệm trong quản lý vận hành công trình hạn chế, chưa đảm bảo nguồn lực cho sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng công trình, chưa được thực hiện tính đúng, tính đủ, quy mô đầu tư nhỏ, số hộ sử dụng ít...

c) Giải pháp trong thời gian tới

Để từng bước khắc phục hiện trạng cấp nước sạch nông thôn hiện nay do: Công suất thấp, nhỏ lẻ, phân tán, chưa bao phủ địa bàn các huyện, theo đó định hướng đầu tư các công trình cấp nước có quy mô tập trung, liên xã, liên huyện, công suất lớn, theo đó, định hướng đầu tư, phát triển công trình cấp nước theo kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2021-2025, theo đó, đầu tư 14 công trình cấp nước, với kinh phí khoảng 60 tỷ đồng; đồng thời ngành đang xúc tiến dự án nước sạch và vệ sinh nông thôn bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Tây Ninh, nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới (WB) để đầu tư 02 dự án, với kinh phí khoảng 440 tỷ đồng, cấp nước cho 27.000 hộ dân nông thôn, cụ thể:

- Dự án 1: Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (06 xã: Mỏ Công, Trà Vong, Tân Phong, Tân Bình, Tân Lập, Thạnh Tây); công suất: từ 8.000-10.500 m3.ngày/đêm, cấp nước: khoảng 13.500 hộ; Tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng

- Dự án 2: Xây mới công trình cấp nước sinh hoạt liên xã huyện Châu Thành và Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (10 xã: Ninh Điền, Thành Long, Hòa Thạnh, Hòa Hội, Long Vĩnh huyện Châu Thành và xã: Long Phước, Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh); công suất: từ 8.000-10.500 m3.ngày/đêm, cấp nước: khoảng 13.500 hộ; Tổng mức đầu tư: 220 tỷ đồng./.

                                                                       Nguồn tin: Chi cc Thủy lợi


Công tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác  công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Nước sạch và VSMTNTCông tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác  công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh/PublishingImages/2019-10/TTNS_Ông Lê Thanh Long - PCT UBND XÃ SUỐI DÂY.jpg
Tháng 10 năm 2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã phối hợp với Đài phát thanh và Truyền hình Tây Ninh thực hiện Chuyên mục “Thực hiện công tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh” tại công trình cấp nước Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây, huyện Tân Châu.
Ngoài công trình cấp nước Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây còn có 2 công trình cấp nước tập trung khác, đặt tại ấp 4 và ấp Chăm. Ước tính, có khoảng 1.372 hộ dân sử dụng nước từ những công trình cấp nước này phục vụ sinh hoạt và đời sống hàng ngày với công suất khoảng 545 m3/ngày đêm.
10/24/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

Tháng 10 năm 2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã phối hợp với Đài phát thanh và Truyền hình Tây Ninh thực hiện Chuyên mục "Thực hiện công tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh" tại công trình cấp nước Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây, huyện Tân Châu.

Ngoài công trình cấp nước Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây còn có 2 công trình cấp nước tập trung khác, đặt tại ấp 4 và ấp Chăm. Ước tính, có khoảng 1.372 hộ dân sử dụng nước từ những công trình cấp nước này phục vụ sinh hoạt và đời sống hàng ngày với công suất khoảng 545 m3/ngày đêm.

    Trong quá trình hoạt động, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn và chính quyền địa phương hỗ trợ, phối hợp quản lý, khai thác các công trình cấp nước tập trung để hoạt động đạt hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, sự cố. Từ khi ban hành "Quy chế phối hợp thực hiện công tác quản lý, khai thác, vận hành và bảo vệ các công trình cấp nước trên địa bàn", việc phối hợp quản lý giữa 2 bên lại thêm chặt chẽ, phân rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm.



                         Hình 1: CTCN Ngã ba Bổ Túc Xã Suối Dây                           Hình 2: Ông Lê Thanh Long,  PCT UBND xã Suối Dây 

Định kỳ 3 tháng, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức lấy mẫu, tiến hành xét nghiệm và gửi kết quả xét nghiệm mẫu nước, các kế hoạch khai thác nước, danh sách hộ dân sử dụng nước tại các công trình cấp nước tập trung cho chính quyền địa phương.

Các vụ việc có dấu hiệu vi phạm, mất an ninh trật tự, phá hoại công trình cấp nước, nguồn nước, đường ống, trộm cắp nước được quản lý trạm, chính quyền địa phương phát hiện và có hướng giải quyết kịp thời.

Ngoài ra, chính quyền địa phương còn hỗ trợ, phối hợp trong công tác thu hồi nợ, ngừng cung cấp nước đối với các hộ dân sử dụng nước sạch nhưng không đóng tiền hoặc có hành vi trộm cắp nước sạch…

Việc phối hợp thực hiện công tác quản lý, khai thác, vận hành và bảo vệ các công trình cấp nước với chính quyền địa phương đem lại hiệu quả khá thiết thực. Các công trình cấp nước ở xã Suối Dây luôn hoạt động ổn định và cấp nước liên tục cho người dân sử dụng, chất lượng nước đạt quy chuẩn, tình trạng trộm cắp nước sạch và nợ tiền nước kéo dài hầu như không có. 

Hộ dân sử dụng nước từ công trình cấp nước

Ông Nguyễn Trọng Cảnh - một người dân sử dụng nước tại công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc, xã Suối Dây cho biết gia đình ông rất phấn khởi khi được sử dụng nước sạch của công trình cấp nước, trước đây các hoạt động sinh hoạt chủ yếu dựa nước giếng khoan, tuy nhiên chất lượng không đảm bảo và không được xét nghiệm, kiểm tra chất lượng thường xuyên. Từ khi công trình cấp nước tập trung Ngã ba Bổ Túc được xây dựng và hoạt động, gia đình ông đã chuyển sang sử dụng nước sạch để đảm bảo sức khỏe. Ông cũng cho biết bản thân ông rất có ý thức tiết kiệm nước, khi phát hiện nước bị rò rỉ là báo cho quản lý trạm nước khắc phục kịp thời, tránh lãng phí.

Trong thời gian tới, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ tiếp tục triển khai Quy chế phối hợp với UBND các xã về công tác quản lý, khai thác, vận hành và bảo vệ các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn; thường xuyên thành lập đoàn kiểm tra hoạt động cấp nước do mỗi bên thành lập; khi cần thiết, hai bên cùng tham gia, phối hợp thực hiện. Đồng thời, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ phối hợp chính quyền địa phương giải quyết các vụ việc, sự cố kịp thời, chính xác, khách quan theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh hoạt của các hộ dân./.


Chuyên mục hướng dẫn chọn giống, trồng và chăm sóc cây mít, cây dứaChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinVăn phòng SởChuyên mục hướng dẫn chọn giống, trồng và chăm sóc cây mít, cây dứa/PublishingImages/2018-06/TTKN HT TB.jpg
9/24/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

​Chuyên mục 

Hướng dẫn chọn giống, trồng và chăm sóc cây mít, cây dứa

Thời gian thực hiện: tháng 9/2019
Địa điểm: huyện Trảng Bàng, TP. Tây Ninh

Tính đến đầu năm 2019 cả tỉnh có 1.205 ha mít, tập trung nhiều nhất ở các huyện Tân Châu (180 ha), Châu Thành (255 ha) và Trảng Bàng (145 ha). Chủ yếu là giống mít thái siêu sớm, mít thái lá bàng, mít nghệ.

Dứa là một trong những loại cây trồng mới đang phát triển, chiếm diện tích nhỏ so với các cây trồng khác trên địa bàn, nhưng đang được xem là một trong những cây ăn trái đặc thù của tỉnh trong thời gian tới. Theo nội dung cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, dự kiến đến năm 2020 tăng diện tích trồng dứa và một số loại cây ăn quả đặc sản có giá trị cao lên khoảng 3.000 ha. Diện tích gieo trồng vào khoảng 60 ha tập trung chủ yếu tại các huyện Bến Cầu, Trảng Bàng. Hiện nay, tỉnh đang phát triển thêm vùng nguyên liệu tại các huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu…Giống được trồng phổ biến hiện nay là giống dứa Queen.

Sâu bệnh hại cây dứa

1. Sâu hại

1.1. Rệp sáp (Dysmycocus sp.)

Hình thái và cách gây hại:

Rệp sáp rất phổ biến trên các vùng trồng dứa, chúng xuất hiện nhiều trong mùa nắng ấm, rệp sáp tấn công trên rễ, chồi, thân, lá, hoa và trái của cây dứa và rất nguy hiểm vì truyền bệnh héo khô đầu lá.

Phòng trị:

+ Phòng trị kiến sống cộng sinh với rệp sáp.

+ Nhổ bỏ và tiêu hủy các cây bị hại nặng.

+ Nhúng gốc cây con trước khi trồng vào dung dịch thuốc Oncol 20 EC (pha 40ml trong 10 lít nước).

+ Khi rệp sáp hại dứa đạt tới mật độ 7 – 10 con/cây tiến hành biện pháp diệt trừ bằng phun dầu khoáng và Phun 1 trong các loại thuốc như: Applaud 10WP, Mospilan 3EC, Wellof 330 EC,…liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

1.2. Nhện đỏ (Dolichotetranycus sp.)

Hình thái và cách gây hại:

Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ (0,25 mm), chúng thường xuất hiện trong mùa nắng, tập trung vào các bẹ lá để chích hút nhựa. Cây bị nhện tấn công thường có bộ lá kém phát triển, các lá có màu nâu xám và sần sùi và phần ngọn lá bị khô héo. Nhện đỏ còn tấn công trên trái non làm trái bị biến dạng, kém phát triển và giảm giá trị kinh tế. 

Phòng trị:

Trong mùa nắng nên quan sát thật kỹ để kịp thời phát hiện nhện đỏ và cần phun các loại thuốc trừ nhện như: phun 1 trong các loại thuốc có hoạt chất như: Abamectin , Azadirachtin , Matrine , Citrus oil theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

2. Bệnh hại

2.1. Bệnh héo khô đầu lá (virus Wilt)

Triệu chứng gây hại: Từ chóp lá trở xuống nửa lá chuyển sang màu đỏ nhạt và sau đó chuyển sang đỏ đậm, hai rìa lá cuốn lại từ trên chóp ngọn trở xuống, dần dần toàn lá bị héo và cây sẽ không trổ hoa. Bộ phận rễ bị thối, đầu tiên từ các rễ non và sau đó toàn bộ hệ thống rễ bị thối. Cây có triệu chứng bệnh chỉ nằm rải rác trong lô trồng dứa. Bệnh héo khô đầu lá có tác nhân do virus và được lan truyền bởi rệp sáp trong quá trình chúng chích hút trên cây dứa. Thời gian ủ bệnh có thể từ 3-8 tháng sau khi bị nhiễm. 

Phòng trị: 

+ Chọn chồi giống từ cây mẹ khoẻ mạnh không có rệp sáp và có thể xử lý chồi giống trước khi trồng bằng dung dịch Azodrin 0,2%.

+ Sau thu hoạch nên cắt bớt lá trên cây để tránh tạo điều kiện nóng ẩm giúp rệp sáp phát triển ở mùa tiếp theo. Trường hợp nặng, nên tiêu hủy cây bị nhiễm vì việc trị thường không có hiệu quả kinh tế.

+ Trong điều kiện thâm canh, nên có kế hoạch phun thuốc định kỳ (4-5 lần trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây) để phòng trừ rệp sáp chú ý lần phun cuối cùng trùng vào cuối mùa mưa để hạn chế rệp sáp phát triển mạnh trong mùa khô tiếp theo.

2.2. Bệnh thối đọt, thối rễ (Do vi khuẩn Pseudomonas ananas; nấm Phytophthora nicotianae Phytophthora cinamomi)

Bệnh thối rễ dứa thường xuất hiện nhiều trong mùa mưa nơi có hệ thống thoát nước kém hoặc quá ẩm. Triệu chứng thối ngọn đầu tiên xuất hiện trên các lá ở giữa, lá có màu vàng hoặc hơi nâu, phần tâm ngọn dứa bị thối làm cho ngọn dứa bị héo. Triệu chứng thối rễ cũng tương tự như trên ngọn, điểm khác nhau là toàn bộ lá chuyển sang màu nâu và toàn bộ hệ thống rễ bị thối và dễ dàng đổ ngã. 

Phòng trị: 

+ Mặt liếp trồng dứa cần được làm cao ráo, thoát nước tốt trong khi tưới. Hệ thống mương rãnh phải đảm bảo trong mùa mưa, chồi giống cần xử lý thuốc trừ nấm trước khi đem trồng.

+ Chồi giống dứa trồng chỉ được lấy ở các khu vực không bị bệnh gây hại, trước khi trồng cần được xử lí bằng ngâm chồi trong thuốc gốc đồng như: Bordeaux, Coper Zinc hoặc Alillet 0,2% trong 5 phút.

+ Sau khi trồng cần phun thuốc định kỳ 3-4 tháng để ngăn ngừa bệnh như: phun 1 trong các loại thuốc như: Ridomil Gold , TOP 70WP , Aliette , Nativotheo khuyến cáo của nhà sản xuất.

2.3. Bệnh thối trái, thối gốc chồi (Do nấm Thielaviopsis paradoxa)

Nấm bệnh có thể tấn công ngay vết cắt của cuống trái làm thối cuống trái và đáy trái, nấm cũng tấn công trái bị tổn thương trong lúc vận chuyển. Nhiệt độ và ẩm độ cao là 2 yếu tố gia tăng tỷ lệ bệnh và trái dứa sẽ thối rất nhanh. 

Phòng trị: 

+ Tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh.

+ Nên trồng chồi sạch bệnh, xử lý chồi trước khi trồng. Đối với cây con chưa đem trồng ngay giữ nơi thoáng mát, khô ráo và nên dùng 1 trong các loại thuốc để xử lý bệnh trước khi đem trồng như:Alpine 80WP, hạt vàng 50 WP, Bavistin 50FL, COC -85 theo hướng dẫn

+ Chồi giống sau khi tách khỏi cây mẹ, bó thành bó và dựng ngược dưới nắng để nhanh khô vết thương ở gốc chồi. Không chất đống chồi lên nhau trong thời gian dài trước khi trồng.

+ Sát trùng dụng cụ thu hoạch. Nhúng mặt cắt cuống trái hoặc cả trái vào dung dịch Benzoic acid 10% hay Sodium salicilamit 1%.

 + Thu hoạch nhẹ nhàng tránh làm xây xát trái, tránh bầm giập vết cắt ở cuống   trái (cần chừa cuống trái dài để có thể cắt ngắn khi bán, tạo mặt cắt tươi ở cuống).

+ Không thu hái quả vào những lúc mưa trong mùa hè. Không để đất bám dính vào quả nhất là vào vết cắt trên cuống quả.

+ Sau thu hoạch quả không nên để dứa thành các đống lớn, xếp và vận chuyển cần nhẹ nhàng, nhất là đối với quả dứa Cayen. Khi vận chuyển dứa đi xa, thời gian dài từ 2–3 ngày cần nhúng quả vào dung dịch Benomyl trong vòng 5giờ tính từ lúc hái (pha 400 gr thuốc Benomyl trong 100 lít nước).

2.4. Bệnh thối nhũn trái (Do vi khuẩn Erwinia carotovora)

Bệnh thường xuất hiện khi tồn trữ trái trong các kho vựa hoặc trên các trái chín ngoài đồng. Bệnh gây thối rất nhanh, trong vòng 24 giờ có thể làm thối toàn trái. Bên trong thịt trái có những lỗ hổng to, thịt rời rạc trong khi vỏ bên ngoài vẫn bình thường. Bệnh phá hoại nặng trong mùa mưa. 

Phòng trị: 

Loại bỏ ngay các trái bệnh để tránh lây lan, thu hoạch và vận chuyển tránh làm xây xát. Kho chứa phải thoáng mát, không chất dứa thành đống. Biện pháp hóa học: Phun thuốc khi bệnh mới xuất hiện. Sử dụng các loại thuốc như :Bonny , Kasuran, Starner…..

2.5. Bệnh khô nâu mắt trái (Do vi khuẩn Erwinia ananas)

- Nguyên nhân: vi khuẩn xâm nhập vào trái ở giai đoạn ra hoa, thường xuất hiện trong các tháng có nhiệt độ và ẩm độ không khí cao (cuối mùa khô).

- Triệu chứng gây hại: Bệnh xảy ra trên mắt trái. Vết bệnh có màu rỉ sắt nhạt hay sậm, đôi khi có màu đen. Các mô xung quanh vùng bệnh thì cứng lại. Có thể có nhiều mắt trái bị bệnh trên trái, khi cắt trái ra thấy có những đốm nâu sẫm xen kẻ trên nền thịt trái vàng. Bệnh làm giảm sút phẩm chất trái quan trọng.

Phòng trị: Bố trí vụ thu hoạch vào trước cuối mùa khô.

2.6. Bệnh thối đen (nấm Cerastomella Paradoxa.)

Loại bệnh này có thể gặp cả trên chuối, mía. Bệnh có thể bắt đầu từ ngoài ruộng, phát triển mạnh trong quá trình vận chuyển, có thể dẫn tới mất mát đến 25 %. Điều kiện để bệnh phát triển tốt nhất là ở nhiệt độ 21-32oC và độ ẩm cao.

Phòng trị: 

Có thể ngăn ngừa bệnh bằng cách phun lên quả mới hái dung dịch Axít Benzoic trong cồn, sau đó đem đi bảo quản lạnh.

Sâu bệnh hại Cây mít

* Sâu đục thân: Đẻ trứng lên các lá non, trái non sau đó đục vào thân cành. Phát hiện kịp thời mùn gỗ sâu đùn ra từ lỗ thân, gốc. Dùng thuốc Regent 800 EG hoặc Furadan 3H nhào trộn với đất vườn bít kín lỗ sâu đùn. Định kỳ 10 ngày/ 1 lần phun Diệp lục trừ sâu (sử dụng thuốc không lo quá liều và không cần thời gian cách ly).

* Sâu đục trái: Làm mít bị rụng quả non. Sâu thường hại các vị trí tiếp giáp giữa quả với quả và quả với thân cây. Không nên sử dụng thuốc BVTV để phun phòng trừ. Tốt nhất bao quả sớm bằng túi nilon ngay sau khi cây kết thúc rụng quả sinh lý.

* Ruồi đục quả: Thường đẻ trứng vào trái già, gây thối nhũn quả. Phòng trừ: Bao quả bằng túi nilon trắng (có đục lỗ thoát hơi nước). Kết hợp định kỳ phun Diệp lục trừ sâu.

Trung tâm Khuyến nông./.

Chuyên mục hướng dẫn chọn giống, trồng và chăm sóc cây thanh long, mãng cầu xiêmChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục hướng dẫn chọn giống, trồng và chăm sóc cây thanh long, mãng cầu xiêm/PublishingImages/2019-09/TTKN-Thanh long.jpg
9/24/2019 8:00 AMNoĐã ban hành
CHUYÊN MỤC

Hướng dẫn chọn giống, trồng và chăm sóc cây thanh long, mãng cầu xiêm

Địa điểm thực hiện: huyện Dương Minh Châu và huyện Bến Cầu


1. Chọn giống

Thanh long: hiện nay có nhiều giống (ruột trắng, ruột đỏ, ruột tím hồng), chúng có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện Việt Nam, cho năng suất cao, hình dạng quả đẹp, thời điểm ra hoa từ tháng 4 đến tháng 9, thời gian từ đậu quả đến thu hoạch 28 – 35 ngày. Giống phải có nguồn gốc rõ ràng, cơ sở nhân giống và sản xuất giống phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép. Giống tự sản xuất phải có hồ sơ ghi lại đầy đủ các biện pháp xử lý hom giống, hóa chất sử dụng, thời gian, tên người xử lý và mục đích xử lý.

Mãng cầu xiêm: Tùy theo điều kiện đất đai có thể trồng bằng hạt, chiết hoặc ghép. Nếu đất nhiễm mặn, phèn hoặc vùng đất thấp thường ngập nước nên chọn cây ghép gốc bình bát vì bình bát cùng họ với mãng cầu, mãng cầu ghép với bình bát trái to nhưng độ ngọt thấp hơn. Cây làm mắt ghép nên chọn cây đầu dòng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt có hình dáng trái đẹp, cân đối.

2. Xử lý ra hoa

Thanh long

Cây thanh long thuộc nhóm cây ngày dài, sự ra hoa chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ở miền Nam thanh long bắt đầu ra hoa vào tháng 4 – 9 vì số giờ chiếu sáng trong ngày > 12 giờ (ngày dài). Vì vậy, muốn thanh long ra hoa nghịch vụ vào giai đoạn đêm dài ngày ngắn, một trong những biện pháp hiệu quả nhất hiện nay là tạo chiếu sáng nhân tạo trong thời gian ngày ngắn bằng cách đốt đèn trong một thời gian nhất định giúp cho cây ra hoa đồng loạt.

Phương pháp chiếu đèn: Tùy theo mùa vụ mà số đêm chiếu sáng và thời gian chiếu sáng thay đổi, số giờ chiếu sáng trong ngày càng ít và thời tiết càng lạnh thì số lần chiếu đèn và thời gian chiếu đèn trong đêm càng tăng, số đêm chiếu đèn từ 15 – 20 đêm đồng thời số giờ chiếu đèn/đêm từ 6 – 10 giờ là thanh long có thể ra hoa. Thời gian từ khi ra nụ đến khi hoa nở từ 18 – 21 ngày và từ khi hoa nở đến khi thu hoạch quả từ 28 – 35 ngày. Do đó, tùy theo mục đích và nhu cầu quả trên thị trường mà nhà vườn quyết định thời gian xử lý ra hoa. Loại bóng đèn chiếu sáng có thể sử dụng là loại tròn 75 – 100 W, khoảng cách hợp lý nhất từ bóng đèn đến cành thanh long là 0,5 – 1 m.

Mãng cầu xiêm

Chọn hoa để lấy phấn

Chọn những hoa mọc ở đầu cành nhỏ, hoặc hoa có kích thước nhỏ để lấy phấn. Quan sát thấy những hoa có 3 cánh trong nở hơi lớn, hé mở 1 cánh ra thấy các tiểu nhị có màu hơi đen nhạt, các tiểu nhị bắt đầu tách rời nhau thì có thể cắt để lấy phấn. Cắt hoa lấy phấn vào buổi chiều, để nguyên cả hoa vào hộp đậy kín cho khỏi mất nước. Sáng hôm sau bẻ bỏ hết cánh hoa, rũ nhẹ hoa trên một tờ giấy để tách tiểu nhị ra rồi dùng cọ hay que quấn bông gòn chà nhẹ trên tiểu nhị để tách hạt phấn ra khỏi túi phấn, thường một hoa lấy phấn đủ để thụ phấn cho 6 – 8 hoa. Hạt phấn có màu vàng vàng, được trút vào 1 cái ly nhỏ cho tiện đem ra vườn.

Chọn hoa để thụ phấn

Chọn những hoa mọc trên thân chính, cành lớn và có cuống hoa to, kích thước lớn không có sâu bệnh để thụ phấn. Khi thấy 3 cánh hoa trong he hé tức là nướm đã già, mở nhẹ 3 cánh trong để quan sát nếu thấy nướm nhụy cái tươm mật thì tiến hành thụ phấn.

Cách thụ phấn

Kẹp chặt cuống hoa giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa, dùng ngón cái mở nhẹ một cánh ra, dùng que có quấn bông gòn chấm lên hạt phấn rồi phết nhẹ lên nướm nhụy cái nhẹ nhàng và đều tay, lập lại 3 lần như thế, trái sẽ phát triển đồng đều không bị méo mó. Vài ngày sau, quan sát nếu thấy cuống hoa thụ phấn vẫn xanh và lớn hơn là được; nếu có màu đen là thất bại, nó sẽ héo và rụng. Quả phát triển từ hoa được thụ phấn bằng tay thường to và nở đều.

3. Phòng trừ một số sâu bệnh hại

Thanh long: kiến, rầu mềm, bọ xít, ruồi đục quả, rệp sáp, bệnh thán thư, thối cành, nám cành, thối trái

Mãng cầu xiêm: sâu đục trái, rệp sáp, rầy xanh, bọ xít muỗi, ruồi đục trái, bệnh thối quả, bệnh thối rễ cây, bệnh chết cành

Trung tâm Khuyến nông./.



 “Nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh”Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Nước sạch và VSMTNT “Nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh”/PublishingImages/2019-08/TCN KDC CẦU SÀI GÒN 2.jpg
Nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động các Công trình cấp nước cung cấp nước sạch cho các hộ dân thuộc khu tái định cư trên địa bàn tỉnh, giúp hộ dân có điều kiện để tiếp cận nguồn nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT “Quy chẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt”, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng, thay đổi ý thức sử dụng nước sạch, ổn định nơi ở và sản xuất phù hợp với quy hoạch khu tái định cư
8/5/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

Năm 2019, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Tây Ninh thực hiện Chuyên mục và Tọa đàm nông nghiệp nông thôn Tây Ninh. Trong đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện 03 chuyên mục (Chuyên mục 1: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 2: Chương trình nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 3: Thực hiện công tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh).

          Đến tháng 7/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện 02/3 chuyên mục (Chuyên mục 1: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 2: Chương trình nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh ).

          Chuyên mục 2: Chương trình nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh được thực hiện tại hai địa điểm: ấp Đồng Kèn 2, Tân Thành, Tân Châu và ấp Tân Thuận, Tân Hòa, Tân Châu. Qua đó, phản ánh được tình hình sử dụng nước sạch của người dân khu tái định cư, giúp hộ dân chủ động hơn về nguồn nước sinh hoạt hàng ngày và đánh giá hiệu quả hoạt động của các công trình cấp nước cấp nước cho người dân khu tái định cư trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cấp nước cho người dân khu tái định cư trên địa bàn tỉnh có những thuận lợi và khó khăn:

          * Thuận Lợi:

          + Các công trình cấp nước phát huy hiệu quả cung cấp nước sạch cho người dân tại khu tái định cư trên địa bàn tỉnh;

          + Được sự quan tâm của các cấp, ngành, địa phương hỗ trợ nguồn vốn xây dựng, nâng cấp sửa chữa các Công trình cấp nước tập trung nông thôn cung cấp nước sạch cho các hộ dân thuộc khu tái định cư, góp phần nâng cao đời sống tinh người dân thuộc khu tái định cư, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng tại vùng biên giới.

          + Nhân dân thuộc các khu tái định cư có nhu cầu rất lớn về nước sạch, vì thế rất phấn khởi khi được Nhà nước quan tâm xây dựng, nâng cấp các công trình cấp nước, đây cũng là nguồn động lực rất lớn cho quá trình thực hiện cấp nước sạch khu tái định cư tại vùng biên giới.

          * Khó khăn:

          + Kinh phí đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa các công trình cấp nước khu tái định cư lớn trong khi số lượng hộ dân trong khu tái định cư ít;

          + Một số hộ dân chưa thật sự gắn bó với việc sinh sống ở khu tái định, nhiều trường hợp cấp nước sạch đến tận nhà nhưng hộ dân không đăng ký sử dụng hoặc đăng ký sử dụng nước sạch nhưng chủ hộ thường xuyên không có nhà, không có người bảo quản, dẫn đến đường ống cấp nước và đồng hồ đo nước hộ dân xuống cấp, hư hỏng;

          + Hộ dân thuộc khu tái định có thu nhập mức thấp, trung bình nên khó khăn trong chi trả tiền sử dụng nước sạch hàng tháng; một số lợi dụng chính sách của Nhà nước, gây khó khăn, áp lực trong việc chi trả chi phí sử dụng nước sạch, quản lý đường ống cấp nước.


Chuyên mục kỹ thuật giống, trồng và chăm sóc nhãn Ido và thanh nhãnChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục kỹ thuật giống, trồng và chăm sóc nhãn Ido và thanh nhãn/PublishingImages/2019-06/TTKN Nhan.jpg
6/25/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MỤC 

Kỹ thuật giống, trồng và chăm sóc nhãn Ido và thanh nhãn

Địa điểm thực hiện: xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu


Theo số liệu của sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến đầu năm 2019 cả tỉnh có 4.055 ha nhãn, tập trung nhiều nhất ở các huyện Dương Minh Châu, Hòa Thành và Gò Dầu. Ðây là loại cây ăn trái truyền thống của tỉnh và chủ yếu là nhãn tiêu da bò. Tuy nhiên, cây trồng này không được các doanh nghiệp chế biến thực phẩm quan tâm đầu tư nên việc tiêu thụ chủ yếu thông qua thương lái. Những năm gần đây, diện tích trồng nhãn phát triển mạnh trên địa bàn tỉnh, cho năng suất và chất lượng tốt, đem lại thu nhập ổn định cho nông dân. Trước tình hình bệnh chổi rồng gây hại nghiêm trọng trên giống nhãn tiêu da bò và tình trạng mất giá, ngành Nông nghiệp và PTNT khuyến khích chuyển đổi các giống nhãn tiêu da bò sang các giống nhãn khác có giá trị xuất khẩu như nhãn xuồng, nhãn Ido, thanh nhãn...

Cách chọn cây giống tốt:

- Cây giống phải sạch bệnh, đạt tiêu chuẩn và nguồn gốc xuất xứ.

- Thân cây thẳng, vững chắc. Đối với cây ghép, chiều cao cây giống từ 80 cm trở lên. Đường kính cành giống từ 1,0 -1,2 cm (đo cách vết ghép khoảng 2 cm về phía trên).

- Đối với cây chiếc, chiều cao cây giống từ 60 cm trở lên. Đường kính cành giống từ 0,8 cm trở lên (đo cách mặt giá thể bầu ươm 10 cm).

- Có 2 hoặc hơn 2 cành (đối với cây ghép) và chưa phân cành hoặc có hơn 2 cành (đối với cây chiết). Có 1- 2 đợt lộc mới sinh ra sau ghép hoặc chiết.

- Số lá trên thân chính hiện diện đầy đủ từ vị trí chiều cao cây đến ngọn. Lá đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống.

Một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại chính:

1. Sâu đục thân lá (Acrocercops hierocosma M.)

+ Tỉa cành để các đợt lộc ra tập trung dễ kiểm soát.

+ Thường xuyên vệ sinh vườn, tỉa bỏ những cành già không cho trái bên trong tán, cành vô hiệu, để vườn nhãn luôn được thông thoáng.

+ Ngoài ra loài ong ký sinh củng tiêu diệt được sâu đục gân lá nhãn.

+ Phun thuốc trong giai đoạn cây ra đọt non bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Dimethoate + Fenvalerate, Cypermethrin hoặc các loại thuốc gốc cúc tổng hợp khác.

2. Sâu đục quả

+ Vệ sinh vườn bằng cách thu gom những trái bị hư đem tiêu hủy. Cắt tỉa cành sau khi thu hoạch cho vườn thông thoáng;

+ Bao trái là biện pháp phòng ngừa rất hiệu quả;

+ Dùng đèn với ánh sáng đen (Black light) để bẫy bướm trưởng thành. Có thể sử dụng bao quả để giảm thiệt hại;

+ Dùng thuốc sinh học như Radiant 60SC, phun theo hướng dẫn ghi trên bao bì;

+ Thuốc sinh học Exin 2.0SC có thành phần: Salicylic Acid 20g/l

  • Khoét rãnh tròn quanh gốc cây, cách gốc khoảng 30 cm, pha thuốc rồi đổ vào rãnh.
  • Đổ vào rãnh đã khoét 2 lần cách nhau 7 ngày với liều lượng pha 100ml thuốc với 12 lít nước.
  • Trường hợp vẫn còn thấy xuất hiện sâu, cần thiết đổ lần thứ 3 cách lần 2 sau 15 ngày, pha với liều lượng 100ml thuốc với 25 lít nước.
  • Đối với cây đã lớn, cần đổ khoảng 2 lít nước/cây, và đối với cây nhỏ khoảng 1 lít nước/cây

+ Ở những vườn thường xuyên bị nhiễm nặng hoặc khi mật số sâu cao có thể dùng luân phiên các loại thuốc chứa hoạt chất như: Thiamethoxam, Abamectin,... lúc trái non vừa mới tượng;

+ Phun thuốc nếu có trên 1% số trái trong vườn bị tấn công, có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất như Thiamethoxam, Abamectin, Dimethoate + Fenvalerate, Lambda-cyhalothrin. Khi phát hiện nhiều sâu nên phun lại 1 - 2 lần nếu cần thiết, cách khoảng 7-10 ngày phun một lần.

3. Bọ xít (Tessaratoma papillosa D.)

+ Tỉa cành để các đợt hoa và đọt non ra tập trung;

+ Dùng vợt bắt trưởng thành vào sáng sớm;

+ Trong tự nhiên có các loài thiên địch của Bọ xít như kiến vàng, ong ký sinh có thể tấn công trứng bọ xít; Bảo vệ thiên địch, tạo điều kiện cho ong ký sinh phát triển: ong ký sinh trứng bọ xít như Anastatus sp. và Ooencyrtus sp.

+ Phun thuốc khi thấy mật độ bọ xít cao, có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Lambda-cyhalothrin, Cypermethrin, Alpha-cypermethrin,... phun theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì.

4. Rệp sáp (Pseudococus sp.)

+ Phun nước vào tán cây để rửa trôi rệp;

+ Nên tỉa bỏ những quả bị nhiễm ở giai đoạn đầu để tránh tăng mật độ rệp sáp;

+ Tìm diệt các loại kiến có hại để hạn chế sự lây lan;

+ Hạn chế trồng xen những cây dễ nhiễm rệp sáp như đu đủ, na (mãng cầu), ...;

+ Biện pháp sinh học: có thể dùng dầu neem được chiết xuất từ cây neem (hoặc có thể cây sầu đông) Sử dụng theo sự hướng dẫn trên nhãn sản phẩm để phòng trừ rệp sáp;

+ Phun thuốc khi thấy mật độ rệp cao bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Dimethoate + Fenvalerate, dầu khoáng,... Khi phun có thể kết hợp các loại chất bám dính để tăng hiệu quả của thuốc.

5. Bệnh thối trái (Phytophthora sp.)

+ Để phòng trị bệnh này nên tỉa bỏ các cành gần mặt đất vì khi quả gần chín sẽ dễ bị nhiễm bệnh từ đất trong mùa mưa. Cần lưu ý cắt bỏ và thu gom các trái bị bệnh rơi rụng trong vườn đem tiêu hủy;

+ Khi bệnh chớm xuất hiện có thể sử dụng một trong các loại thuốc chứa hoạt chất sau: Fosetyl-aluminium, Metalaxyl, các loại thuốc có gốc đồng theo liều lượng khuyến cáo,… phun 2-3 lần, mỗi lần cách nhau 7-10 ngày tuỳ vào điều kiện thời tiết;

+ Khoảng 30 ngày trước khi thu hoạch nếu trời mưa nhiều nên phun phòng bệnh bằng thuốc chứa hoạt chất như Metalaxyl.

6. Bệnh phấn trắng (Oidium sp.)

+ Tỉa cành, tạo vườn thoáng, ánh sáng xuyên qua được tán lá sẽ hạn chế sự phát triển của bệnh;

+ Phòng trị bệnh bằng cách phun các loại thuốc hoá học chứa hoạt chất như Tetramycin. Nồng độ theo khuyến cáo. Để phòng ngừa bệnh và phòng trị có hiệu quả có thể phun thuốc vào các giai đoạn trước khi ra hoa và ngay khi hoa vừa đậu trái non.

7. Bệnh đốm bồ hóng (Meliola sp.)

+ Không nên trồng dầy, tỉa bớt cành vô hiệu khi tạo tán sau thu hoạch giúp cây thoáng;

+ Dùng thuốc sinh học CNX-TT để phòng ngừa bệnh;

+ Có thể sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất để phòng trị bệnh như: Alpha-Cypermethrin phun theo liều lượng khuyến cáo.

8. Bệnh khô cháy hoa (Phyllostica sp. hoặc Pestalotia sp.)

Nên trồng thưa giúp cây thoáng, ánh sáng xuyên qua tán cây làm giảm độ ẩm sẽ hạn chế được bệnh. Phòng trị bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như Difenoconazole hoặc thuốc gốc đồng theo khuyến cáo vào giai đoạn trước khi hoa nở để phòng bệnh./.

Thực hiện nội dung Chuyên mục "Nước ngọt vùng biên" trên địa bàn tỉnhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Nước sạch và VSMTNTThực hiện nội dung Chuyên mục "Nước ngọt vùng biên" trên địa bàn tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhằm tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cấp nước nông thôn, tăng cường nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, chi trả tiền nước và sử dụng nước tiết kiệm.
Năm 2019, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Tây Ninh thực hiện Chuyên mục và Tọa đàm nông nghiệp nông thôn Tây Ninh. Trong đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện 03 chuyên mục (Chuyên mục 1: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 2: Chương trình nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 3: Thực hiện công tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh).
6/19/2019 3:00 PMNoĐã ban hành

          Nhằm tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cấp nước nông thôn, tăng cường nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, chi trả tiền nước và sử dụng nước tiết kiệm.

          Năm 2019, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Tây Ninh thực hiện Chuyên mục và Tọa đàm nông nghiệp nông thôn Tây Ninh. Trong đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện 03 chuyên mục (Chuyên mục 1: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 2: Chương trình nước sạch khu tái định cư trên địa bàn tỉnh; Chuyên mục 3: Thực hiện công tác phối hợp với địa phương trong quản lý, khai thác công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh).

          Đến tháng 6/2019, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thực hiện 01/3 chuyên mục (Chuyên mục 1: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh).

          Chuyên mục 1: Chương trình nước ngọt vùng biên trên địa bàn tỉnh được thực hiện tại hai địa điểm: ấp Bến Cầu, xã Biên Giới, huyện Châu Thành và ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng. Qua đó, người dân vùng biên giới tiếp cận được với nguồn nước sạch, giúp hộ dân chủ động hơn về nguồn nước sinh hoạt hàng ngày so với lúc chưa có công trình cấp nước.Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chuyên mục có những thuận lợi và khó khăn:

          * Thuận Lợi:

          - Được sự quan tâm của các cấp, ngành, địa phương hỗ trợ nguồn vốn xây dựng Công trình cấp nước tập trung nông thôn theo Chương trình "Nước ngọt vùng biên", góp phần nâng cao đời sống tinh người dân vùng biên giới, đảm bảo an sinh xã hội.

          - Xây dựng, ban hành chính sách như Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước Hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020, Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ngày 23/2/2017 về việc quy định mức hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, góp phần làm cầu nối để nhà đầu tư tiếp cận các chính sách, ưu đãi của tỉnh về đầu tư trong lĩnh vực Nước sạch; giúp hộ dân trên địa bàn tỉnh nói chung và hộ dân vùng biên giới nói riêng được tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ, để tiếp cận với nguồn nước sạch.

          * Khó khăn:

          - Mật độ hộ dân vùng biên giới thưa thớt, sinh sống không tập trung, trải dài, kinh phí đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung nông thôn cao, số lượng hộ dân sử dụng nước ít, khó huy động được các nguồn lực đầu tư;

          - Hộ dân vùng biên giới có thu nhập mức thấp, trung bình nên khó khăn trong đối ứng nguồn vốn từ các chính sách vay vốn, hỗ trợ của Nhà nước nên người dân chưa sẵn sàng tiếp cận và sử dụng nước sạch.

Chuyên mục các vấn đề quan tâm về giống, kỹ thuật  canh tác, bảo vệ thực vật đối với cây xoài trên vùng đất Tây NinhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục các vấn đề quan tâm về giống, kỹ thuật  canh tác, bảo vệ thực vật đối với cây xoài trên vùng đất Tây Ninh/PublishingImages/2019-05/TTKN xoai tu quy.jpg
5/27/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MỤC

Các vấn đề quan tâm về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật đối với cây xoài trên vùng đất Tây Ninh

Địa điểm: xã Thạnh Bắc, huyện Tân Biên


Theo số liệu của sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến đầu năm 2019 cả tỉnh có 2.670 ha xoài, tập trung nhiều nhất ở các huyện Tân Biên, Tân Châu, Châu Thành và Trảng Bàng. Tại huyện Tân Biên, Hợp tác xã xoài tứ quý Thạnh Bắc (tổ 3, ấp Bàu Rã, xã Thạnh Bắc, huyện Tân Biên) được thành lập từ tháng 1.2015 và là hợp tác xã trồng xoài duy nhất của tỉnh. Hợp tác xã có 16 thành viên với tổng diện tích sản xuất 22,4 ha, do bà Võ Thị Nuôi làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc, sở dĩ bà con nơi đây lựa chọn giống xoài này bởi dễ trồng, năng suất cao và đặc biệt dễ điều khiển xoài ra trái nghịch vụ hơn so với các giống xoài khác.

Xoài tứ quý là giống xoài cho kích thước lớn, một quả trung bình có trọng lượng khoảng 1,5kg. Xoài khi chín có màu xanh ngả vàng tươi khá bắt mắt. Phần thịt của xoài tứ quý ít xơ nhiều bột ăn khá giòn và ngọt. Vỏ của mỏng và hạt nhỏ nên tỷ lệ sử dụng quả rất cao.

Những năm gần đây, ruồi vàng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng trong tỉnh. Thời gian đầu, các xã viên phải đến tận các tỉnh ở miền Tây để mua bao trái về sử dụng. Khi giá bao ngày càng cao, xã viên tự mua vải về cắt may bao, vừa tiết kiệm được chi phí mà bao lại bền, có thể tái sử dụng được nhiều lần và tăng hiệu quả phòng ngừa ruồi vàng.

Cây xoài được nhân giống bằng nhiều biện pháp như gieo hạt, chiết cành, ghép,…nhưng phổ quát nhất vẫn là biện pháp ghép. Nên chọn cây ghép có lá cây xanh đậm, không có vết sâu bệnh.

Phòng trừ các loại sâu bệnh hại phổ biến trên cây xoài:

  • Sâu đục trái: tỉa cành, tạo tán để tạo thông thoáng cho vườn xoài; Sau thu hoạch cho ngập nước vườn khoảng 36-48 giờ để diệt nhộng trong đất
  • Ruồi đục trái: Bao trái, không trồng xen các loại cây ăn trái khác trong vườn xoài; Có thể dùng thuốc hóa học để phòng trừ ruồi bằng cách phun toàn cây hoặc tưới vào đất các loại thuốc có hoạt chất như: Spinosad, Amabectin,…
  • Rệp sáp: Bảo tồn các loài thiên địch như: ong ký sinh và bọ rùa,... để hạn chế rệp sáp. Sử dụng các loại thuốc hóa học có các hoạt chất như: dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin

Bệnh phấn trắng: Dùng thuốc có các hoạt chất: Metalaxyl, Chlorothalonil, Mandipropamide,...

Trung tâm Khuyến nông./.

Chuyên mục một số vấn đề về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật mới trên cây mãng cầu ta Chuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinTrung tâm Khuyến nôngChuyên mục một số vấn đề về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật mới trên cây mãng cầu ta /PublishingImages/2019-04/Cây Mãn cầu.jpg
5/2/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MỤC

Một số vấn đề về giống, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật mới trên cây mãng cầu ta 

Thời gian thực hiện: Ngày 04/4/2019

Địa điểm: HTX mãng cầu Thạnh Tân


Mãng cầu ta được xem là cây ăn trái đặc sản chủ lực của tỉnh Tây Ninh, diện tích trồng mãng cầu trong tỉnh chiếm khoảng 5.000 ha, tập trung chủ yếu ở các xã ven chân núi Bà Đen và các vùng phụ cận. Theo ông Hà Chí Mãng - Giám đốc HTX Mãng cầu Thạnh Tân cho biết, trước đây khi trồng mãng cầu theo kiểu truyền thống, trái mãng cầu thường bị rệp phấn, bọ vàng tấn công dẫn đến nhiễm giòi, trái không đều, không đẹp, chất lượng và năng suất đều không cao. Từ khi ứng dụng kỹ thuật canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, vườn mãng cầu cho sản lượng thu hoạch bình quân khoảng 6 tấn/ha, trái mãng cầu lại to, đẹp, hạn chế được dịch bệnh. Các hộ tham gia sản xuất mãng cầu ta theo tiêu chuẩn VietGAP đã chọn thiết kế vườn thông thoáng, sử dụng phân bón hữu cơ, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, chịu khó bao bọc trái nhằm phòng chống dịch bệnh, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị trái mãng cầu. Theo một số nông dân áp dụng mô hình sản xuất theo hướng VietGAP, chất lượng trái mãng cầu và lợi nhuận của người sản xuất thu được từ mô hình này tăng cao hơn so với mô hình canh tác truyền thống, kiểm soát được dịch bệnh trên cây. Ghi nhận từ các hộ nông dân trồng mãng cầu cho thấy, cây mãng cầu trồng theo hướng VietGAP cho chất lượng trái tốt hơn: trái ngọt, cơm trắng, dày, vẻ ngoài cũng đẹp mắt hơn. Mô hình này cũng giúp hạn chế được các loại dịch bệnh trên trái mãng cầu như bọ trĩ, ruồi vàng, năng suất tăng khoảng 20% - 30% so với mô hình sản xuất theo cách truyền thống. Giá thương lái thu mua tại vườn mãng cầu VietGAP thường cao hơn từ 5.000 -6.000 đồng/kg so với giá sản phẩm mãng cầu trồng theo mô hình truyền thống. 

 

Trung tâm Khuyến nông./.


Chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây NinhChuyên mục Toạ đàm nhà nôngTinChi cục Thủy lợiChính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/PublishingImages/2019-04/Xu ly nuoc HGD.JPG
4/4/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

CHUYÊN MC

Chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Thời gian: Ngày 21/3/2019 tại xã An Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

 

1. Về mục tiêu của chính sách

- Chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn địa bàn tỉnh đến năm 2020 nhằm hỗ trợ kịp thời cho hộ gia đình nông thôn ngoài vùng cấp nước của các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh, chưa tiếp cận với nguồn nước sạch theo Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế được tiếp cận với chính sách này, theo tính toán đến năm 2020, sẽ hỗ trợ khoảng 15.834 hộ gia đình nông thôn.

- Mặt khác, chính sách còn góp phần tăng tỷ lệ hộ dân xã nông thôn mới được sử dụng nước sạch đạt tỷ lệ 65%, các xã nông thôn còn lại được sử dụng nước sạch đạt tỷ lệ hộ 51%.

2. Nội dung chính sách

a) Để được hỗ trợ từ chính sách, hộ gia đình nông thôn phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Có giếng khoan, giếng đào hoặc nguồn cấp nước khác chưa đảm bảo tiêu chuẩn nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế; chịu trách nhiệm chủ động kinh phí sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị trong quá trình sử dụng;

- Có đơn đề nghị hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

- Có hộ khẩu thường trú tại địa phương.

b) Phương thức hỗ trợ: UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm tổ chức triển khai, hướng dẫn hộ gia đình nông thôn lựa chọn mô hình, công nghệ cấp nước, tự lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình đạt theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế; chính quyền địa phương tổ chức nghiệm thu, đạt yêu cầu thì hỗ trợ kinh phí theo quy định.

c) Đối tượng và mức hỗ trợ:  Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với hộ gia đình nông thôn lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình và xét nghiệm chất lượng nước theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế:

- Đối với hộ có công với cách mạng, hộ nghèo: Mức hỗ trợ 100% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 6.000.000 đồng/hộ;

- Đối với hộ cận nghèo: Mức hỗ trợ 75% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 4.500.000 đồng/hộ;

- Đối với hộ có mức sống trung bình: Mức hỗ trợ 50% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 3.000.000 đồng/hộ;

 - Đối với hộ khác: Mức hỗ trợ 30% theo giá thực tế nhưng tối đa không quá 1.800.000 đồng/hộ.

- Trường hợp hộ gia đình nông thôn được hưởng nhiều mức hỗ trợ khác nhau thì được hưởng mức hỗ trợ cao nhất.

d) Về nguồn kinh phí: Nguồn kinh phí từ ngân sách tỉnh, nguồn vốn sự nghiệp hỗ trợ có mục tiêu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện.

3. Kết quả triển khai thực hiện năm 2018

- Năm 2018, các địa phương đã chủ động, khẩn trương tổ chức thực hiện, kết quả đã lắp đặt hệ thống xử lý nước: 1.480 hộ, với kinh phí: 8.588 triệu đồng trên địa bàn 08 huyện, trong đó: Châu Thành: 564 hộ, Trảng Bàng: 280 hộ, Hoà Thành: 232 hộ, Tân Biên: 211 hộ, Bến Cầu: 75 hộ, Gò Dầu: 41 hộ, Tân Châu: 41 hộ, Dương Minh Châu: 36 hộ (Hộ có công với cách mạng: 891 hộ, kinh phí: 5.346 triệu đồng; hộ nghèo: 478 hộ, kinh phí: 2.868 triệu đồng; hộ cận nghèo: 60 hộ, kinh phí: 270 triệu đồng; hộ có mức sống trung bình: 10 hộ, kinh phí: 30 triệu đồng; hộ nông thôn khác: 41 hộ, kinh phí: 73,8 triệu đồng).

- Sau khi được hỗ trợ lắp đặt hệ thống xử lý nước, hộ gia đình nông thôn đánh giá cao về chính sách, hỗ trợ kịp thời nguồn nước sạch để sinh hoạt, giảm chi phí, các bệnh tật do sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh gây ra.

4. Thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện

a) Thuận lợi

- Chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn mang tính xã hội cao, tạo sự công bằng giữa hộ dân nông thôn trong và ngoài vùng cấp nước của hệ thống cấp nước tập trung được tiếp cận với nguồn nước sạch, thay đổi nhận thức của người dân về sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch, do đó được người dân nhiệt tình ủng hộ.

- Hỗ trợ, chia sẻ kịp thời hộ gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và hộ nông thôn khác ngoài vùng cấp nước của các công trình cấp nước tập trung được tiếp cận với nguồn nước sạch, nhằm nâng cao sức khỏe cho cộng đồng dân cư; đồng thời góp phần hoàn thành chỉ tiêu 17.1 - Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước sạch thuộc Tiêu chí 17 về Môi trường và an toàn thực phẩm của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.

- Sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời của các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong việc triển khai, tổ chức thực hiện, ưu tiên bố trí kinh phí hỗ trợ lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn.

b) Khó khăn, nguyên nhân

- Về phần kinh phí đối ứng của hộ cận nghèo (25%), hộ có mức sống trung bình (50%), hộ nông thôn khác (70%) tham gia rất ít, với lý do: Thời gian triển khai tương đối gấp, các địa phương ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, hộ có công với cách mạng; mặt khác, do tâm lý chủ quan, chưa nhận thức được hiệu quả của việc sử dụng nước sạch đạt theo quy chuẩn, một phần muốn được nhà nước hỗ trợ 100% nên chưa tích cực góp vốn cùng nhà nước thực hiện chính sách này.

- Việc xác định đối tượng ngoài vùng cấp nước đối với từng công trình cấp nước tập trung.

3. Giải pháp thực hiện trong thời gian tới

Để thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn địa bàn tỉnh, cần có sự phối hợp, triển khai thực hiện đồng bộ của các cấp, ngành, chính quyền địa phương, cụ thể:

a) Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố

- Tăng cường công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền với nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức người dân nông thôn về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sử dụng nước sạch và mục đích của chính sách hỗ trợ hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn theo Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh, trong đó: Tập trung đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền, tạo sự lan tỏa đến cộng đồng, Nhân dân, đặc biệt quan tâm, vận động đối tượng hộ có mức sống trung bình và hộ nông thôn khác tích cực tham gia thực hiện chính sách.

- Rà soát, đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ hệ thống xử lý nước hộ gia định nông thôn năm 2018 (thuận lợi, khó khăn, đề xuất kiến nghị,..), từ đó chủ động trong việc tổ chức triển khai trong những năm tiếp theo, trong đó, cần lưu ý việc lựa chọn doanh nghiệp cung cấp các hệ thống xử lý nước hộ gia đình, chất lượng, độ bền của hệ thống, thời gian bảo hành, mức giá, chất lượng nước sau khi xử lý đạt theo Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế để giới thiệu cho Nhân dân lựa chọn, lắp đặt phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương.

- Hỗ trợ, hướng dẫn giúp hộ gia đình nông thôn trong việc thực hiện hợp đồng với Doanh nghiệp cung cấp hệ thống xử lý nước để người dân được nhiều điều kiện có lợi hơn (về hợp đồng kinh tế, bảo hành sản phẩm, kết quả xét nghiệm nước, cơ quan xét nghiệm mẫu nước,...)

b) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Để giúp người dân có điều kiện lắp đặt hệ thống xử lý nước hộ gia đình nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, các huyện, thành phố hỗ trợ Nhân dân tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng theo Quyết định 1205/QĐ-TTg điều chỉnh mức vốn cho vay được quy định tại Điều 1 Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg ngày 03/3/2014 về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn./.

1 - 30Next