Tài liệu kỹ thuật
 
Những năm gần đây, nông dân áp dụng kỹ thuật trồng cải trên giá thể trong nhà màng và áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt, đây là mô hình sản xuất rau theo công nghệ cao.....
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Quy trình kỹ thuật trồng hành lá theo tiêu chuẩn VietGAPNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtQuy trình kỹ thuật trồng hành lá theo tiêu chuẩn VietGAP/PublishingImages/2019-06/hành lá giống.jpg
Hành lá được trồng quanh năm, nhưng năng suất vào mùa nắng cao hơn mùa mưa. Trong mùa nắng hay bị sâu xanh da láng và mùa mưa bị bệnh khô đầu lá gây hại
6/3/2019 6:00 PMNoĐã ban hành

1. Thời vụ trồng hành lá

Hành lá được trồng quanh năm, nhưng năng suất vào mùa nắng cao hơn mùa mưa. Trong mùa nắng hay bị sâu xanh da láng và mùa mưa bị bệnh khô đầu lá gây hại.

2. Giống và xử lýgiống

Sử dụng giống địa phương: Thời gian sinh trưởng 42-50 ngày. Chọn bụi hành tương đối đồng đều đúng tuổi, sinh trưởng tốt, không nhiễm sâu bệnh.

Lượng giống: Tùy theo chất lượng cây giống thường cần từ 300-400kg(mùa mưa) và 400-500 kg (mùa nắng) cho 1000m2.

Trước khi trồng tách bụi hành nhỏ 2-3 tép và loai bỏ những lá già, lá bị vàng, bị sâu bệnh, cắt bớt rễ của cây giống để cho rễ tái sinh tốt hơn và cây sẽ tạo chồi nhánh nhanh, tốt.

Xử lý giống trước khi trồng: Ngâm cả cây hành trong dung dịch thuốc Rovral 50WP (Iprodione 0,1%), PN - Balacide 32 WP (Copper Oxychloride + Streptomycin sulfate + Zinc sunfate).


Cây hành giống 


3. Chuẩn bị đất

Đất được phơi khô 15-20 ngày trước khi trồng để hạn chế sâu bệnh. Đất sau khi cày xới được làm cỏ sạch và xử lý bằng vôi nông nghiệp 100kg/1000m2.

4. Lên liếp trồng

Lên liếp cao 0,2 -0,25m mùa khô và 0,3-0,4m vào mùa mưa; liếp rộng 0,6- 0,7 m, chiều dài tùy theo diện tích đất. Khoảng cách giữa các liếp 0,3m để thoát nước và đi lại chăm sóc.


Trồng hành


5. Khoảng cách, mật độ

 Trồng theo chiều rộng liếp khoảng 6 – 7 hốc, mỗi hốc 2 tép, cấy sâu 4-5cm. Mùa mưa khoảng cách hốc 10 x15 cm; mùa khô 10 x 10 cm. Mật độ trồng mùa mưa là 133.333 tép/1.000m2 và mùa khô 200.000 tép/1.000m2 .

6. Bón phân (dùng cho 1000m2)

Lượng phân nguyên chất (kg/1000/m2): 20,9 kg N - 17,7 kg P2O5 - 14 kg K2O.

Lượng phân thương phẩm tương ứng:

- Phân chuồng hoai mục: 200-300kg.

- Phân hữu cơ vi sinh (Trichoderma): 100-200kg.

- Urea:20 kg.

- DAP: 10kg

- Lân super: 25 kg.

- Kali clorua: 15 kg

- NPK (16-16-8): 62 kg

-  Ngoài ra, có thể dùng phân sinh học để bón bổ sung vào gốc hoặc tưới cho cây.

Bón lót: Bón toàn bộ phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh, lân super, 10 kg kali clorua.

Bón thúc: chia làm 4 lần bón

Ngày sau trồng

Urea

NPK

 KCL

DAP

7-10

4

0

0

10

17-20

5

12

1

0

27-30

5

25

2

0

37-40

6

25

2

0

 

7. Chăm sóc

Tưới nước mỗi ngày 2-3 lần cho đến khi cây hành bén rễ và phát triển tốt thì chỉ cần tưới 1-2 lần/ngày tùy vào điều kiện thời tiết, đảm bảo đủ ẩm để cây sinh trưởng tốt.

8. Phòng trừ cỏ dại và sâu bệnh

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM để phòng trừ sâu, bệnh hại trên cây hành lá.

8.1 Cỏ dại

- Cỏ dại hàng niên: có chu kỳ sống ngắn trong 1 mùa vụ hầu hết tăng trưởng bởi hạt bao gồm:

+  Cỏ lá hẹp: Cỏ chỉ, mần trầu;

+ Cỏ lá rộng: Dền, đuôi chồn, màng màng,

+ Cỏ cói lác: cỏ cú, cỏ lác.

- Cỏ lại đa niên: thường tăng trưởng bằng cây, cây con mọc từ thân cây mẹ tăng trưởng nhanh hơn cây mọc từ hạt.

Phòng trừ:
- Cày vỡ đất, phơi nắng từ 7-14 ngày và sau đó bừa cho đất tơi từ 1-2 lần.
- Gom cây và rễ cỏ trong khu vực trồng.
- Diệt cỏ dại bằng tay hoặc bằng máy khi cỏ còn nhỏ.        

8.2 Bệnh đốm tím

Triệu chứng bệnh đốm tím trên hành (ảnh sưu tầm)

Triệu chứng:
Vết bệnh ban đầu có màu trắng viền tím, về sau vết bệnh lõm xuống có vòng đồng tâm. Các vết bệnh lan rộng, mềm và rũ xuống. Ở cây trưởng thành, vùng cổ lá dễ bị bệnh tấn công tạo thành vết thối nhũn nước, màu nâu vàng đến đỏ về sau vết bệnh khô lại và teo tóp.

Điều kiện phát sinh, phát triển:

Gây hại nặng trong mùa mưa và suốt giai đoạn sinh trưởng của cây hành. Bệnh phát triển mạnh trên những luống hành bón nhiều đạm và phân bón lá

Biện pháp phòng trừ:

- Vệ sinh ruộng, thu gom các bộ phận đem tiêu hủy.

- Lên liếp cao, tránh ngập úng.

-Trồng mật độ vừa phải, không bón nhiều phân đạm.

- Sử dụng luân phiên các loại thuốc có hoạt chất: Azoxystrobin + Difenoconazole, Difenoconazole, Copper Oxychloride + Zineb, Metalaxyl, Salicylic Acid, Propineb,... với liều lượng, thời gian cách ly theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.

8.3. Bệnh thán thư bẹ lá hành: Do nấm Colletotrichum circinans (Berk.)


Triệu chứng bệnh thán thư trên bẹ lá hành (ảnh sưu tầm)

Triệu chứng:
Vết bệnh ban đầu có bầu dục, màu trắng sáng ở xung quanh sau chuyển sang màu vàng nhạt. Vết bệnh đầu tiên xuất hiện ở phần giữa lá, lan rộng kéo dài theo chiều lá. Tâm vết bệnh có màu trắng xám xếp thành vòng đồng tâm nhô lên. Trên vòng tròn đồng tâm có nhiều chấm nhỏ màu nâu đen nhạt đến đen đậm làm cho hành lá bị héo và gãy gục. Bệnh nặng các vết bệnh liên kết làm cháy cả lá hành và chết cả cây.

Điều kiện phát sinh, phát triển:
Gây hại nặng trong mùa mưa và suốt giai đoạn sinh trưởng của cây hành.

Biện pháp phòng trừ:
- Mật độ trồng hợp lý, lên liếp cao thoát nước tốt.
- Thu gom những lá, cây hành bị bệnh đem tiêu hủy.
- Không tưới nước lên lá khi hành bị bệnh.
- Sử dụng luân phiên các loại thuốc có hoạt chất: Hexaconazole, Difenoconazole, Iprovalicarb + Propineb,... với liều lượng, thời gian cách ly theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
8.4. Bệnh phấn trắng (do nấm Peronospora destrustor)


Triệu chứng bệnh phấn trắngtrên cây hành (ảnh sưu tầm)

Bộ phận bị hại: Bệnh thường xuất hiện gây hại trên lá già.

Triệu chứng: Vết bệnh đầu tiên có hình elip, sau kéo dài ra ban đầu màu vàng sau chuyển qua màu nâu. Những lá già bị bệnh có màu xanh nhạt, có lớp tơ nấm màu trắng che phủ trên vết bệnh. Sau đó chuyển qua màu xanh hơi đỏ. Bệnh nặng làm cho lá bị gãy và chết.

Biện pháp phòng trừ:
-Sử dụng giống sạch bệnh.
- Thăm ruộng thường xuyên, phát hiện bệnh sớm.

- Sử dụng chế phẩm sinh học Trichorderma dòng trừ nấm đối kháng.  

- Luân phiên sử dụng thuốc có hoạt chất như Difenoconazole, Iprovalicarb + Propineb, Copper Oxychloride +Metalaxyl,... với liều lượng, thời gian cách ly của thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn. 

8.5. Bệnh cháy đầu lá hành( do nấm Stemphylium botryosum W.)


Triệu chứng bệnh cháy đầu lá hành (ảnh sưu tầm)

Triệu chứng: Bệnh chỉ gây hại trên lá hành ở phần giữa của lá bánh tẻ, nấm xâm nhập và lan rộng kéo dài theo thân lá tạo thành vết bầu dục dài, lúc đầu có màu xám trắng, sau 5-7 ngày gãy gục ở giữa và khô rụi. Chiều dài vết bệnh có thể kéo dài từ 10-20 cm.

Điều kiện phát sinh, phát triển:Trời ẩm, mưa phùn bệnh phát triển mạnh và phía trên bề mặt vết bệnh có lớp nấm màu nâu đen.

Biện pháp phòng trừ:
- Trồng với mật độ vừa phải.
- Tưới nước theo phương châm " Chân ẩm đầu khô". Vào những ngày có nhiều sương  có thể tưới nước rửa sương vào buổi sáng để hạn chế bệnh phát triển.
- Thăm ruộng thường xuyên, phát hiện bệnh sớm ngắt bỏ lá bị khô đầu lá hay bị lụi để hạn chế bệnh phát sinh lan truyền.

- Luân phiên sử dụng thuốc có hoạt chất như Propineb, Difenoconazole,... với liều lượng, thời gian cách ly của thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn.

8.6. Sâu xanh da láng  (Spodoptera exigua)

Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại: Thành trùng là loài bướm đêm, màu trắng xám hơi ngả nâu. Sâu non màu xanh nhạt, da bóng láng, trên lưng có 5 sọc, 2sọc ở hai bên to và đậm, sọc giữa lưng màu đen xen kẽ màu trắng. Sâu non ăn rất mạnh, cắn phá thành từng lỗ bất dạng trên lá hành.
Biện pháp phòng trừ:

- Thu dọn tàn dư sau thu hoạch.

- Thăm ruộng thường xuyên, bắt giết sâu non và nhộng, ngắt bỏ ổ trứng. Phát hiện và phu thuốc khi sâu còn nhỏ.

- Thuốc hóa học có hiệu quả với sâu non mới nở. Sử dụng luân phiên  một số thuốc có hoạt chất sau: Bacillus thuringiensis var.kurstaki, Bacillus thuringiensis var. aizawai, Spinosad, Oxymatrine, ... để trừ sâu non mới nở. Liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn.

- Khi sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu xanh da láng hại hành lá thì không thể dùng một loại thuốc cho mỗi lần phun mà phải dùng hỗn hợp theo khuyến cáo sau (thường phun kết hợp trừ sâu xanh da láng và các đối tượng khác).

+ Lần 1: Spinosad.

+ Lần 2: Bacillus thuringiensis var.kurstaki + Tebufenozide hoặc Bacillus thuringiensis var. aizawai.

+ Lần 3: Oxymatrine +Bacillus thuringiensis var. aizawai.

+Lần 4: Tebufenozide + Spodooptera exigua Nuclear Polyhedrosis Virus.


 8.7. Dòi đục lá ( Liriomyza sp.)


Thời điểm phát sinh, phát triển: thường xuất hiện khi cây mới hồi xanh và gây hại cho đến khi thu hoạch.

Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại: trưởng hành là loài ruồi nhỏ, màu đen có vệt vàng trên ngực. Ấu trùng dạng dòi có màu vàng nhạt, mình dẹt, đục dưới lớp biểu bì thành những đường vòng vèo màu trắng, có thể nhìn thấy dòi trong các đường đục. Nhiều vết đục sẽ làm cho lá bị cháy khô, cây sinh trưởng kém, mau tàn.

Biện pháp phòng trừ:

- Chăm sóc cây sinh trưởng tốt, vượt qua sự gây hại của dòi.

- Ngắt bỏ những lá bị dòi gây hại nặng

- Xử lý giống trước khi trồng: dùng thuốc có hoạt chất Cyromazine pha với 1 lít nước, nhúng gốc, củ hành trong 10 phút.

- Khi dòi xuất hiện, sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau: Cyromazine, Spinetoram, Emamectin benzoate. Liều lượng, thời gian cách ly theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn.

8.8. Sâu khoang (Spodoptera litura)



  • Thời điểm phát sinh, phát triển: gây hại trong suốt vụ trồng.
  • Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại: bướm đẻ trứng trên lá, cành và gân lá thành từng ổ bằng hạt đậu, có lông tơ bao phủ màu vàng rơm. Khi mới nở, sâu ăn lá tại chỗ, khi lớn sâu di chuyển ăn mọi bộ phận của cây hành và tàn phá nhanh chóng. Sâu phá hại mạnh vào ban đêm, ban ngày ẩn trong đám lá, bụi cỏ hoặc trong đất. Sâu làm nhộng trong đất.
  • Biện pháp phòng trừ:

- Sau thu hoạch nên cuốc đất phơi ải 10 ngày giết sâu non và nhộng trước khi gieo trồng vụ rau mới.

- Thường xuyên thăm ruộng ngắt ổ trứng sâu để tiêu hủy. Kiểm tra theo dõi trên ruộng: 100 bụi hành/1.000 m2  nếu có trung bình 1 - 2 con/bụi hành phải phun thuốc phòng trị.

- Luân phiên sử dụng các loại thuốc có hoạt chất: Spinosad, Matrine,Emamectin benzoate. Liều lượng, thời gian cách ly theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn.

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và hoạt chất thuốc BVTV phòng trừ:

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ

Trước khi trồng:  Xử lý giống

Sâu xanh

Loại bỏ toàn bộ lá có triệu chứng sâu, bệnh

Bệnh đốm lá

Viroval 50WP ( Iprodione 0,1%), PN Balacide 32 WP ( Copper Oxychloride + Streptomycin sulfate + Zinc sunfate).

 

 

 

 

 

 

 

Sau khi trồng

 

Bệnh đốm tím

Azoxystrobin + Difenoconazole, Difenoconazole, Copper Oxychloride + Zineb, Metalaxyl, Salicylic Acid, propineb,...;

Bệnh thán thư bẹ lá hành

 Difenoconazole, Hexaconazole, Iprovalicarb + Propineb,...

Bệnh phấn trắng

Difenoconazole), Copper Oxychloride +Metalaxyl

Bệnh cháy đầu lá hành

Propineb, Difenoconazole

 

 

Sâu xanh da láng  (Spodoptera exigua)

+ Lần 1: Spinosad.

+ Lần 2: Bacillus thuringiensis var.kurstaki + Tebufenozide hoặc Bacillus thuringiensis var. aizawai.

+ Lần 3: Oxymatrine +Bacillus thuringiensis var. aizawai.

+Lần 4: Tebufenozide + Spodooptera exigua Nuclear Polyhedrosis Virus.

Hoặc thuốc có hoạt chất Emamectin benzoate

Dòi đục lá ( Liriomyza sp.)

Cyromazine, Spinetoram, Emamectin benzoate

 

Sâu khoang (Spodoptera litura)

Spinosad, Matrine,Emamectin benzoate

Lưu ý: sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và tuân thủ theo liều lượng khuyến cáo, đảm bảo thời gian cách ly trên nhãn thuốc.

9. Thu hoạch, đóng gói, bảo quản

Sau khi trồng 42 - 45 ngày có thể thu hoạch. Tùy tình hình sinh trưởng, nếu hành xấu có thể lưu thêm vài ngày, hoặc thu sớm hơn nếu sâu bệnh gây hại nặng ảnh hưởng đến năng suất. Thu hoạch hành phải đảm bảo thời gian cách ly sau khi phun thuốc BVTV, phân và chất phụ gia 7 - 10 ngày trước khi thu hoạch. Nhổ hành bằng tay, bó thành từng bó khoảng 0,5 - 1 kg, rửa sạch, để ráo nước và đặt vào dụng cụ chứa (giỏ nhựa, túi, khay..) thật nhẹ nhàng, tránh xây xát, bầm dập để giảm nguy cơ nhiễm sâu bệnh sau thu hoạch.

Thiết bị thùng chứa và vật liệu tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm phải được làm từ những chất không độc hại, đảm bảo sạch sẽ và không nên quá lớn.

Trước khi dùng bao bì đóng gói: loại bỏ các lá bị sâu bệnh, xay xát. Việc ghi nhãn theo quy định tại quyết định 178/199/QĐ/TTG ngày 20/9/1999 của Thủ tướng chính phủ về quy chế ghi nhãn mác hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Trường hợp đóng gói tại nhà sơ chế cần lựa chọn phân loại theo tiêu chuẩn thị trường. Đóng gói trong bao bì sạch có lỗ thông hơi. Bảo quản nơi thoáng mát hoặc ở nhiệt độ thấp nếu đóng gói trong bao bì kín.

10. Vận chuyển


Cần kiểm tra các phương tiện vận chuyển trước khi xếp thùng chứa sản phẩm đảm bảo sạch sẽ.

Sản phẩm cần được bảo vệ trong quá trình vận chuyển nhằm đảm bảo chỉ tiêu về chất lượng và hình thức rau đạt VietGAP.

11. Ghi chép vận chuyển

Ghi chép đầy đủ số liệu trong sổ tay ghi chép để dễ dàng kiểm tra và giải quyết sự cố xảy ra như: Điều kiện thời tiết mưa nắng; Ngày làm đất cách xử lý đất; Tên giống ngày mua; Ngày gieo trồng, ngày tỉa cây, ngày bón phân, phun thuốc, loại thuốc, loại phân; Tưới nước, nhổ cỏ và các chăm sóc khác; Ngày thu hoạch, diện tích thu hoạch; Những sự cố vấn đề xảy ra trong suốt quá trình trồng, thu hoạch, vận chuyển./.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây míaNông nghiệpBài viếtTrung tâm Khuyến nôngKỹ thuật trồng và chăm sóc cây mía/PublishingImages/2019-05/TTKN Mía.JPG
Cây mía không yêu cầu khắt khe về đất, tuy nhiên để thâm canh đạt năng suất cao nên chọn đất có tầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, pH trung tính, thoát nước tốt, độ dốc < 100. Hiện tại đất trên địa bàn Tây Ninh phần lớn là nồng độ pH thấp, do đó nên bón vôi cải tạo đất tùy theo kết quả phân tích đất.
5/6/2019 5:00 PMNoĐã ban hành

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

Cây mía thích hợp với loại đất tơi xốp, tầng đất mặt sâu, giữ ẩm tốt và dễ thoát nước. Độ pH thích hợp từ 5,5-7,5. Các loại đất như sét nặng, chua, mặn, bị ngập úng hoặc thoát nước kém, … đều không thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển.

2. Nước

Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía. Lượng mưa thích hợp từ 1.500 – 2.000 mm/năm. Cây mía là loài cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần nước nhưng không chịu ngập úng. Ở vùng đồi gò đất cao cần tưới nước trong mùa khô. Nơi đất thấp cần thoát nước tốt trong mùa mưa. Thời kỳ cây mía làm lóng vương cao rất cần nhiều nước, ẩm độ thích hợp khoảng 70 – 80 %, ở các thời kỳ khác cần ẩm độ 65 - 70 %.

3. Ánh sáng

Rất cần cho sự quang hợp để tạo đường cho cây mía. Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của bộ lá cũng tăng. Thiếu ánh sáng cây mía phát triển yếu, hàm lượng đường thấp và dễ bị sâu bệnh. Trong suốt chu kỳ sinh trưởng, cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ chiếu sáng, tối thiểu ở mức trên 1.200 giờ.

4. Nhiệt độ

Thích hợp trong phạm vi 20 - 25 OC. Thời kỳ đầu, từ khi đặt hom đến mọc mầm thành cây con, nhiệt độ thích hợp từ 20 - 25 OC.Thời kỳ đẻ nhánh (cây có 6 - 9 lá), nhiệt độ thích hợp 20 - 30 OC. Ở thời kỳ mía làm dóng vươn cao, yêu cầu nhiệt độ cao hơn để tăng cường quang hợp, tốt nhất là 30-32 OC.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả.

- Cây mía không yêu cầu khắt khe về đất, tuy nhiên để thâm canh đạt năng suất cao nên chọn đất có tầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, pH trung tính, thoát nước tốt, độ dốc < 100. Hiện tại đất trên địa bàn Tây Ninh phần lớn là nồng độ pH thấp, do đó nên bón vôi cải tạo đất tùy theo kết quả phân tích đất.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

- Giống mía Khonkean 3 (KK3): Có nguồn gốc từ Thái Lan. Thân to trung bình, lóng hình chóp cụt, mầm hơi tròn, phiến lá rộng trung bình và ngọn lá hơi rủ.Tái sinh gốc tốt, đẻ nhánh nhiều, thích hợp vùng đất cát pha, tiêu thoát nước tốt.Nhiễm sâu ít, chưa thấy nhiễm bệnh nguy hiểm như bệnh rượu, bệnh than. Ít trổ cờ, ít đổ ngã. Năng suất: 100 – 120 tấn/ha. Chữ đường ≥ 11 CCS.

- Giống mía K95-84: Có nguồn gốc từ Thái Lan. Giống mía này mọc mầm khoẻ, đẻ nhánh nhiều, mật độ cây cao, vươn lóng nhanh, kháng sâu bệnh hại, ít đổ ngã, khả năng lưu gốc tốt. Năng suất mía cao, đất đủ độ ẩm đạt 130 tấn/ha. Có hàm lượng đường cao, chữ đường đạt ≥ 12 CCS. Trồng được trên nhiều loại đất, thích hợp nhất ở vùng đất có độ phì cao, thâm canh cao và chủ động nước tưới.

- Giống mía VN 84 - 4137: Là giống mía do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường lai tạo năm 1984. Mọc mầm và đẻ nhánh mạnh, sớm, tập trung. Tỷ lệ mọc mầm khá, sức đẻ nhánh cao, mật độ cây hữu hiệu cao (nếu mật độ cây quá cao cây sẽ nhỏ). Tốc độ vươn lóng khá. Khả năng tái sinh tốt, lưu gốc được nhiều năm. Chịu hạn tốt, kháng sâu bệnh. Ưa thâm canh và khả năng thích ứng rộng. Năng suất trung bình đạt trên 80 tấn/ha, ở vùng đất đủ ẩm có thể đạt trên 100 tấn/ha. Chín trung bình, chữ đường ≥ 11CCS. Hàm lượng đường cao ở đầu vụ, có thể đưa vào ép đầu vụ (CCS đầu vụ đạt khoảng 9 – 10 %).

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

a)Thời vụ trồng:

- Vụ Đông Xuân: Từ tháng 11 đến tháng 3 Dương lịch.

- Vụ Hè Thu: Từ tháng 4 đến tháng 6 Dương lịch, áp dụng cho nơi có chân đất cao, điều kiện tiêu thoát nước tốt.

b) Mật độ trồng

- Hàng đơn: Khoảng cách hàng 1m x 1,2m, tương đương khoảng 8 - 10 tấn giống/ha.

- Hàng đôi: khoảng cách hàng 0,4 m x 1,2 m, tương đương khoảng 11 - 13 tấn giống/ha.

2. Giống

Tùy theo điều kiện đất đai để chọn giống cho phù hợp. Một số giống mía có năng suất, chất lượng cao, thích hợp với điều kiện canh tác ở Tây Ninh: KK3, K95 - 84, VN84 - 4137.

3. Kỹ thuật trồng

3.1. Chuẩn bị đất trồng

a) Mía tơ (mía trồng mới)

- Bước 1: Vệ sinh đồng ruộng.

- Bước 2: Cày dàn 7 chảo lần I, sâu ≥ 20 cm.

- Bước 3: Cày ngầm không lật, độ sâu > 40 cm hoặc cày lâm lần 1.

- Bước 4: Cày dàn 7 chảo lần II, sâu ≥ 20 cm.

- Bước 5: Bừa nhuyễn 1 lượt (nếu đất chưa tươi xốp).

- Bước 6: Rạch hàng để trồng độ sâu đạt ≥ 25 – 30 cm.

Quy trình làm đất được coi là đạt khi: đất có đường kính viên dưới 3 cm  ≥ 80 %, loại đường kính viên dưới 5 cm ≤ 20 % và không có đất đường kính viên trên 5 cm.

b) Mía gốc

 - Sau khi thu hoạch xong phải tiến hành vệ sinh đồng ruộng ngay. Dùng cuốc, dao để loại bỏ những gốc cao, cây mầm, cây bị sâu bệnh hay cỏ dại sót lại từ vụ trước.

- Nếu thu hoạch vào các tháng cao điểm của mùa khô, nên che phủ ruộng mía lưu gốc hoàn toàn bằng nguồn ngọn, lá mía; tiến hành gom ngọn lá mía xung quanh ruộng vào trong để tạo khoảng cách phòng chống cháy.

- Nếu thu hoạch khi đất đủ ẩm. Có thể gom ngọn, lá mía từng hàng xen kẽ, kết hợp dùng trâu, bò cày xả hai bên luống để làm đứt các rễ già và xới vun luống, hoặc gom ngọn, lá mía cách 2 hàng kết hợp cày xả và xới vun luống bằng cơ giới, sau đó phủ ngọn lá mía trở lại toàn bộ mặt ruộng.

3.2. Chuẩn bị hom giống

- Nên dùng hom ở ruộng mía giống từ 6 - 8 tháng tuổi, đường kính thân tối thiểu 2 cm, cây thẳng, chiều cao tối thiểu 1 m nếu trồng bằng máy; không lẫn giống, không nhiễm bệnh (đặc biệt bệnh trắng lá, bệnh rượu,…) và tỷ lệ sâu hại < 5 %.

- Chặt ra hom có 2 - 3 mắt mầm, trồng ngay sau khi ra hom tối đa 2 ngày.Có thể ngâm hom trong nước nóng 52 oC trong 30 phút trước khi trồng để phòng ngừa một số bệnh hại.

3.3. Cách đặt hom

Trồng thủ công

- Phương pháp không ra hom: Rải nguyên cây mía vào hàng mía, ngọn nối gốc, gối nhau 20 cm, sau đó băm đứt hoàn toàn cây mía giống thành hom 2 - 3 mắt.

- Phương pháp ra hom: Đặt hom nối tiếp hoặc gối theo kiểu nanh sấu.

- Cần đảm bảo mật độ hom đạt tối thiểu 4 - 5 hom mía trên mỗi mét hàng đơn, tùy thuộc vào phương pháp và phương tiện trồng.

- Tiến hành lấp ngay sau khi đặt hom để đảm bảo ẩm độ, nếu đất không đủ ẩm thì cần tưới qua 1 lượt trước khi lấp.

Trồng bằng máy

- Thực hiện đồng thời các công đoạn rạch hàng, đặt hom, bón phân lót, lấp hom. Có thể sử dụng máy trồng hàng đôi hoặc hàng đơn tùy vào điều kiện từng vùng.

Trồng dặm

- Khoảng 30 – 40 ngày sau khi trồng, nếu thấy mất khoảng > 0,8 m thì phải trồng dặm. Nên dặm vào buổi chiều hoặc lúc trời mát. Có thể lấy bớt các hom đã nảy mầm ở chỗ mọc dày để dặm những chỗ thiếu. Nhưng tốt nhất là dùng các hom đã nảy mầm đặt thêm ở các đầu hàng hoặc hom đã được ươm trong bầu đất chuẩn bị trước đó.

- Kỹ thuật trồng dặm: Đào rãnh sâu ngang với đáy rãnh lúc trồng, đặt cây dặm và lấp kín gốc. Khi dặm đất phải đủ ẩm, cây đem dặm phải cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, nén chặt đất vào gốc cây dặm. Nếu có điều kiện cần tưới ngay sau khi dặm.

4.Làm cỏ và bón phân

4.1. Làm cỏ

- Sử dụng thuốc diệt cỏ gốc Tebuthiuron, Simazine, ... Có thể xử lý khi cỏ và mía chưa mọc (sau trồng 2 – 3 ngày) hoặc sau khi cỏ đã mọc (cỏ còn nhỏ).

- Lưu ý khi sử dụng thuốc diệt cỏ:

+ Mỗi loại hoá chất chỉ có thể diệt được một số loài cỏ nhất định, do đó trước khi sử dụng cần xác định thành phần cỏ dại trên ruộng mía để chọn loại thuốc thích hợp

+ Trong các giống mía trồng, có giống không bị ảnh hưởng khi sử dụng hoá chất diệt cỏ nhưng cũng có giống mía mẫn cảm với hoá chất. Vì vậy khi sử dụng phải tìm loại hoá chất diệt cỏ chọn lọc với giống mía đang trồng.

+ Khi sử dụng hoá chất diệt cỏ không được phun trực tiếp vào cây mía và cố gắng tránh sự tiếp xúc của hoá chất với lá mía.

4.2.Bón phân

Mía tơ

- Lượng phân và cách bón cho 1 ha mía tơ:

 

Thời gian bón:   - Bón lót: Bón trước lần cày bừa cuối cùng.

                           - Bón thúc lần 1 (thúc đẻ nhánh): Khi mía 4-5 lá.

                           - Bón thúc lần 2 (thúc vươn lóng): Khi mía 9-10 lá.

Cách bón: Rải đều phân dọc theo hàng mía. Sau khi bón phân phải xới xáo vùi lấp phân để hạn chế bốc hơi, rửa trôi.

Mía gốc

- Lượng phân và cách bón cho 1 ha mía gốc:


Thời gian bón:   - Bón tạo nền: Sau tề gốc.

                          - Bón thúc lần 1 (thúc đẻ nhánh): Khi mía 4-5 lá.

                          - Bón thúc lần 2 (thúc vươn lóng): Khi mía 9-10 lá.

Cách bón : Tương tự mía tơ.

5. Tưới, tiêu nước

- Tiến hành tưới nước bổ sung cho mía vào các giai đoạn khô hạn kéo dài, đặc biệt là giai đoạn mọc mầm, đẻ nhánh và đầu vươn lóng.

- Phương pháp tưới: Tùy theo điều kiện, có thể áp dụng các phương pháp tưới nước cho mía phổ biến như tưới ngấm (tưới tràn) và tưới phun mưa (tưới béc quay cố định), tưới dây phún. Khuyến cáo nên áp dụng phương pháp tưới phun để sử dụng hiệu quả phân bón và tiết kiệm nước.

- Lượng tưới: 40 – 50 mm/lần tưới, tương ứng với 400 – 500  m3/ha/lần tưới. Tưới từ 1 - 2 lần/tháng.

- Mía cần nhiều nước nhưng rất sợ úng, đặc biệt là thời kỳ cây con và thời kỳ vươn lóng. Để tránh bị úng, ruộng trồng mía phải bằng phẳng, thiết kế hệ thống tiêu nước ngay sau khi trồng, xung quanh ruộng cần có rãnh, mương đấu nối với hệ thống thoát nước để tránh bị đọng nước sau khi mưa to. Không để mía bị ngập úng quá 1 tuần.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Sâu đục thân

Sâu đục thân 4 vạch đầu vàng: Chilo sacchariphagus Bojer

Triệu chứng và đặc điểm nhận dạng:

- Sâu non có đầu màu vàng nhạt, mảnh lưng ngực trước màu trắng, viền nâu đen, các chấm trên cơ thể nhỏ, màu tím đen, lộ rõ.

- Sâu gây hại giai đoạn mía có lóng. Phá hại mạnh vào mùa mưa.

- Đọt lá lốm đốm trắng hoặc ngọn cây bị khô.

- Cây mía bị hại thấy có nhiều lỗ sâu đục tròn, nằm rải rác hoặc liên kết với nhau, bên ngoài có phân sâu màu vàng đùn ra.

Sâu đục thân 4 vạch đầu nâu: Chilo tumidicostalis Hampson


Triệu chứng và đặc điểm nhận dạng:

- Sâu non có đầu màu nâu vàng đến sẫm, mảnh lưng ngực trước màu nâu đậm, các chấm trên cơ thể to, màu xám mờ.

- Quan sát trên đồng thấy từng chòm mía bị héo khô ngọn.

- Sâu non có tính gây hại tập thể, đục xuyên qua 3-5 lóng mía ăn hết phần thịt lóng làm cây chết khô.

Sâu đục thân mình hồng: Seamia sp.


Triệu chứng và đặc điểm nhận dạng:

- Sâu non có màu hơi hồng, mảnh đầu màu nâu hơi đỏ. Chân bụng và chân mông phát triển, lỗ thở hai bên cơ thể màu đen nhìn thấy dễ. Mưa càng nhiều sâu gây hại càng nặng, hại mía mầm là chính.

- Sâu non đục vào ngọn làm héo đọt, các cây bị hại chết khô từng bụi.

Sâu đục thân mình tím: Phragmataecia castaneae Hubner.


Triệu chứng và đặc điểm nhận dạng:

- Sâu non màu tím, kích thước lớn, đầu nhỏ màu vàng hơi nhô về phía trước, chân bụng và chân mông kém phát triển.

- Sâu non đục vào bẹ lá làm héo lá kế lá đọt, cây mía bị teo ngọn, lùn lụi, mầm nách phát triển.

Để phòng trừ một cách có hiệu quả các loại sâu đục thân hại mía cần áp dụng các biện pháp tổng hợp:

- Chọn trồng các giống mía có khả năng chống chịu sâu đục thân.

- Bóc bớt bẹ lá già, làm sạch cỏ cho vườn thông thoáng, ít thu hút bướm đẻ trứng. Ngắt hết các ổ trứng, ngọn héo. Sau vụ thu hoạch nên dọn sạch tàn dư còn lại của cây mía trên ruộng để tiêu diệt hết các ổ trứng, sâu và nhộng, tránh lây lan cho vụ sau.

- Bảo vệ các loài ký sinh như: Ong mắt đỏ, bọ đuôi kìm, ... hoặc dùng các chế phẩm sinh học từ nấm trắng và nấm xanh.

- Có thể sử dụng các loại thuốc có chứa hoạt chất như: Cartap, Carbosulfan, Dimethoate + Fenobucarb, …

2. Bọ hung:


Gồm bọ hung đen (Alissonotum impressicolle Arow), bọ hung nâu (Holotrichia serrata Fabricius)

Triệu chứng và đặc điểm nhận dạng:

- Sâu non (sùng) phát sinh gây hại nặng vào mùa xuân, hè (tháng 4 - 5).

- Sâu non và trưởng thành phá hại gốc và mầm mía phần dưới đất; đặc biệt mía lưu gốc, làm cây khô héo, chết.

Biện pháp phòng trừ:

- Tạo điều kiện cho một số loài chim (chim sâu, chim én), cóc, thằn lằn ăn sùng.

- Lợi dụng ong ký sinh đào lỗ để kiểm soát ấu trùng sùng trong đất.

- Cày sâu để diệt ấu trùng và luân canh để phá vỡ chu kỳ sinh trưởng của sùng, dùng các chế phẩm sinh học từ nấm trắng và nấm xanh hoặc sử dụng các loại thuốc có hoạt chất như: Cartap, Carbosulfan, …

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh bạc lá


- Tác nhân: Phytoplasma.

- Thời điểm phát sinh gây bệnh:

+ Biểu hiện ra ngoài trên mía mới trồng hoặc sau khi thu hoạch xong gặp điều kiện khô hạn, đất không đủ ẩm.

+ Mía càng thu hoạch trễ, khả năng bị bệnh càng cao. Khi mía vượt qua giai đoạn đẻ nhánh thì khả năng biểu hiện bệnh thấp hơn.

- Triệu chứng:

+ Toàn bộ lá chuyển trắng vàng, mất diệp lục tố;

+ Cây mía bị cằn và mọc chồi ít và bất thường;

+ Lá mía nhỏ và hẹp hơn so với các cây khỏe mạnh;

+ Bụi mía bị trắng lá nghiêm trọng thân cây không tạo đường và không thể thu hoạch;

+ Cây mía chết khô.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Sử dụng giống kháng. Chọn hom giống sạch bệnh. Hạn chế sử dụng mía nguyên liệu làm hom giống. Tuyệt đối không sử dụng mía giống từ vùng có dịch bệnh.

+ Không lưu gốc, tiêu hủy triệt để tàn dư cây bệnh vả cỏ dại trên đồng ruộng.

+ Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, đào nhổ bỏ gốc bụi cây bị bệnh, ...

2. Bệnh than đen


- Tác nhân: Do nấm Ustilago scitaminea H. Sydow.

- Thời điểm phát sinh gây bệnh:

+ Phát sinh gây hại nặng vào 2 thời điểm trong năm là tháng 4 - 6 và tháng 9 -11.

+ Thường xuất hiện khi điều kiện thời tiết khô nóng.

- Triệu chứng:

+ Roi được hình thành từ mô ngọn hay chồi tận cùng của cây bị nhiễm, phủ đầy bào tử màu đen.

+ Chồi bị nhiễm trở nên mảnh dẻ và giống như cỏ, với phiến lá hẹp và ngắn.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Sử dụng giống kháng, hom sạch bệnh, xử lý hom bằng nước nóng

+ Đào bỏ mía bệnh, mía mọc tự nhiên không theo hàng, mía gốc còn sót lại …

3. Bệnh xoắn cổ lá


- Tác nhân: Do nấm Fusarium moniliforme Sheldon.

- Thời điểm phát sinh gây bệnh:

+ Bị nặng ở giai đoạn vươn lóng (mía từ 3 -7 tháng tuổi), phát sinh gây hại nặng vào mùa mưa.

+ Bệnh dễ gây hại khi cây mía sinh trưởng nhanh, bón nhiều đạm.

- Triệu chứng:

+ Bệnh gây hại trên lá non, thoạt đầu là những đám màu trắng ở gốc lá non.

+ Dần dần xuất hiện thành đốm sọc nhỏ màu nâu và hợp lại thành vết to, do vết bệnh xoắn lùn làm cho phiến lá dị hình.Bị hại nặng thì gốc phiến lá ngắn lại, phiến lá không xoè ra bình thường, đọt bị chết thối, ngửi có mùi khó chịu.Thân có vết dao cắt và có bụi phấn màu hồng nhạt.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Sử dụng giống mía kháng bệnh.

+ Thời kỳ mía vươn lóng cắt và tiêu huỷ lá bệnh.

+ Chuẩn bị đất kỹ trước khi trồng. Ruộng mía lưu gốc phải vệ sinh, xử lý và chăm sóc ngay sau khi thu hoạch.

+ Dùng Bordeaux hoặc sulphat đồng trộn với vôi bột và đất bột rắc vào ngọn mía (tỷ lệ trộn: 10 : 40 : 50).

4. Bệnh sọc đỏ


- Tác nhân: Vi khuẩn Acidovorax avenae subsp. avenae.

- Thời điểm phát sinh gây bệnh:

+ Thích hợp với điều kiện ấm và ẩm ướt.

+ Phổ biến ở mía nhỏ (4 - 6 tháng).

- Triệu chứng:

* Giai đoạn sọc lá:

+ Vết bệnh rộng 0,5 - 4 mm, một số sọc đỏ dài gần toàn bộ chiều dài của lá.

+ Màu xanh chuyển sang đỏ, cuối cùng là màu nâu.

* Giai đoạn thối ngọn:

+ Các vết bệnh liên kết lại hoặc bị trực tiếp ở ngọn dẫn đến ngọn bị thối.

+ Lóng bị bệnh teo tóp lại.

+ Có mùi hôi khó chịu.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Sử dụng giống mía kháng bệnh.

+ Cắt tiêu hủy các lá bệnh, đào và tiêu hủy các cây bị bệnh.

5. Bệnh thối đỏ (bệnh rượu)


- Tác nhân: Nấm Glomerella tucumanensis Muller.

- Thời điểm phát sinh gây bệnh: Điều kiện mát và khô.

- Triệu chứng:

+ Gân chính lá có màu đỏ và đôi khi gây đốm trên phiến lá.

+ Bên trong cây mía biến màu đỏ, tiêu biểu với những giải băng ngang màu trắng, đặc điểm dễ nhận biết là có mùi rượu.

+ Sự biến màu cũng xuất hiện trên vỏ, thường ở đốt và ở lóng.

+ Ở giai đoạn sau, cả cây bị nhiễm trở nên lõm và teo tóp dọc theo chiều dài thân.

+ Triệu chứng tiếp theo có thể gồm lá bị vàng, tàn lụi và khô, và cuối cùng chết thân, chết chồi, tái sinh mùa gốc bấp bênh và thối hom.

- Biện pháp phòng trừ:

+ Sử dụng giống mía kháng bệnh, hom sạch bệnh, xử lý hom bằng nước nóng.

+ Thu hoạch sớm trong trường hợp bị bệnh tấn công nghiêm trọng.

+ Tiêu hủy các cây bệnh, cày hủy các cánh đồng bị nặng.

VI. THU HOẠCH

1. Xác định thời gian thu hoạch

- Theo cảm quan: Lá mía sít lại, ngả màu hơi vàng nhạt, các đốt phần trên ngọn ngắn lại.

- Dùng máy kiểm tra: Lấy mẫu ngẫu nhiên đem phân tích, khi mía đạt chữ đường ≥ 9 CCS là có thể thu hoạch.

2. Chặt và vận chuyển mía sau thu hoạch

- Thu hoạch: Bằng thủ công hoặc bằng máy liên hợp. Phải chặt sát gốc, không dập gốc, chặt ngọn đúng đến mặt trăng – đỉnh sinh trưởng, róc sạch rễ lá.

- Thu hoạch xong phải vận chuyển ngay đến nơi chế biến trong vòng 48 giờ.

- Hạn chế các phương tiện vận chuyển đi vào các ruộng mía lưu gốc.

- Thời gian thu hoạch nên kết thúc nhanh trên từng ruộng mía để chăm sóc mía gốc kịp thời./.

Trung tâm Khuyến nông

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mìNông nghiệpBài viếtTrung tâm Khuyến nôngKỹ thuật trồng và chăm sóc cây mì/PublishingImages/2019-04/TTKN Mì.jpg
Mì có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất phù sa, đất cát, đất feralit, đất than bùn, đất bạc màu. Mì thích hợp và cho năng suất cao ở chân đất tốt, xốp, thoát nước tốt. Ở chân đất cát pha, củ mì có nhiều tinh bột hơn. Nói chung mì không kén đất và có thể sinh trưởng phát triển ở các loại đất khác nhau.
Cây mì rất kém chịu các loại đất đọng nước. Cây mì có thể chịu được đất chua pH = 4 và có thể phát triển tốt trên đất trung tính, với đất kiềm mì chịu được đến độ pH = 7,5, thích hợp nhất đối với mì là pH = 5,5.
5/6/2019 11:00 AMNoĐã ban hành

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

- Mì có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất phù sa, đất cát, đất feralit, đất than bùn, đất bạc màu. Mì thích hợp và cho năng suất cao ở chân đất tốt, xốp, thoát nước tốt. Ở chân đất cát pha, củ mì có nhiều tinh bột hơn. Nói chung mì không kén đất và có thể sinh trưởng phát triển ở các loại đất khác nhau.

- Cây mì rất kém chịu các loại đất đọng nước. Cây mì có thể chịu được đất chua pH = 4 và có thể phát triển tốt trên đất trung tính, với đất kiềm mì chịu được đến độ pH = 7,5, thích hợp nhất đối với mì là pH = 5,5.

2. Nước     

- Cây mì có khả năng chịu hạn cao, nhưng chỉ sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm.

- Lượng mưa trung bình năm thích hợp với cây mì là 1.000 – 2.000 mm. Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau cây mì yêu cầu lượng nước khác nhau. Hom mì ở thời kỳ đầu mới trồng cần độ ẩm là 70 – 80 %. Cây mì non từ khi có 5 lá đến 20 lá, nhu cầu đối với nước có tăng lên, nhưng ở thời kỳ này sức chịu hạn của mì khá cao. 

- Khi cây mì bước vào thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh, nhu cầu nước đạt cao nhất 75 – 85 % độ ẩm bão hòa đất. Lúc này nước rất cần để cây sinh trưởng và quang hợp, cũng như vận chuyển vật chất từ bộ phận này đến bộ phận khác trong cây.

- Thời kỳ phình to của củ là lúc cây mì tập trung vào việc tích lũy tinh bột vào củ, nhu cầu về nước có giảm xuống. Yêu cầu độ ẩm đất thích hợp lúc này là 60 – 70 %. Nếu thiếu nước ở thời kỳ này sẽ ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển vật chất về củ, làm cho năng suất củ thấp.

3. Ánh sáng

- Cây mì là cây ưa sáng, khi có đầy đủ ánh sáng cây mì có khả năng tạo ra đường bột và tích lũy chúng vào củ mạnh hơn so với nhiều loại cây trồng khác. Trong điều kiện ánh sáng mạnh, mì phát triển củ tốt. Khi bị che khuất ánh sáng thân lá có hiện tượng vống, lá bị rụng sớm, tuổi thọ của lá giảm sút. Thiếu ánh sáng cây phân hóa chậm, chiều dài lóng tăng lên, năng suất giảm rõ rệt.

- Mì là cây phản ứng tích cực với ánh sáng ngày ngắn. Nó thích hợp với chu kỳ chiếu sáng 8 – 10 giờ/ngày. Ngày ngắn thuận lợi cho sinh trưởng của củ. Trong khi ngày dài thuận lợi cho sinh trưởng cành lá và trở ngại cho sinh trưởng củ, nhưng lại thúc đẩy tăng số lượng củ mì.

4. Nhiệt độ

- Nhiệt độ thích hợp nhất đối với sinh trưởng của mì là 23 – 27 0C.

- Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây mì có yêu cầu nhiệt độ khác nhau. Thời kỳ phát triển của mầm, mì yêu cầu nhiệt độ 20 – 27 0C. Ở thời kỳ cây lớn, mì yêu cầu nhiệt độ 20 – 32 0C. Thời kỳ phát triển củ mì yêu cầu nhiệt độ 25 – 35 0C.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần có cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên để lựa chọn các vùng đất thích hợp cho từng loại cây trồng.

- Cây mì là loại cây dễ trồng, không kén đất có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa, đất cát, đất bạc màu, ... nhưng cây mì thích hợp và cho năng suất cao ở chân đất tốt, xốp, thoát nước tốt, pH = 5,5. Điều kiện tự nhiên ở Tây Ninh như nhiệt độ, ánh sáng, nước, đất đai phù hợp cho cây mì phát triển. Tuy nhiên đất đai ở Tây Ninh chiếm phần lớn là đất xám bạc màu nên nghèo dinh dưỡng, pH thấp. Vì vậy, cần tiến hành phân tích đất để căn cứ xác định vùng trồng mì thích hợp. Dựa vào kết quả phân tích đất để bổ sung lượng phân bón và bón vôi thích hợp giúp cải thiện đất trồng.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

- Giống mì KM94: Thời gian sinh trưởng 9 – 12 tháng. Năng suất củ tươi đạt 30 tấn/ha; năng suất bột 8,7 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột 29 – 30 %. Cây cao 2,2 – 2,5 m, thân cong ở phần gốc, thân nâu, lá xanh, ngọn tím, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm. Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại mức độ nhẹ, thích nghi nhiều vùng sinh thái.

- Giống KM 419: Thân xanh, thẳng, tán gọn, cây cao vừa phải, nhặt mắt, không phân cành, lá xanh đậm, dạng củ rất đẹp và đồng đều, thịt củ màu trắng, năng suất củ tươi đạt 35,0 – 45,8 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột đạt 27,6 -29,4 %, Năng suất bột : 10,6 – 14,4 tấn/ha. Năng suất sắn lát khô đạt 13,5 – 18,6 tấn/ha. Chỉ số thu hoạch: 61 -65 %. Thời gian thu hoạch: 8-10 tháng. Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá. Hiện nay giống KM 419 đang được trồng rất phổ biến tại Tây Ninh.

- Giống mì KM140: Thời gian sinh trưởng 8 – 10 tháng (có thể thu hoạch 7 – 8 tháng sau trồng). Năng suất củ tươi bình quân đạt 39 tấn/ha, năng suất bột 10 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột 27 %. Cây cao 1,8 – 2,5 m, thân thẳng không phân nhánh, ít đổ ngã, thân xanh, lá xanh, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm. Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại ở mức độ nhẹ.

- Giống mì KM 98-5: Thời gian sinh trưởng 8 – 10 tháng (có thể thu hoạch 7 – 8 tháng sau trồng). Năng suất củ tươi đạt 36 tấn/ha, năng suất bột 9,7 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột 27 %. Cây cao vừa phải, ít đổ ngã, thân xanh, lá xanh, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phủ đất sớm. Củ đồng đều và thuôn láng, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại ở mức độ nhẹ, thích nghi nhiều vùng sinh thái.

- Giống mì KM95 (giống bố trí trong vùng thấp): Thời gian sinh trưởng 6 – 7 tháng). Năng suất củ tươi đạt 30 tấn/ha, năng suất bột 8,1 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27 %. Cây cao vừa phải, ít đổ ngã, thân màu xám, cọng màu hồng, lá xanh nhạt, nhặt mắt, sinh trưởng mạnh, phân nhánh mạnh cấp 2 – 3. Củ đồng đều, thịt củ màu trắng kem, sâu bệnh gây hại ở mức độ nhẹ.

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ trồng: Có 2 vụ chính:

- Vụ Đông Xuân (vụ cuối mùa mưa): Trồng vào tháng 10 – 11 (dương lịch), thu hoạch tháng 9 – 10 năm sau.

- Vụ Hè Thu (vụ đầu mùa mưa): Trồng vào tháng 4 – 5 (dương lịch), thu hoạch tháng 1 – 3 năm sau.

- Mật độ:

  •             Khoảng cách trồng 0,8 m x 0,8 m, mật độ 15.625 cây/ha.
  •             Khoảng cách trồng 0,7 m x 0,8 m, mật độ 17.857 cây/ha.

2. Chọn giống

- Cây khoai mì làm giống phải đạt từ 7 tháng tuổi trở lên, đường kính trên 1,5 cm, không nhiễm sâu bệnh. Hom mì nhặt mắt, đặc lõi và không bị trầy dập.

- Hom giống lấy từ 1/3 ở đoạn giữa thân cây giống. Dùng dao bén chặt hom và tránh làm hom bị dập, mỗi hom 4 – 5 mắt, loại bỏ phần ngọn non và phần gốc quá già.

- Xử lý hom trước khi trồng bằng cách nhúng vào các dung dịch thuốc diệt nấm hoặc nước vôi 5% trong 5 – 10 phút, sau đó vớt ra để ráo thuốc rồi đem trồng. Có thể sử dụng thuốc chứa hoạt chất Imidacloprid, ... để xử lý hom giống.

3. Kỹ thuật trồng

a. Chuẩn bị đất

Khoai mì cần lớp đất xốp, sâu để rễ củ phát triển. Cày ngầm sâu 40 – 50 cm; sau đó tiến hành cày bảy và bừa đất giúp đất bằng phẳng, tơi xốp, thông thoáng.

         

Không nên lên luống theo chiều dốc của đất, nước sẽ rửa trôi đất màu.

Lên luống:

Lên luống ba ( rộng 2,2 – 2,5 m) trồng 3 hàng mì.

Lên luống đôi (rộng 1,4 – 2 m) trồng 2 hàng mì.

Lên luống chiếc (rộng 0,7 – 0,9 m) trồng 1 hàng mì.


b. Cách trồng

- Khi trồng đặt hom xiên, đứng hoặc nằm dọc theo luống.

- Dặm hom: Cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng. Khoảng 20 ngày nếu đất còn độ ẩm thì dặm lại các hom không nảy mầm.

4. Phân bón

- Cây mì có yêu cầu khá cao về các chất dinh dưỡng. Chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây mì là kali, kế đến là đạm, lân, canxi, magiê. Việc bón phân khoáng cân đối kết hợp với việc tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh và sử dụng cây họ đậu trong hệ thống luân canh, xen canh với mì là giải pháp cơ bản để tăng năng suất mì.

- Đất trồng mì ở Tây Ninh là đất xám bạc màu nên hầu hết đều nghèo dinh dưỡng và ít được cung cấp phân bón. Tùy theo điều kiện đất đai có thể sử dụng lượng phân bón cho cây mì cho 1 ha: 80 N + 60 P2O5 + 120 K2O + 10 tấn phân chuồng hoai mục + 1 tấn vôi; tương đương 170 kg Urê + 375 kg Super lân + 200 kg Kali clorua + 10 tấn phân chuồng hoai mục + 1 tấn vôi.

* Vụ Đông Xuân:

Bón lót: Trước lúc lên luống, bón hết phân hữu cơ + toàn bộ phân lân + 60 kg urê + 1 tấn vôi.

Bón thúc lần 1: Đầu mùa mưa, 4 – 5 tháng sau khi trồng, bón 80 kg urê + 100 kg kali clorua.

Bón thúc lần 2: Cách bón thúc lần 1 khoảng 1 – 1,5 tháng 30 kg urê + 100 kg kali clorua.

* Vụ Hè Thu:

Bón lót: Trước lúc lên luống, bón hết phân hữu cơ + toàn bộ phân lân + 50 kg urê + 1 tấn vôi.

Bón thúc lần 1: 20 – 30 ngày sau khi trồng, 80 kg urê + 100 kg kali clorua.

Bón thúc lần 2: 4 – 5 tháng sau khi trồng, 40 kg urê + 100 kg kali clorua.

Lưu ý:

+ Ở các lần bón thúc 1 thì phải kết hợp với làm cỏ vun gốc, cày ra một lớp mỏng, cày ốp vô dày hơn, cho đất xốp đồng thời lấp phân để mì dễ hấp thu.

+ Bón phân lần 2 thường mì đã lớn, không nên cày mà dùng cuốc lấp phân, chú ý tránh làm đứt củ.

Ngoài ra, ở một số ruộng thâm canh cao cho năng suất cao có thể sử dụng lượng phân bón cho 1 ha cây mì 160 N + 150 P2O5 + 160 K2O; tương đương 347 kg Urê + 937 kg Super lân + 267 kg Kali clorua.

5. Quản lý cỏ dại

- Sử dụng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm sau trồng 1 – 3 ngày phun như các thuốc chứa hoạt chất: S-Metolachlor, Acetochlor, Quizalofop-P-Ethyl, …

- Làm cỏ kịp thời ba lần vào lúc 20, 40 và 70 ngày sau khi trồng kết hợp bón phân. Thường mì mọc đều trong khoảng 2 - 3 tuần tùy thuộc chất lượng hom giống, đất đai và thời tiết. Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng với cây mì rất lớn nên việc làm cỏ xới xáo là rất quan trọng để đảm bảo mì đạt năng suất cao.

+ Làm cỏ bón phân lần đầu nên thực hiện ngay sau khi cây mọc đều để mì sinh trưởng khỏe và giao tán sớm.

+ Làm cỏ bón phân lần hai giúp cây hình thành và phát triển củ.

+ Sau khi trồng 5 tháng đến khi cây mì cao lá gốc rụng, có thể phun thuốc chứa hoạt chất Fluazifop-P-Butyl, phun tránh không để lá, thân mì tiếp xúc với thuốc. Nhất là thân cây mì còn xanh. Nên phun trước khi thu hoạch ít nhất là 2 tháng để không ảnh hưởng đến hàm lượng tinh bột.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Nhện đỏ (Tetranychus urticae)

Đặc điểm gây hại:

- Nhện đỏ có miệng chích hút như mũi kim. Nhện đỏ đâm miệng vào thân cây, đầu tiên ở mặt dưới lá. Hầu hết các loài nhện đều tạo màng tơ trên cây ký chủ.

- Nhện ăn làm cho lá chuyển màu vàng xám. Các đốm hoại tử xuất hiện khi lá bị nặng. Khi nhện đỏ dời lớp sáp, lớp mô thịt lá xẹp xuống và tạo thành các đốm màu nơi nó chích hút. Quá trình chích hút tạo thành các vết chấm trắng và về sau lá trở nên vàng xám hay màu đồng. Sự rụng lá hoàn toàn có thể xảy ra nếu nhện đỏ không được phòng trừ.

- Khi quần thể tăng trưởng, nhện đỏ phân bố khắp bề mặt lá, bao gồm cả mặt trên lá và những đốm vàng bao trùm cả lá làm chuyển sang màu đỏ hay rỉ sắt. Khi bị nặng, phần lá giữa và dưới có biểu hiện tiến trình rụng lá hướng về ngọn, chồi bị teo tóp lại và cây có thể bị chết.

Phòng trừ:

- Chọn giống mì có khả năng chống chịu nhện.

- Sử dụng thiên địch trên đồng ruộng như bọ rùa.

- Khi nhện phát sinh gây hại, không để ruộng bị khô hạn, có điều kiện tưới phun là tốt nhất.

- Có thể dùng luân phiên các loại thuốc chứa hoạt chất như Clofentezine, Diafenthiuron, Avermectin, …         

 

2. Rệp sáp bột hồng (Phenacoccus manihotis)

Đặc điểm gây hại:

- Rệp trưởng thành cơ thể có dạng hình trứng, màu hồng và bao phủ bởi lớp sáp bột màu trắng; mắt hơi lồi; chân rết phát triển, cơ thể mang nhiều các tua sáp trắng rất ngắn ở phần bên mép thân và đuôi. Đôi tua sáp ở đuôi dài hơn các tua sáp khác. Chính điều này làm cho cơ thể rệp nhìn bên ngoài như có gai. Kích thước rệp trưởng thành dài khoảng 1,0 – 2,6 mm.

- Rệp sáp bột hồng gây hại ở điểm sinh trưởng của cây mì, gây hiện tượng chùn ngọn, cây lùn. Trên lá, rệp bám ở mặt sau lá, gây hại làm các lá mì bị xoăn, biến vàng. Khi bị nhiễm với mật độ cao, toàn bộ lá cây bị rụng, cây chết và làm năng suất củ giảm tới 80 %.

- Rệp sáp bột hồng lây lan qua hom giống, phát tán theo gió, trôi theo nguồn nước, kiến, bám dính trên cơ thể động vật, người, công cụ và phương tiện vận chuyển, …

Phòng trừ:

- Chọn hom giống không bị nhiễm bệnh.

- Trồng mì với mật độ hợp lý.

- Tạo vườn sắn thông thoáng, bón phân cân đối để cây mì sinh trưởng phát triển tốt.

- Sử dụng thuốc hóa học gốc Thiamethoxam, gốc Imidacloprid, gốc Dinotefuran, Carbosulfan + Chlorfluazuron, … để phòng trừ rệp sáp.

                

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh chổi rồng

Tác nhân:

Do Phytoplasma (Candidatus phytoplasma aurantifolia) gây ra.

Triệu chứng bệnh:

- Giai đoạn cây con: Hom giống bị nhiễm bệnh sau khi trồng lên mầm kém, sinh trưởng kém, lóng thân ngắn, lá ngắn và nhỏ. Chồi ngọn rụt ngắn lại, cây thấp lùn, các mầm ngủ trên thân mọc nhiều chồi, cây sinh trưởng kém, lá chuyển màu vàng, rụng hoặc chết khô. Khi bệnh nặng bên trong thân gỗ của cây và hom mì thâm đen, phần bấc trong thân cây chuyển màu nâu vàng, sau đó cây héo dần, rụng lá và chết cả cây.

- Giai đoạn thu hoạch: Những cây nhiễm bệnh nhẹ,  mặc dù cây sinh trưởng bình thường nhưng đến thời kỳ thu hoạch ngọn cây bị chết khô, phần thân đoạn dưới bị chết, các chồi mọc thành dạng chùm, hình dạng dù, biểu hiện sinh trưởng của từng chồi giống như triệu chứng của giai đoạn cây con nhiễm bệnh chổi rồng, cây mì ít củ và củ nhỏ hơn cây bình thường.

- Bệnh thường xuất hiện gây hại vào đầu mùa mưa (tháng 5 – 6) và phát triển mạnh vào các tháng 1, 3 năm sau.

Phòng trừ:

- Sử dụng những giống mì từ vùng chưa bị bệnh và cây mì sạch bệnh để làm giống, không vận chuyển hom mì giống từ vùng bệnh sang vùng khác.

- Vườn bị bệnh, thu gom đốt triệt để thân và tàn dư của cây mì bị bệnh để tiêu diệt nguồn bệnh, luân canh với cây trồng khác họ từ 1 – 2 vụ, sau đó mới trồng lại mì.

- Đối với diện tích mì non, giai đoạn phát triển thân lá bị nhiễm bệnh nhẹ, cần nhổ tiêu hủy cây bệnh và rắc vôi vào hốc những cây bị bệnh để hạn chế sự lây lan.

- Bón phân đầy đủ và cân đối N, P, K; khuyến khích sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh.

- Trồng xen cây họ đậu để bổ sung dinh dưỡng cho đất, hạn chế xói mòn rửa trôi đất.

 

2. Bệnh cháy lá vi khuẩn

Tác nhân:

Do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. Manihotis gây hại.

Triệu chứng bệnh:

- Bệnh xuất hiện nhiều vào mùa mưa. Vết bệnh trên phiến lá lúc đầu là những đốm nhỏ màu xanh xám, có góc cạnh. Về sau vết bệnh lớn dần lên, chuyển màu nâu, chung quanh có viền vàng, làm cháy 1 mảng lá, lá mềm nhũn rủ xuống.

- Vi khuẩn có thể xâm nhập vào mạch dẫn tạo thành những vết xì mủ ở cuống lá và thân non. Vi khuẩn cũng có thể phát triển trong toàn thân, tới cả rễ và củ. Cây bị nặng lá héo rủ, cành và có khi cả cây bị chết.

- Vi khuẩn tồn tại trong đất, trên tàn dư cây mì và trên hom giống là nguồn truyền bệnh cho vụ sau. Trên đồng ruộng vi khuẩn lan truyền qua mưa gió, qua dụng cụ canh tác, người và 1 số côn trùng.

Phòng trừ:

- Chọn giống kháng bệnh.

- Không dùng hom giống bệnh.

- Bón đầy đủ cân đối NPK đặc biệt là K.

- Khi bệnh mới xuất hiện, có thể dùng một số loại thuốc chứa hoạt chất như: Kasugamycin, Ningnanmycin, Cuprous Oxide, … 


2.3 Bệnh thối củ

Tác nhân:

 Do nấm Phytophthora sp. gây ra.

Triệu chứng bệnh:

Trên củ và cuống rễ, nấm gây thành hàng vết nâu có hình dạng không cố định, chỗ bị bệnh thối mềm và tiết ra chất dịch có mùi hôi. Trên bề mặt vết bệnh nhiều khi sinh lớp tơ nấm màu trắng, sau chuyển màu đen. Cây bị thối củ sinh trưởng kém, có thể chết. Bệnh phát sinh từ khi củ mới hình thành nhưng thường phát triển gây hại nặng khi củ lớn đến thu hoạch. Nấm tồn tại trong đất, xâm nhập vào củ qua các vết thương.

Phòng trừ:

- Chọn đất trồng mì ở những nơi cao không bị ngập úng cục bộ.

- Bón phân NPK cân đối, không quá lạm dụng phân đạm nhất giai đoạn hình thành củ.

- Không chọn hom giống ở những vườn mì bị bệnh (hom khỏe).

- Vệ sinh đồng ruộng, cày ải phơi đất, bón lót vôi trước khi trồng 15 ngày, sử dụng phân hữu cơ có chế phẩm sinh học Trichoderma hoặc dùng chế phẩm sinh học Trichoderma trộn với phân hữu cơ hoai mục để bón lót.

- Trong trường hợp phát hiện ruộng bị nhiễm bệnh cần hạn chế tưới quá ẩm và không tưới thấm (xả tràn giữa các luống) sẽ tạo điều kiện bệnh phát sinh và lây lan. Vào mùa mưa, đánh rãnh tiêu thoát nước tốt cho ruộng mì. Ngoài ra, cần giảm sử dụng phân đạm, tăng phân kali giúp cây hạn chế được bệnh.

- Khi bị bệnh phun tưới thuốc trừ bệnh có gốc đồng, nhóm thuốc chứa hoạt chất Kasugamycin, Fosetyl-aluminium,


2.4 Bệnh khảm lá

Tác nhân:

Do virut gây ra, bệnh lây lan do môi giới truyền bệnh là bọ phấn trắng, làm giảm năng suất và chất lượng của cây mì.

Triệu chứng bệnh:

Trên lá có những vết vàng loang lổ xen lẫn phần xanh. Khi bị nặng, vết vàng loang rộng ra trên phiến lá; lá biến dạng nhăn nheo, hơi cuốn lại và nhỏ đi. Cây mì nhiễm bệnh cho năng suất thấp.

Phòng trừ:

- Dùng hom giống từ những cây khỏe, không bị bệnh.

- Loại bỏ những cây bị bệnh trong vườn.

- Không trồng mì hoặc cây ký chủ của bọ phấn (cây thuốc lá, bông, cà chua, cà pháo, cà bát, bầu bí, khoai tây, ớt,…) ở những vùng đã bị bệnh khảm lá ít nhất một vụ.

- Cần phòng trừ bọ phấn trắng ngay từ đầu vụ.

- Sử dụng bẫy dính vàng treo trên đồng ruộng diệt bọ phấn trắng.

- Phun trừ bọ phấn bằng thuốc BVTV chứa hoạt chất như: Dinotefuran, Pymetrozine, ...

VI. THU HOẠCH

Thu hoạch khoai mì phải đúng thời kỳ. Nếu thu quá sớm, khoai mì không đủ hàm lượng tinh bột. Nếu thu hoạch quá muộn, sẽ tiêu hao chất khô trong củ. Thời gian thu hoạch khoai mì trung bình là 8 – 11 tháng. Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào giống mì, có thời gian sinh trưởng khác nhau./.

Trung tâm Khuyến nông

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đu đủNông nghiệpBài viếtTrung tâm Khuyến nôngKỹ thuật trồng và chăm sóc cây đu đủ/PublishingImages/2019-04/TTKN đu đủ.jpg
Cây Đu đủ là một trong những loại cây ăn quả nhiệt đới được ưa chuộng, mau cho quả (trồng 1 năm có thể cho quả), khả năng trồng dày (2.000 - 4.000 cây/ha) và cho 20 quả/cây/năm.
5/6/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng:

Đu đủ dễ tính có thể trồng trên đất pH từ 5,5 - 6,5. Đất trồng đu đủ phải giàu chất hữu cơ, tơi xốp, đất không hoặc ít phèn, thuận tiện cho việc tưới nước và thoát nước tốt khi có mưa lớn. Vùng đất thấp phải lên liếp, hoặc mô thật cao và đường mương thoát nước phải sâu để dễ thoát nước. 

2. Nước

Cây đu đủ cần lượng mưa khoảng 100 mm/tháng,Vào thời kỳ ra hoa, cần cung cấp lượng nước đủ mới đảm bảo năng suất. Thiếu nước vào mùa nắng, hoa sẽ ít đậu trái và trái non sẽ rụng nhiều. Tuy nhiên, nếu quá nhiều nước thì rễ, lá bị hư hại nhiều, cây phát triển chậm, yếu. Cây đu đủ thân giòn không chịu đựng được gió to.

3. Nhiệt độ

Cây đu đủ phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và ẩm, không bị che bóng mát. Đu đủ rất nhạy cảm với nhiệt độ và ẩm độ, khi nhiệt độ cao 25 - 30 0C hoặc  ẩm  độ  cao,  cây  sẽ  sinh  trưởng  kém,  ít  đậu  trái. 

Vào các tháng quá khô (tháng 2 – 4 dương lịch) thường thiếu nước, hay vào mùa mưa (tháng 6 – 10 dương lịch) thiếu ánh nắng, mưa nhiều (250 – 300 mm/tháng) gây úng rễ đều làm cây sinh trưởng kém, ít đậu trái và giảm năng suất.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả.

- Đối với cây đu đủ, việc xác định pH đất và nước rất cần thiết do nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Nếu pH đất thấp thì rễ cây sẽ gặp khó khăn trong việc hấp thu chất dinh dưỡng (điều kiện tốt nhất để cây đu đủ hấp thu chất dinh dưỡng là pH từ 5,5 – 6,5). Do đó, khuyến cáo người sản xuất cần phải phân tích phẫu diện đất để xác định tính chất đất (hàm lượng các chất dinh dưỡng, độ chua đất, nước,…) để có kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả. Đất một số khu vực tại Tây Ninh tương đối chua, thường ở mức từ 3 – 4, ở mức pH này sẽ gây khó khăn cho việc trồng

đu đủ. Do đó, trước khi trồng nên có đánh giá độ pH đất để có kế hoạch bón phân hợp lý hoặc cải tạo đất trước khi trồng.

- Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh thường có pH thấp. Do đó, khi sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước tưới, cần phải xác định độ pH của nước tưới để có hướng xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây trồng. Đối với nước có pH < 5, không nên sử dụng tưới trực tiếp cho cây mà cần thiết kế hệ thống bể chứa xử lý ằng vôi để cải thiện độ pH cho thích hợp.

* Biện pháp cải tạo độ chua của đất:

- Trong đất chua còn có nhiều lưu huỳnh ở các dạng khác nhau, trong đó có những dạng gây độc cho cây trồng. Do đó không nên bón những loại phân có chứa lưu huỳnh như đạm sunfat, …

+ Bón phân lân: Bón lân ngoài cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng còn có tác dụng hạ độc phèn rất hiệu quả. Có thể sử dụng super lân hoặc kết hợp phun phân bón lá có chứa lân.

+ Bón phân hữu cơ đã hoai mục: Bón phân hữu cơ hoai mục rất quan trọng do phân hữu cơ cũng có tác dụng cải tạo đất tơi xốp, … Ngoài ra, phân hữu cơ còn có tác dụng như lân là khi bón vào đất sẽ kết hợp với các độc chất làm hạ độc phèn giảm độc đối với cây trồng.

+ Bón vôi: Vôi bón vào đất chua có những lợi cích chủ yếu là giúp chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan hơn. Cải thiện cấu trúc đất. Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như Ca, Mg. Thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hữu ích. Trung hòa độ chua do phân bón gây ra. Giảm độc chất ảnh hưởng đến cây trồng (các kim loại nặng hòa tan mạnh khi pH thấp).

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

Ở Việt Nam có hai giống đu đủ nội địa truyền thống là giống đu đủ thịt đỏ và giống đu đủ thịt vàng. Hiện nay có nhiều giống mới được lai tạo và nhập nội chủ yếu là các giống đu đủ lai F1 với năng suất, sản lượng và chất lượng quả cao với nhiều màu sắc của thị quả khác nhau như đỏ, vàng, tím…1. Giống đu đủ Đài Loan Tím:

Đây là một trong những giống trồng được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam  đặc biệt  là vùng  ĐBSCL. Trái  đu đủ Đài  Loan Tím được  dùng để  ăn  tươi khi chín. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh vào giai đoạn đầu sau khi trồng.

Thời gian từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ  10 - 12 tuần. Cây cao trung  bình  từ  170 – 200 cm. Vị trí  mang  trái  đầu  tiên  cách mặt  đất  75 - 80 cm.  Trọng  lượng trái trung bình 1.100 g – 1.300 g.

Trái khi chín có vỏ màu vàng, thịt trái màu đỏ tía, màu đỏ nhạt hơn về phía gần 

vỏ trái. Năng  suất trung bình  từ  18 – 20 kg/cây/năm. Trong điều kiện chăm sóc tốt  có thể  đạt trên 40 kg/cây/năm. 

2. Giống đu đủ Ruột vàng Long An:

Đây  là giống địa phương, trồng  được trồng nhiều  ở các tỉnh phía Nam.  Trái đu đủ Ruột vàng Long An được chủ yếu dùng làm mức, đu đủ  sấy, làm "rau xanh' khi trái chưa chín. Khi trái chín thịt quả mềm.

Cây sinh trưởng và phát triển rất mạnh vào giai đoạn đầu và sau khi trồng.

Thời gian từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ 10 - 12 tuần. 

Cây  cao  trung  bình  từ  160 – 250 cm.Vị trí  mang  trái  đầu  tiên  cách  mặt  đất  60 – 80 cm. Trọng lượng trái trung bình rất to 1.100 g – 1.400 g. 

Trái khi chín có vỏ màu vàng. Thịt trái dày có màu vàng tươi. 

Trái có vị ngon, ngọt nhưng có yếu điểm là thịt mềm khi chín. Năng  suất trung bình từ 30 – 40 kg/cây/năm. Trong điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt trên 60 kg/cây/năm.

3. Giống Hong Kong da bông:

Cho năng suất cao, trọng lượng trái trung bình từ 2,5 – 3 kg, vỏ dày, chống chịu khá với nhện đỏ và các bệnh do Virus.  Thịt trái có màu vàng, hàm lượng đường từ 9 – 10 %.

4. Giống Hồng Phi 786:

Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80 cm. Tỷ lệ đậu trái cao, 1 mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5 – 2 Kg (có thể đạt 3 kg/trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi, hàm lượng đường 13 - 14 %, dễvận chuyển.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ

Đu đủ có khả năng trổ hoa và đậu trái quanh năm, tuy nhiên để hạn chế sâu bệnh có thể bố trí trồng đu đủ vào đầu mùa mưa (Tháng 4 - 5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (Tháng 10 - 11).

2. Chọn giống

- Cây trồng bằng hột thì dễ dàng và tiện lợi hơn vì trái đu đủ nhiều hột, mà hột lại tồn trữ dễ dàng. Hột vẫn còn nẩy mầm sau ba năm nếu đựơc bảo quản tốt. Gieo hột càng tươi càng tốt. 

- Chọn hạt: Từ trái thon dài, phát triển tốt trên cây mẹ khỏe, sạch sâu bệnh, trái phải đủ độ già trên cây, chỉ lấy những hạt đen ở giữa trái thả vào nước, vớt những hạt nổi bỏ đi, chỉ dùng những hạt chìm làm giống. 

- Xử lý hạt: Vớt những hạt nổi bỏ đi, những hạt chìm làm giống có thể ngâm xâm xấp nước 1 - 2 ngày đêm trong chậu men, sau đó đãi sạch chất keo, chất nhớt bám vào hạt, chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo. Trước khi gieo cần xử lý hạt, dùng dung dịch Tốp-xin 1% để khử mầm bệnh, tiếp theo ngâm hạt trong Cacbonat natri 1%  (NaHCO) từ 4 - 5 tiếng đồng hồ, sau đó dùng nước rửa sạch là có thể đem gieo. Để hạt trong nhiệt độ 32 - 35 0C để thúc mầm, khi hạt đã nứt nanh mới đem gieo để cây mọc đều và nhanh.

3. Ươm cây con

Gieo hạt trong bầu: Dùng túi nilon kích thước 12 x 7 cm (có đục lỗ thoát nước), lấy đất phù sa hay thịt nhẹ, làm đất nhỏ kỹ, trộn phân chuồng hoai mục với tỷ lệ 2 đất 1 phân cho vào đầy túi. Mỗi bầu túi có thể gieo hai ba hột để trừ hao khi hột ít nảy mầm, sâu bệnh phá hại hay để tỉa bớt cây đực, ấn nhẹ hạt vào trong bầu và phủ ít đất mịn lên trên. Gieo hạt xong cần tưới ẩm, thường xuyên tưới nhẹ mỗi ngày 1 lần, giữ ẩm cho đất ở mức 65 – 70 %. Cần chú ý: Sau khi hạt nảy mầm thành cây thì tưới thưa hơn vì lúc này  cây chưa cần đến nước nhiều, tưới nhiều đất quá ẩm cây con dễ bị nhiễm bệnh.

4. Kỹ thuật trồng

- Hố  trồng  có  kích  thước  chiều  dài,  chiều  rộng  và  chiều  sâu  là  60 x 60 x 30 cm.  khoảng cách trồng: hàng cách hàng từ 2 - 2,5m, cây cách cây là 2 m (khoảng 2.000-2.100 cây/ha). Sau khi đào hố, tiến hành bón lót. Mỗi hố bón 10 - 15 kg phân chuồng, 0,5 kg lân, 0,2 kg kali, 0,5 kg vôi bột. Trộn đều tất cả phân với đất mặt rồi lấp đầy hố trồng.

- Khi đu đủ trong bầu cao 15 – 20 cm thì đem ra trồng, chỉ lấy những cây có thân hình tháp bút, lóng ngắn kề nhau, có lá màu xanh đậm, xẻ 4 thùy, biểu hiện của cây cái. Đặt bầu cây giữa hố, dùng dao sắc rạch nhẹ gỡ bỏ bầu nilon (không làm vỡ bầu), vun đất quanh bầu, nén chặt gốc và tưới đủ ẩm cho cây. Dùng rơm rạ hay bèo phủ giữ ẩm cho đất. Khi cây bén rễ sinh trưởng tốt, cắm cọc ghì cây để giữ cây khỏi đổ ngã khi có mưa gió bão, khi cây lớn nới dần dây buộc ra.   

- Khi cây cao 40 – 50 cm (2,5 - 3 tháng tuổi) phải vun gốc bón thúc bằng phân tổng hợp NPK hay DAP, hay bón 100 g urê + 300 g super lân + 50 g kali quanh gốc sau đó tưới nước cho phân tan để cây hút được chất dinh dưỡng. Khoảng 5 - 6 tháng sau khi đặt vào hố, cây đu đủ bắt đầu trổ hoa. Chỉ nên giữ lại các cây cái hay cây lưỡng tính mọc mạnh, tỉa bỏ các cây khác. Khi cây đã ra hoa, trái nên bón phân thêm một lần nữa, liều lượng phân bón như đã nêu trên. Khoảng  9 - 10 tháng sau khi trồng là đu đủ có trái và cây ra trái suốt năm. Đều quan trọng là gốc đu đủ phải luôn sạch cỏ, được tủ gốc để giữ ẩm thì đu đủ mới sai và to trái, vỏ căng, mã đẹp.

5. Chăm sóc

- Chặt bỏ và tiêu hủy những cây bị bệnh để tránh lây lan cho các cây khác. Đu đủ có bộ rễ ăn nông, cây dễ đổ ngã do gió, bão và khả năng chiụ ngập úng rất kém, vì vậy cần chú ý làm cỏ, vun gốc cho cây, chống đổ trong mùa  mưa  gió và khơi rãnh thoát nước trong mùa mưa, bão. Những nơi mùa khô kéo dài, thiếu nước cần có biện pháp tưới nước và giữ ẩm cho cây. 

- Tốt nhất là tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm. Những nơi lạnh cần bao quả. Để đạt năng suất cao cần thụ phấn bổ khuyết cho hoa. Khi cây mang quả nặng cần cắm cọc chống gió bão cho cây, cắt bỏ lá già gần gốc, khơi rãnh thoát nước chống úng cho cây; làm sạch cỏ dại, xới xáo cho đất thông thoáng. Mùa khô cần ủ rơm rạ quanh gốc giữ ẩm cho cây. Năm sau, cây đu đủ thường phát triển kém đi, chọn để lại những cây khoẻ, loại bỏ cây yếu kém và trồng thếbằng cây con mới.

- Thường cứ 30 - 45 ngày làm cỏ, tỉa hoa, tỉa quả, cành lá một lần. Nên dùng đất thịt mới ở ruộng cầy ải, đất bùn ao phơi khô xếp vào xung quanh gốc, hoặc đất phù sa thật tốt. Khi cây ra quả và hoa nhiều, cần thường xuyên tỉa bớt quả èo, hoa xấu, bỏ bớt những chùm quả quá dầy. Cây đu đủ nào cao trên 3 m ở những nơi thoáng gió cần tỉa đốn ngọn (có nơi dùng nồi đất, gạch ngói úp lên ngọn đã cắt) cho cây đâm nhánh không vươn lên cao. 

- Cắm cây  cọc: Thông  thường đu đủ đều trồng thẳng, khi  gặp  gió bão  phải cắm  cọc chống gió, dùng 3 cây cọc cắm chéo hoặc 1 cây cọc cắm thẳng và cột chắc cây đu đủ vào cọc. Vào thời kỳ cây đậu trái nhiều mà gặp gió bão có thể chặt bớt một số lá già gần gốc, để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gãy.  

- Tỉa cành và hái trái: Sau khi xuống giống, nếu trên thân chính mọc ra nhánh con phải ngắt bỏ sớm. Vào thời kỳ đậu trái phải hái bỏ kịp thời những trái bị méo, bị sâu bệnh, những lá già héo chết phải ngắt bỏ luôn cuống lá.

Tưới nước: Đu đủ là loại cây cần nhiều nước nhưng rất sợ úng. Do đó cần cung cấp đầy đủ nước cho cây vào mùa nắng và thoát nước tốt cho cây vào mùa mưa hoặc khi bị úng, lũ. 

- Làm cỏ: Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh. Cần làm thường xuyên quanh gốc. 

Tủ gốc: Dùng rơm hoặc cỏ khô tủ quanh gốc vào mùa nắng để giữ độ ẩm và giữ nhiệt độ thích hợp cho cây.

7. Phân bón

- Đu đủ có quả quanh năm, vì vậy cần phải bón phân để cung cấp dinh dưỡng cho cây nuôi hoa, quả. Ngoài việc bón lót trước khi trồng, cần bón thúc các loại phân hữu cơ, đạm, lân, kali trong đó chú ý đến lân, kali. Lượng phân bón cho 1 cây như sau: 

  • Năm thứ  1: Phân chuồng 10 – 15 kg + 0,3 -0,5 kg urê + 0,5 - 1kg lân super + 0,2 - 0,3 kg kali sulfat (kali trắng).
  • Năm thứ 2: Phân chuồng 15 – 20 kg + 0,3 - 0,4 kg urê + 1 - 1,5 kg lân super + 0,3 - 0,4 kg kali sulfat.
  • Các thời kỳ bón cho cây: Sau trồng 1,5 - 2 tháng hoặc vào đầu mùa mưa (năm thứ 2) bón  toàn bộ phân chuồng, 30 % lân, 30 % đạm. Khi cây ra hoa: 30 % đạm, 30 % lân và 50 % kali. 

- Sau khi thu quả lứa đầu (sau trồng khoảng 5 - 6 tháng) bón 20 % đạm, 40 % lân, 20 % kali.  Khi bón phân cần xăm đất, rải phân kết hợp với vun gốc lấp phân cho cây. Cũng có thể chia lượng phân ra bón nhiều lần. Các đợt bón kết hợp với làm cỏ vun gốc cho cây. Bón thúc 3 lần trong năm đầu: Lần 1 sau trồng 4 - 6 tuần, lần 2 khi cây ra hoa kết quả, lần 3 khi quả lớn.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số bệnh như sau:

1. Bệnh phấn trắng do nấm Oidium caricae

Triệu chứng bệnh phấn trắng:

- Dấu hiệu nhận biết dễ thấy của bệnh phấn trắng là những đốm vàng xuất hiện trên lá và thân cây, dần dần những đốm vàng này chuyển sang màu trắng bao phủ toàn bộ lá và thân cây

- Cây bị nhiễm bệnh có chung một đặc điểm Bệnh xuất hiện phá hại ngay từ thời kỳ cây con. Ban đầu trên lá xuất hiện những chòm nhỏ mất màu xanh hóa vàng, dần dần được bao phủ bởi một lớp nấm trắng dày đặc như bột phấn, bao trùm cả phiến lá (không bị giới hạn bởi gân lá). sau một thời gian lá bệnh chuyển dần từ màu xanh sang vàng lá khô cháy và dễ rụng.

- Bệnh nặng lớp phấn trắng xuất hiện trên cả thân, cành, hoa làm hoa khô và chết. Cây bị bệnh sinh trưởng yếu, phẩm chất kém.

- Bệnh xuất hiện do nấm, thường xảy ra trên những lá già dưới thấp trước tiên và không làm giảm nhiều đến năng suất trái.Tuy nhiên, nấm sẽ gây hại nặng trên vườn cây còn nhỏ, nếu gặp nóng và ẩm độ tăng cao nấm phát triển ở mặt dưới lá, tập trung gần gân lá. Vết bệnh lúc đầu xanh nhạt, úa vàng và có viền xanh đậm bao quanh. Sợi nấm sinh ra bào tử bao phủ như 1 lớp phấn trắng, thânlá, cuống hoa và trái đều bị nhiễm nấm.

Nguyên nhân gây bệnh phấn trắng cho cây:

- Cũng như đa số loại bệnh dịch trên cây khi thời tiết mưa nhiều, độ ẩm không khí tăng cao là khoảng thời gian bệnh phấn trắng xuất hiện. Nấm Sphaerotheca pannosa là nguyên nhân chính gây ra bệnh phấn trắng.

Bệnh thường phát triển nhanh khoảng đầu xuân khi có thời tiết mưa xuân và thời tiết bắt đầu ấm dần lên và khoảng đầu tháng 9 đến tháng 12 là thời điểm mà bệnh phấn trắng phát triển nhanh.

- Cách phòng bệnh phấn trắng đơn giản nhất:

  • Lên luống cao, thoát nước tốt để tránh ẩm độ cao trên ruộng.
  • Tỉa bớt cây, trồng cây với khoảng cách hợp lý để bệnh không lây lan.
  • Khi có dấu hiệu của bệnh cần cắt bỏ, tiêu hủy những cây nhiễm bệnh, tránh để bệnh bùng phát.
  • Vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ lá bị bệnh thu gom đem tiêu hủy.
  • Trồng mật độ hợp lý, không trồng quá dày dễ làm cho bệnh gây hại nặng.
  • Chọn giống tốt, sạch, có khả năng kháng bệnh.
  • Dọn sạch tàn dư cây bệnh sau khi thu hoạch.
  • Xử lý hạt giống bằng những loại thuốc đặc hiệu cho từng loại bệnh trước khi trồng.
  • Các loại thuốc phòng trừ bệnh phấn trắng có hoạt chất như: Bacillus subtilis,  Chlorothaloni, Propineb, …

2. Bệnh xoăn vàng lá


Triệu chứng bệnh xoăn vàng lá

- Tác nhân gây bệnh: Do một số loài virus gây ra. Các virus này có tên Papaya Mosaic Virus (PapMV), Papaya Ringspot Virus (PRSV)…

- Cách lan truyền và nguồn bệnh: Tác nhân gây bệnh là do virus cho nên phải có vật trung gian (các vector) mang và truyền bệnh thì bệnh mới được phát sinh và phát tán (các vector như rệp, hoặc một số loài sâu chích hút khác…).

- Rệp mang virus từ cây bị bệnh rồi truyền sang cây khỏe. Con người cũng có thể làm virus lây lan trong quá trình trồng và chăm sóc. Trong tự nhiên, virus có thể tồn tại trong nhiều loại cây hoang dại, … Chính vì vậy nguồn bệnh trong tự nhiên rất lớn, nên khả năng lây lan phát dịch luôn thường trực.

Triệu chứng bệnh và tác hại:

- Tùy loài virus, tùy thời tiết và giai đoạn cây bị nhiễm mà thời gian phát bệnh và triệu chứng sẽ khác nhau.

- Thông thường, khi bị nhiễm virus thì cây thường bị lùn, sinh trưởng và phát triển đều kém, lá có màu không đồng nhất vàng xanh lẫn lộn, bị khảm, có thể bị nhỏ, bị nhăn nheo, biến dạng, …

- Khi một cây bị nhiễm nhiều loài virus thì triệu chứng hỗn hợp. Khi bị nhiễm nặng thì cây ngừng lớn, có ra hoa nhưng không đậu quả, hoặc đậu trái rất nhỏ, biến dạng và bị sượng.

- Giai đoạn cây nhỏ, nếu bị nhiễm virus càng sớm, thì thời gian ủ bệnh càng ngắn và cây phát bệnh càng sớm. Khi cây đã lớn bị nhiễm, do sức đề kháng cao hơn, nên cây phát bệnh muộn hơn.

- Cây phát bệnh càng sớm thì tác hại càng lớn. Cây bị bệnh thường lùn và lá bị xoăn, khảm vàng nên khả năng quang hợp giảm, làm giảm hoa trái, vì vậy làm giảm năng suất và chất lượng. Nếu cây bị bệnh sớm sẽ không cho thu hoạch.

Biện pháp phòng trừ:

- Phòng trừ: Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc đặc trị. Việc phòng trừ bệnh virus cho đu đủ khá khó khăn so với cây trồng khác. Tuy nhiên, chúng ta có thể quản lý bệnh khá hữu hiệu bằng cách quản lý con đường lây lan. Để quản lý được bệnh, chúng ta phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp mới đạt kết quả mong muốn.

- Các biện pháp đó là: 

  • Vệ sinh chặt bỏ cây đu đủ già trong vườn, vệ sinh tàn dư những cây đu đủ hoang dại… Nếu được thì tránh trồng gần vườn đu đủ ở giai đoạn lớn, đặc biệt là giai đoạn già.
  • Vệ sinh các loài cây dại quanh bờ, đặc biệt lưu ý kể từ giai đoạn đu đủ trong vườn ươm. Sử dụng các giống đu đủ kháng sâu chích hút, và kháng virus. Tránh làm xây xát cây trong quá trình trồng và chăm sóc.
  • Nhổ và tiêu huỷ các cây bị bệnh, không vứt cây bệnh bừa bãi.
  • Tránh bón thừa phân đạm, tăng cường các loại vi lượng bằng cách sử dụng phân bón lá.

3. Bệnh thán thư:  Do nấm (Collectotrichum gloeoporioides-Deuteromycetes):

Bệnh thán thư gây hại trên quả

Triệu chứng:

Bệnh gây hại chủ yếu trên lá và quả, đôi khi có trên cuống quả và thân cây. Trên lá, vết bệnh lúc đầu là những đốm tròn màu vàng nhạt, về sau vết bệnh lớn lên có màu nâu, trên đó có các đường vân vòng đồng tâm. Lá bệnh nặng cháy từng mảng lớn.Trên quả vết bênh là những đốm tròn hơi úng nước, lúc đầu nhỏ màu xanh tái, sau lớn lên có màu nâu, lõm vào thịt quả. Nhiều vết bệnh liền nhau thành vết lớn và thường thấy có tơ nấm trắng ở xung quanh, chỗ vết bệnh bị thối và có màu nâu tối. Nấm có thể gây hại từ khi quả còn xanh, nhất là khi chín thì quả thối nhanh hơn. Cuống quả bị bệnh cũng hóa nâu và thối, quả rụng. Trên thân vết bệnh màu nâu, hơi lõm . Nấm phát triển trong phạm vi 6 - 32 0C, thích hợp nhất ở 23-25 0C. Nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh trong đất. Thời tiết ấm áp và mưa nhiều thuận lợi cho bệnh phát triển gây hại.

Phòng trừ:

- Trồng cây phải thông thoáng, có ánh nắng, đất thoát nước tốt.

- Tiêu hủy những bộ phận bị bệnh.

- Thường xuyên kiểm tra, phát hiện bệnh và phun thuốc có chứa hoạt chất như: Iprodione, Propineb, ...

4. Bệnh đốm vòng (Papaya Ringspot Virus)

- Trên lá: Ban đầu là các vết đốm sáng vàng lợt, lá hơi co lại, sau đó vết bệnh phát triển dần thành các đốm vòng tròn 

- Trên quả: Lúc đầu vết bệnh chỉ là những đốm thâm xanh sẫm, sau đó phát triển dần thành những đốm vòng tròn hoặc bầu dục, có kích thước khoảng 0,5 - 1 cm

Biện pháp phòng trừ:

- Bệnh do virus gây ra nên hiện chưa có thuốc đặc trị. Một số côn trùng chích hút trung gian làm lây virus: Việc phòng trừ bệnh virus cho đu đủ khá khó khăn so với cây trồng khác. Để quản lý được bệnh cần phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp mới đạt kết quả mong muốn.

- Không trồng đu đủ liên tục nhiều vụ, nhất là trên vùng đất trước đó đã bị nhiễm bệnh.

- Không trồng xen đu đủ với các cây cà, ớt, đậu bắp, bầu bí, dưa, để không bị lây bệnh hoặc dẫn dụ rầy phá hại. Thường xuyên làm sạch cỏ dại trong vườn đu đủ.

- Vệ sinh chặt bỏ cây đu đủ già trong vườn, vệ sinh tàn dư những cây đu đủ hoang dại, ... Nếu được thì tránh trồng gần vườn đu đủ ở giai đoạn lớn, đặc biệt là giai đoạn già.

- Vệ sinh các loài cây dại quanh bờ, đặc biệt lưu ý kể từ giai đoạn đu đủ trong vườn ươm. Sử dụng các giống đu đủ kháng sâu chích hút, và kháng virus. Tránh làm xây xát cây trong quá trình trồng và chăm sóc.

- Nhổ và tiêu huỷ các cây bị bệnh, không vứt cây bệnh bừa bãi.

- Hạn chế bón nhiều phân đạm, bón thêm kali và vôi, tăng cường các loại vi lượng bằng cách sử dụng phân bón lá để tăng khả năng chống chịu của cây.

- Theo dõi thật chặt chẽ mật độ các loại sâu chích hút, đặc biệt là mật độ rệp để phòng trừ kịp thời. Chủ động phòng ngừa rệp giai đoạn vườn ươm, giai đoạn cây còn nhỏ cho đến giai đoạn có hoa (vì đây là giai đoạn quyết định tỷ lệ cây bị bệnh và mức độ bệnh nặng hay nhẹ).

- Tiêu diệt côn trùng môi giới hạn chế bệnh đốm vòng. Khi thấy rầy mềm xuất hiện có thể phun các loại thuốc có chưa hoạt chất như: Azadirachtin, Artemisinin, Cypermethrin, ...

5. Rệp sáp

Rệp sáp phát triển mạnh trong mùa nắng nóng. Rệp sáp là một loại côn trùng đa thực vì ngoài cây đu đủ chúng còn gây hại trên rất nhiều loại cây ăn trái khác như ổi, mãng cầu, cam, quýt, chanh, bưởi,… vì thế việc phòng trị chúng đôi khi cũng gặp khá nhiều khó khăn do nguồn thức ăn của chúng rất phong phú. Do cơ thể của nhóm rệp sáp được phủ bởi sáp nên sử dụng thuốc hóa học để phòng trị khó khăn và việc sử dụng thuốc không đúng có thể ảnh hưởng đến thiên địch của rệp sáp trong tự nhiên.

Biện pháp phòng trị:

- Để hạn chế tác hại của rệp sáp cần áp dụng nhiều biện pháp và phải thực hiện đồng thời trên các loại cây ký chủ của rệp trong vườn.

- Không nên trồng xen trong vườn những cây dễ nhiễm rệp sáp như sua đũa, bình bát, …

- Dùng máy bơm nước có áp suất cao, tia nước mạnh xoáy vào những chổ bị rệp bám sẽ rửa trôi bớt rệp.

- Trong điều kiện tự nhiên, có nhiều loài thiên địch tấn công, phổ biến nhất là ong ký sinh thuộc giống Anagyrus và các thiên địch ăn mồi như kiến vàng, bọ rùa,…

- Thường xuyên dọn dẹp vệ sinh vườn, không trồng mật độ quá dày để tạo thông thoáng vườn cây.

- Phải thường xuyên kiểm tra đu đủ nhất là giai đoạn ra hoa, trái non để kịp thời phát hiện rệp sáp khi mật số còn thấp và chưa phát tán rộng sẽ dễ xử lý. Một số thuốc hóa học có hiệu quả trên rệp sáp có hoạt chất như: Celastrus angulatus, Azadirachtin, Celastrus angulatus, …

- Lưu ý: vì rệp sáp có một lớp sáp bao phủ bên ngoài nên khi phun phải thật kỹ hoặc có thể pha thêm chất bám dính vào dung dịch thuốc để thuốc phun bám được vào lớp sáp thì mới đạt hiệu quả cao.

 

Rệp sáp trên lá vè quả đu đủ

 6. Nhện đỏ

 Đặc tính nhện đỏ:

- Con nhện đỏ rất nhỏ mắt thường không thấy đuợc, muốn thấy chúng phải dùng kính lúp. 

- Nhện đỏ phát triển mạnh lúc trời nắng ráo, hay nói cách khác là mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm).

- Thân hình yếu ớt, nhưng phát triển rất nhanh.

- Đặc điểm gây hại: Nhện đỏ hại cây bằng cách ăn biểu bì của lá, hút nhựa cây làm cây yếu đi và chết. 

Cách nhận biết có nhện đỏ:

- Thông thường, nhện đỏ thích núp duới mặt lá cây và sống trên đọt non của cây. Bằng cách lật mặt duới lá cây và coi bằng kính lúp sẽ thấy những con nhỏ li ti đang bò giống như con nhện.

- Ta có thể nhìn trên đọt cây lúc có ánh sáng xuyên qua, ta thấy có tơ của nhện bao xung quanh ngọn cây và có những con li ti như đầu kim di động, đó là nhện đỏ.

- Khi mà trên rau có nhiều tơ trên đọt là lúc này đã có rất nhiều nhện đỏ trên cây. 

- Nếu không có kính lúp, có thể lấy tay vuốt mạnh dưới mép lá thì ta thấy có nước màu vàng, đó là cây có thể đã có nhện đỏ cần khám xét lại thật kỹ để chữa trị. Dùng một tờ giấy trắng để dưới sát cành cây lắc, rung mạnh rồi hứng đem ra chỗ có ánh sáng mà coi sẽ thấy.

Đặc điểm gây hại của nhện đỏ:

- Nhện di chuyển rất nhanh và nhả tơ mỏng bao thành một lớp ở mặt dưới lá nên trông lá có màu trắng dơ do lớp da để lại sau khi lột cùng với bụi và những tạp chất khác. Chúng sinh sống và gây hại ở mặt dưới lá, cả ấu trùng và thành trùng (nhện trưởng thành và nhện non) nhện đỏ đều ăn biểu bì và chích hút mô dịch của lá cây khi lá bước vào giai đoạn bánh tẻ trở đi làm cây bị mất màu xanh và có màu vàng, làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lỗ (những chấm trắng vàng rất dễ nhận ra trên mặt lá), còn ở mặt dưới lá có những vết trắng lấm tấm giống bụi cám, nhìn kỹ thấy trên đó có lớp tơ rất mỏng.

- Khi nhện hại nặng lá cây bị phồng rộp sau đó cằn lại, vàng, thô cứng và sau cùng lá sẽ bị khô đi. Màu vàng của lá dễ nhìn thấy nhất là ở mặt dưới lá, làm giảm phẩm chất và năng suất trái. Khi mật số cao, cả cành non cũng bị nhện đỏ tấn công, cành cũng trở nên khô và chết.

- Nhện đỏ gây hại làm cho trái bị vàng, sạm và nứt khi trái lớn. Hoa bị hại có thể bị thui, rụng. Nhện còn có thể tuyền bệnh virus cho cây.

- Nhện đỏ phát triển trong điều kiện khô hạn trong mùa nắng, cây bón nhiều đạm. Do có vòng đời ngắn nên thường mật số tăng lên rất nhanh và gây hại nghiêm trọng.  Chúng lan truyền nhờ gió và những sợi tơ, mạng của chúng.

Biện pháp phòng trị nhện đỏ:

- Bón phân dứt điểm thành từng đợt và phải bón cân đối giữa đạm, lân và kali. Nếu vườn bị nhện gây hại nhiều thì nên tăng cường bón thêm phân lân và kali.

- Tỉa bỏ những cành, lá không cần thiết bên trong tán cây để tán cây luôn luôn được thông thoáng.

- Tưới nước giữ ẩm cho cây trong mùa khô.

- Vệ sinh đồng ruộng, hủy triệt để tàn dư cây trồng.

- Tưới phun với áp lực mạnh khi mật độ nhện cao.

Biện pháp sinh học, tự nhiên: 

- Thiên địch có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế mật số nhện đỏ như:

- Nhện đỏ Galandromus (Metaseiulus) occidentalis, loài này có cùng kích thước với nhện gây hại nhưng thiếu các chấm và có màu vàng nhạt đến màu đỏ nâu, khả năng diệt nhện của loài này không cao lắm.

- Bù lạch 6 chấm Scolothrips sexmaculatus có 3 chấm màu sậm trên mỗi cánh trước, bù lạch bông Frankliniella occidentalis có màu từ vàng chanh sáng đến nâu sậm.

- Bọ rùa Stethorus sp.

- Bọ xít nhỏ Orius tristicolor và Chysoperla carnea cũng là thiên địch của nhện đỏ.

- Bọ trĩ ăn thịt.

- Các loài thiên địch này thường khống chế nhện đỏ dưới ngưỡng gây hại nên không cần sử dụng thuốc hóa học để trừ nhện đỏ.

- Chú ý việc dùng thuốc hóa học nhiều dễ gây bộc phát nhện đỏ, do tiêu diệt thiên địch của nhện đỏ và nhện đỏ có khả năng quen và kháng thuốc cao.

Biện pháp hóa học:

- Nhện đỏ rất khó trị vì rất nhỏ và thường sống ở gần gân lá, nơi thuốc trừ sâu rất khó tiếp xúc, hơn nữa, nhện tạo lập quần thể rất nhanh nên mật số tăng nhanh và nhiều. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ nhện nhưng phải để ý đến quần thể thiên địch.

- Phun các thuốc có chứa hoạt chất như: Clofentezine, Diafenthiuron, Emamectin benzoate Avermectin + Avermectin, …

- Lưu ý cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý để bảo vệ thiên địch. Tưới nước đầy đủ trong mùa nắng để làm tăng ẩm độ vườn. Chú ý dùng khi dùng thuốc cần luân phiên thuốc để tránh nhện hại nhờn thuốc.





V. THU HOẠCH: 

Đu đủ sau khi trồng 5 - 6 tháng có thể thu hoạch quả xanh làm rau xanh, thu quả chín sau trồng 9 - 10 tháng. Cây đu đủ có thể thu hoạch quanh năm. Khi quả chín vàng (hay đỏ) từ 2/3 quả trở lên, trên quả đã xuất hiện các sọc vàng nhạt, lúc này vật chất khô trong quả đã tích lũy tối đa để khi chín, quả đạt chất lượng thương phẩm tốt. Khi thu hái trái (cây cao dùng  thang) nên vặn từng quả một nhẹ nhàng. Quả chín đem xếp vào sọt, mỗi lớp quả có một lớp rơm. Trên cùng phủ kín rơm hay bao tải để 3 - 5  ngày vàng đều và sờ tay hơi mềm là có thể lấy ra ăn hay đem bán. Mỗi cây có thể cho thu hoạch trung bình 70kg quả, cây cho thu hoạch caocó thể đạt 100 – 120 kg quả/cây./.

Trung tâm Khuyến nông


Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mãng cầu xiêmNông nghiệpBài viếtTrung tâm Khuyến nôngKỹ thuật trồng và chăm sóc cây mãng cầu xiêm/PublishingImages/2019-04/TTKN Mãng cầu.jpg
Mãng cầu xiêm thích hợp với đất phù sa nhiều thịt, giàu chất hữu cơ, giữ độ ẩm ổn định và thoát nước tốt, pH tốt nhất từ 4,5 – 6,5. Tầng canh tác của đất để trồng mãng cầu xiêm không dày vì rễ ăn nông. Tuy nhiên đất pha sét, pha cát cũng chịu được.
Hiện nay, cây mãng cầu xiêm ghép lên gốc bình bát nên có thể trồng ở những vùng bị ngập úng, nhiễm mặn, phèn.
5/6/2019 10:00 AMNoĐã ban hành

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

- Mãng cầu xiêm thích hợp với đất phù sa nhiều thịt, giàu chất hữu cơ, giữ độ ẩm ổn định và thoát nước tốt, pH tốt nhất từ 4,5 – 6,5. Tầng canh tác của đất để trồng mãng cầu xiêm không dày vì rễ ăn nông. Tuy nhiên đất pha sét, pha cát cũng chịu được.

- Hiện nay, cây mãng cầu xiêm ghép lên gốc bình bát nên có thể trồng ở những vùng bị ngập úng, nhiễm mặn, phèn.

2. Nước     

Lượng mưa tối thích cho mãng cầu xiêm là 1.800 mm.Ở vùng đất thấp do tập quán trồng mãng cầu xiêm cặp sát mương nên lượng mưa không thành vấn đề. Tuy nhiên, nếu có nước tưới cây sẽ cho năng suất cao và chủ động việc làm quả trái vụ.

3. Ánh sáng

 Khi còn nhỏ chúng cần che nắng. Nhưng khi cây lớn hễ bị rợp hay không tỉa thoáng hoa quả sẽ ít. Mãng cầu xiêm không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ.

4. Nhiệt độ

            Mãng cầu xiêm là cây nhiệt đới, ưa khí hậu nóng, ẩm. Yêu cầu về nhiệt độ cao, không chịu lạnh dù là tương đối. Nhiệt độ dưới 5 0C sẽ làm lá và các cành nhỏ hỏng và nhiệt độ dưới 30C thì cây có thể chết. Vì vậy, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng là 21 – 30 0C. Cây đòi hỏi về lượng mưa và ẩm độ cao.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần có cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên để lựa chọn các vùng đất thích hợp cho từng loại cây trồng.

- Đối với cây mãng cầu xiêm, yêu cầu về đất đai là quan trọng nhất. Để sinh trưởng phát triểntốt cây mãng cầu xiêm phù hợp nhất là đất phù sa nhiều thịt, giàu chất hữu cơ, thoát nước tốt, pH tốt nhất từ 4,5 – 6,5. Tuy nhiên đất đai ở Tây Ninh chủ yếu là đất xám bạc màu, pH thấp, đất nghèo dinh dưỡng. Vì vậy, cần tiến hành phân tích đất để có cơ sở tăng cường bón phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh giúp cải thiện đất trồng và bón vôi tăng pH cho đất để phù hợp cho cây mãng cầu xiêm sinh trưởng, phát triển tốt.

- Việc xác định pH đất và nước rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nếu pH thấp dẫn đến cây khó có thể hấp thu dinh dưởng, làm cho rể cây không phát triển…Do đó, độ chua của đất là yếu tố môi trường chính hạn chế sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng. Trong canh tác, trước khi gieo trồng, điều đầu tiên cần quan tâm là hiệu chỉnh pH của đất thích hợp với điều kiện sinh trưởng và dinh dưỡng của cây trồng.

- Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh thường có pH thấp. Do đó, khi sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước tưới, cần phải xác định độ pH của nước tưới để có hướng xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây trồng. Đối với nước có pH < 5, không nên sử dụng tưới trực tiếp cho cây mà cần thiết kế hệ thống bể chứa xử lý ằng vôi để cải thiện độ pH cho thích hợp.

* Biện pháp cải tạo độ chua của đất:

  • Trong đất chua còn có nhiều lưu huỳnh ở các dạng khác nhau, trong đó có những dạng gây độc cho cây trồng. Do đó không nên bón những loại phân có chứa lưu huỳnh như đạm sunfat.
  • Bón phân lân: bón lân ngoài cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng còn có tác dụng hạ độc phèn rất hiệu quả. Có thể sử dụng super lân hoặc kết hợp phun phân bón lá có chứa lân.
  •  Bón phân hữu cơ đã hoai mục: bón phân hữu cơ hoai mục rất quan trọng do phân hữu cơ cũng có tác dụng cải tạo đất tơi xốp, … Ngoài ra, phân hữu cơ còn có tác dụng như lân là khi bón vào đất sẽ kết hợp với các độc chất làm hạ độc phèn giảm độc đối với cây trồng.
  • Bón vôi: Vôi bón vào đất chua có những lợi cích chủ yếu là giúp chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan hơn. Cải thiện cấu trúc đất. Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như Ca, Mg. Thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hữu ích. Trung hòa độ chua do phân bón gây ra. Giảm độc chất ảnh hưởng đến cây trồng (các kim loại nặng hòa tan mạnh khi pH thấp).

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

- Giống mãng cầu xiêm Thái: Có xuất xứ từ Thái Lan, mãng cầu xiêm Thái là giống mãng cầu xiêm mới có tốc độ phát triển nhanh, lá có bảng dài, xanh đậm, cây cao tối đa 4 – 6 m, tàn trong 2 m. Đây là cây cóhoa lưỡng tính, có nhị đực và nhị cái chín cùng một thời điểm "cùng pha" nên khả năng tự thụ phấn, tỷ lệ đậu trái cao, có thể cho trái quanh năm. Cây chịu được vùng nước mặn, phèn, hạn, chua nếu trồng từ cây ghép gốc bình bát. Cây có sức đề kháng cao, ít kén đất, có thể trồng ở bất cứ nơi nào, ngoại trừ khi bị úng. Trọng lượng trái khi thu hoạch khoảng 2 – 4 kg; khi chín, da có màu vàng xanh, sáng bóng, thịt trắng, nhiều xơ, mùi vị thơm nhẹ, chất lượng vừa ngọt vừa chua.

- Giống mãng cầu xiêm truyền thống hay còn gọi là mãng cầu xiêm Ta: thích hợp trồng với khí hậu nhiệt đới, tuy nhiên trồng được ở cả vùng nóng, vùng nóng có mùa đông lạnh và vùng Á nhiệt đới. Cây ưa sáng và không cần che nắng, thích hợp trên đất phù sa, đất nhiều vôi và magiê sẽ cho trái to và ngọt hơn. Cây cao tối đa 6 – 8 m. Mãng cầu xiêm Ta cũng có hoa lưỡng tính nhưng nhị đực chín trước, nhị cái chín sau "lệch pha" nên không thụ phấn được, cần phải sử dụng nhị đực thụ phấn với nhụy cái thì hoa mãng cầu xiêm mới thụ phấn, đạt năng suất.Trọng lượng trái mãng cầu xiêm Ta nhỏ hơn mãng cầu xiêm thái.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ: Mãng cầu xiêm trồng được quanh năm nhưng thường được trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5 dương lịch) để đỡ tốn công tưới nước cho cây ở giai đoạn cây con.

Mật độ: Có thể trồng khoảng cách 3 x 3 m hoặc 3 x 4 m tương đương mật độ trồng là 800 – 1.100 cây/ha.

2. Chọn giống

- Tùy theo điều kiện đất đai có thể trồng bằng hạt, chiết hoặc ghép.

- Nếu đất nhiễm mặn, phèn hoặc vùng đất thấp thường ngập nước nên chọn cây ghép gốc bình bát vì bình bát cùng họ với mãng cầu, mãng cầu ghép với bình bát trái to nhưng độ ngọt thấp hơn.

- Nếu ghép mãng cầu xiêm lên gốc bình bát trong vườn ươm: Gốc ghép bình bát: Hạt bình bát được ươm trong bầu, thời gian tạo gốc ghép từ 6 – 7 tháng thì tiến hành ghép. Chiều cao từ gốc bình bát đến điểm ghép là 20 – 35 cm. Chú ý trong quá trình chăm sóc cây ghép không được di chuyển cây, tránh cây bị đứt rễ.

- Nếu ghép mãng cầu xiêm lên gốc bình bát ngoài vườn: Gốc ghép bình bát: gieo hạt tại vị trí muốn trồng, thời gian tạo gốc ghép từ 5 – 6 tháng tiến hành ghép. Chiều cao từ mắt ghép đến gốc là 35 cm. Nếu ghép lần 1 không thành công, nên chăm sóc cho cây phát triển để tiếp tục ghép. Hạn chế di dời và làm đứt rễ cái bình bát.

3. Kỹ thuật trồng

a. Chuẩn bị hố trồng

Tạo hố trồng mãng cầu xiêm được thực hiện vào mùa nắng. Hố trồng có kích thước 30 x 30 x 30 cm hoặc 40 x 40 x 40 cm. Để cây sinh trưởng phát triển tốt ngay từ đầu, sau khi đào hố tiến hành bón lót15 – 20 kg phân chuồng hoai mục + 1438 g Super lân + 1,5 kg vôi vào mỗi hố trồng.

b. Cách trồng

Đối với trồng hạt bầu trong vườn ươm: tháo bầu cây giống đặt cây giữa hố, lấp đất quanh bầu, tạo mô cao khoảng 10 cm. Hằng năm nên bồi mô theo bán kính tán lá. Dùng cây che chắn để hạn chế đổ ngã và che nắng. Đối với cây ghép cũng tiến hành tương tự.

c. Tỉa cành, tạo tán

- Được thực hiện ở thời điểm đầu mùa mưa.

- Tỉa cành tạo tán nhằm tăng diện tích lá hữu hiệu cho quang hợp của bộ lá; duy trì sức sống tốt của cây, bảo đảm sự cân bằng sinh trưởng và kết trái; để thuận lợi trong việc chăm sóc cây cũng như thụ phấn bổ sung nên khống chế chiều cao của cây cao 2,5 – 3 m.

- Hàng năm cần cắt ngọn để khống chế chiều cao của cây, tỉa thưa cành trong tán và tỉa bỏ cành ngoài tán từ 0 – 40 cm để cây có bộ tán thông thoáng cân đối, không giao tán.

- Bên trong tán cần tỉa bỏ các cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành không có khả năng mang trái.

- Sau khi cắt cành, nhánh cần quét phủ lên bề mặt vết cắt bằng keo dán gỗ kết hợp với thuốc chứa hoạt chất như Mancozeb hay Thiophanate – Methyl pha theo tỷ lệ 100 ml keo và 1 muỗng canh thuốc. Dao hay kéo cắt cần được xử lý sau mỗi lần cắt cành với thuốc tẩy gia dụng Javel 25 %.

4 Bón phân

a. Giai đoạn kiến thiết cơ bản

Năm đầu: Lượng phân bón cho cây mãng cầu xiêm như sau: (160g N + 230 g P2O5 + 100 gK2O+ 1,5 kg vôi + 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục)/cây, tương đương (348 g urê + 1438 g Super lân + 183 g Kali Clorua + 1,5 kg vôi + 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục)/cây.

Bón lót: Trước khi trồng bón 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục + 1438 g Super lân + 1,5 kg vôi vào mỗi hố trồng.

Bón thúc:

Đợt 1 (3 tháng sau trồng): Bón 1/4 phân urê.

Đợt 2 (6 tháng sau trồng): Bón 2/4 phân urê + 1/2 phân Kali Clorua.

Đợt 3 (9 tháng sau trồng): Bón 1/4 phân urê + 1/2 phân Kali Clorua.

Năm 2: Lượng phân bón cho cây mãng cầu xiêm tăng lên, bón (280 g N + 310 g P2O5+ 270 g K2O)/cây,tương đương (609 g Urê + 1938 g Super lân + 450 g Kali clorua)/cây.

Đợt 1(Trước ra hoa): Bón (200 g Super lân + 100 g Kali clorua)/cây.

Đợt 2 (Giai đoạn đậu trái và phát triển trái): Bón 700 g NPK (20 – 20 – 15)/cây, bón mỗi tháng/lần.

Đợt 3 (Giai đoạn trước khi thu hoạch 1 tháng): Bón phân bón lá 7 – 5 – 44 lượng 2g/cây.

Cách bón: Bón theo hình chiếu tán lá, sau đó xới đất lấp phân lại hoặc rải phân đều dưới tán cây cách gốc 0,5 m tưới nước đều giúp phân tan đều và thấm sâu vào đất.

b. Giai đoạn kinh doanh

- Lượng phân bón cho mãng cầu xiêm có hiệu quả ở giai đoạn cây 5 năm tuổi là : (700 g N + 750 g P2O5 + 600 g K2O + 20 kg phân chuồng hoai mục)/cây. Tùy vào tuổi cây mà lượng phân có thể giảm từ 10 đến 20 % cho thích hợp. Lượng phân được chia thành 2 vụ trái tập trung của cây trong năm, mỗi vụ bón 50 % lượng phân trên.

Lần 1: Tiến hành bón sau khi tỉa cành tạo tán lượng phân được bón: 20 % N + 20 % P2O5+ 10 % K2O + 50 % phân chuồng hoai mục, tương đương (300 g Urê + 940 g Super lân + 100 g Kali clorua + 10 kg phân chuồng hoai mục)/cây. Ở giai đoạn này có thể kết hợp phun các loại phân bón lá có hàm lượng đạm cao như 30 – 10 – 10, 40 – 4 – 4,...

Lần 2: Sau khi bón phân lần 1 được 1,5 tháng tiến hành bón lần 2 ở giai đoạn trước ra hoa. Giai đoạn này cần tỉa bỏ những cành vượt trong tán. Giai đoạn này bón ít đạm, nhiều lân và kali sẽ hạn chế cây ra lá non, đồng thời giúp cây phân hóa mầm hoa. Lượng phân bón là 10 % N + 20 % P2O5+ 20 % K2O, tương đương (150 g Urê + 940 g Super lân + 200 g Kali clorua)/cây. Ở giai đoạn này có thể kết hợp phun các loại phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao như 0 – 52 – 34, 6 – 30 – 30,...

Lần 3: Sau khi đậu trái 1 tháng bón: 10 % N + 5 % P2O5+ 10 % K2O,tương đương (150 g Urê + 235 g Super lân + 100 g Kali clorua)/cây.

Lần 4: 1,5 tháng sau khi bón lần 3, tiến hành bón 10 % N + 5 % P2O5+ 10 % K2O,tương đương (150 g Urê + 235 g Super lân + 100 g Kali clorua)/cây.

5. Tưới nước và quản lý cỏ dại

- Sau khi trồng cần tưới nước giữ ẩm cho cây, tưới mỗi ngày 1 lần trong vòng 2 tháng mùa khô. Trong mùa khô tưới 2 – 3 lần/tuần, đối với mãng cầu xiêm ghép gốc bình bát có thể tưới được nước ở độ mặn dưới 11 %.

- Đối với mãng cầu xiêm việc cỏ dại không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng của cây, nếu trồng cây giống bằng hạt thì cần quản lý cỏ dại tốt ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, trường hợp ghép gốc bình bát sức chống chịu tốt cỏ dại không ảnh hưởng nhiều lúc cây trưởng thành.

6. Thụ phấn bổ sung

a. Chọn hoa để lấy phấn

Chọn những hoa mọc ở đầu cành nhỏ, hoặc hoa có kích thước nhỏ để lấy phấn. Quan sát thấy những hoa có 3 cánh trong nở hơi lớn, hé mở 1 cánh ra thấy các tiểu nhị có màu hơi đen nhạt, các tiểu nhị bắt đầu tách rời nhau thì có thể cắt để lấy phấn. Cắt hoa lấy phấn vào buổi chiều, để nguyên cả hoa vào hộp đậy kín cho khỏi mất nước. Sáng hôm sau bẻ bỏ hết cánh hoa, rũ nhẹ hoa trên một tờ giấy để tách tiểu nhị ra rồi dùng cọ hay que quấn bông gòn chà nhẹ trên tiểu nhị để tách hạt phấn ra khỏi túi phấn, thường một hoa lấy phấn đủ để thụ phấn cho 6 – 8 hoa. Hạt phấn có màu vàng vàng, được trút vào 1 cái ly nhỏ cho tiện đem ra vườn.

b. Chọn hoa để thụ phấn

Chọn những hoa mọc trên thân chính, cành lớn và có cuống hoa to, kích thước lớn không có sâu bệnh để thụ phấn. Khi thấy 3 cánh hoa trong he hé tức là nướm đã già, mở nhẹ 3 cánh trong để quan sát nếu thấy nướm nhụy cái tươm mật thì tiến hành thụ phấn.

c. Cách thụ phấn

Kẹp chặt cuống hoa giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa, dùng ngón cái mở nhẹ một cánh ra, dùng que có quấn bông gòn chấm lên hạt phấn rồi phết nhẹ lên nướm nhụy cái nhẹ nhàng và đều tay, lập lại 3 lần như thế, trái sẽ phát triển đồng đều không bị méo mó. Vài ngày sau,quan sát nếu thấy cuống hoa thụ phấn vẫn xanh và lớn hơn là được; nếu có màu đen là thất bại, nó sẽ héo và rụng. Quả phát triển từ hoa được thụ phấn bằng tay thường to và nở đều.

7. Ngăn ngừa hiện tượng trái chín non

- Mãng cầu xiêm thường bị hiện tượng rụng trái non vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa, nhưng chủ yếu tập trung vào thời điểm sau cơn mưa lớn đầu mùa, 3 – 5 ngày sau hiện tượng trái chín non xuất hiện, kéo dài 10 – 15 ngày sau đó.

- Để hạn chế hiện tượng trái chín non cần phun NAA ở nồng độ 20 ppm (tương đương 2 ml HQ 301/lít nước), phun 2 lần, mỗi lần phun cách nhau 7 ngày ở thời điểm sau khi đậu trái 2 tháng hay trái có đường kính từ 5 – 6 cm. Hay bón 200 – 300 g Ca(NO3)2/cây để hạn chế hiện tượng trái chín non.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Sâu đục trái (Conogethes punctiferalis Guen.)

Đặc điểm gây hại:

Sâu hóa nhộng tại nơi tiếp xúc giữa các trái với nhau hoặc gần cuống trái. Trái lớn sâu không đục vào bên trong mà chỉ tấn công phần thịt trái dưới vỏ trái làm trái mất giá trị thương phẩm (tại vị trí sâu tấn công, trái sẽ bị méo, phát triển không đồng đều và bị thối khô đen). Thường thì có khoảng 2 con/trái, tuy nhiên khi mật số cao có thể phát hiện 6 – 12 con/trái. Hóa nhộng bằng cách nhả tơ kết phân thành một lớp kén mỏng và hóa nhộng trong kén trên cuống trái.

Phòng trừ:

- Thăm vườn thường xuyên phát hiện kịp thời để phun thuốc chứa hoạt chất như: Bacillus thuringiensis, Diafenthiuron, Spirotetramat, …

- Bao trái: khi trái non vừa bun gai đầy đủ, tiến hành phun các loại thuốc chứa hoạt chất trên, sau đó mới tiến hành bao trái.

 

2. Rệp sáp (Planococcus lilacinusPseudococcus sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Rệp phát tán chủ yếu ở giai đoạn ấu trùng. Trong quá trình phát tán khả năng sống sót không cao. Sau khi lột xác, ấu trùng di chuyển chậm dần, sau khi lột xác cuối cùng chúng gần như cố định. Rệp tấn công bằng cách tập trung chích hút trên lá và trái làm lá non bị biến dạng, trái bị chai không lớn được. Nếu bị tấn công vào giai đoạn trái non thì trái bị rụng đi. Nếu tấn công giai đoạn vào giai đoạn trái phát triển làm mất giá trị thương phẩm. Trong quá trình gây hại chúng thường tiết ra mật ngọt thu hút nấm bồ hóng phát triển làm cây sinh trưởng kém.

- Rệp hiện diện hầu như quanh năm trên cây, nhưng gây hại nặng nhất vào mùa nắng từ tháng 2 – 4 dương lịch hàng năm.

Phòng trừ:

- Sau khi thu hoạch cần xén tỉa cành cho vườn thông thoáng, đồng thời loại bỏ những cành mang rệp sáp.

- Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phun thuốc trừ rệp kịp thời, nhất là giai đoạn cây đang có bông, trái non, trái đang phát triển.

- Khi phát hiện có sự hiện diện của rệp sáp có thể sử dụng dầu khoáng nồng độ 0,4 – 0,5 % để phun.

- Có thể sử dụng một số loại thuốc chứa hoạt chất như: Celastrus angulatus, Azadirachtin, Celastrus angulatus, … Cần lưu ý là luân phiên các loại thuốc để tránh rệp kháng thuốc và khi sử dụng cần phối hợp với nước rửa chén để tăng hiệu quả phòng trị.

- Ở giai đoạn trái già sắp chín nếu có phun thuốc thì lưu ý cần phải bảo đảm thời gian cách ly để giữ an toàn cho người tiêu dùng sản phẩm.

 

3. Rầy xanh (Empoasca sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Rầy xanh có thân dài 2,5 – 4 mm, màu xanh lá mạ. Đầu hơi hình tam giác, chính giữa đỉnh đầu có đường vân trắng, hai cánh trước màu xanh trong suốt xếp úp hình mái nhà.

- Cả rầy non và rầy trưởng thành dùng vòi chọc chích hút cây dọc hai bên gân chính và gân phụ của lá non, đọt chồi non gây nên những vết châm làm cho lá non bị tổn thương, làm cho việc vận chuyển nước và chất dinh dưỡng đến lá gặp trở ngại. Những lá này gặp điều kiện khô nóng sẽ bị khô từ đầu lá và mép lá đến 1/2 lá sau đó lá sẽ rụng đi.

Phòng trừ:

- Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, dọn sạch cỏ dại.

- Cần chú ý theo dõi phòng trừ trong thời gian rầy phát sinh nhiều và gây hại nặng.

- Sử dụng một số thuốc chứa hoạt chất như: Azadirachtin, Artemisinin, Cypermethrin, ... để phun phòng trừ rầy.


4. Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Con trưởng thành có hình dạng giống con muỗi, màu xanh, phần bụng màu xanh lá mạ đến màu xanh lơ, trên lưng ngực có cái chùy nghiêng về phía sau, nhìn thẳng từ trên xuống núm chùy có hình tròn.

- Bọ xít muỗi phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25 – 28 0C, ẩm độ > 90 %, vì thế chúng thường hoạt động mạnh vào sáng sớm hoặc chiều tối. Ngày âm u bọ xít muỗi hoạt động mạnh hơn những ngày nắng, đặc biệt những ngày mưa sẽ xuất hiện và phá hoại nặng. Trời nắng, nóng chúng ẩn nấp dưới lá.

- Bọ trưởng thành và bọ non đều chích hút chồi non, cành non, trái. Vết châm của bọ xít muỗi có hình tròn hoặc gần tròn lúc đầu có màu chì xung quanh có màu nhạt, sau đó vết châm biến thành màu nâu đậm. Bọ gây hại nặng trên lá thì lá non xoăn lại, khô héo; trên trái thì trái non kém phát triển bị héo khô, trái lớn bị dị dạng dễ tạo điều kiện cho nấm hại xâm nhập.

Phòng trừ:

- Cần chú ý phòng trừ trong thời gian bọ xít muỗi phát sinh nhiều và gây hại nặng (mùa mưa).

- Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bỏ các cành nhánh vô hiệu.

- Để áp dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả nên phun thuốc vào sáng sớm khi cây ra lá non, chồi non mới nhú và đậu trái non bằng một số thuốc chứa hoạt chất như: Cypermethrin, Dinotefuran, Abamectin, Citrus oil, ...


5. Ruồi đục trái (Bactrocera sp.)

Đặc điểm gây hại:

- Thành trùng (ruồi trưởng thành) có cơ thể dài 6 – 9 mm, đầu có dạng hình bán cầu, mặt trước màu nâu đỏ với 6 chấm đỏ màu đen. Thân màu vàng nâu đỏ với những vân vàng, cánh trong, hình dạng giống nhưng nhỏ hơn ruồi nhà, hoạt động vào ban ngày.

- Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc sâu vào vỏ quả (thường đẻ trứng lên quả phần tiếp giáp giữa vỏ và thịt quả). Vỏ trái nơi ruồi đục vào có màu đen, mềm, ứ nhựa (mủ), tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công làm thối trái và có thể bị rụng hoặc vẫn đeo trên cây. Dòi nở ra đục ăn trong quả (ăn thịt trái), một quả có thể bị nhiều dòi phá hại. Ruồi đục quả phá hoại từ khi quả già đến chín.

- Mùa mưa là giai đoạn ruồi sinh sản mạnh và gây hại nặng cho nhà vườn.

Phòng trừ:

- Thăm vườn thường xuyên phát hiện kịp thời để phun thuốc chứa hoạt chất như: Abamectin, ... theo đúng hướng dẫn trên nhãn thuốc.

- Sử dụng bao trái: Khi trái non vừa bun gai đầy đủ, tiến hành phun 1 lần thuốc chứa các hoạt chất trên, sau đó bao trái, có tác dụng hạn chế ruồi rất tốt.

- Thu hoạch trái đạt độ chín thu hoạch, không giữ trái chín quá lâu trên cây.

- Không trồng xen các loại cây ăn trái khác trong vườn, loại bỏ các cây là ký chủ của ruồi.

- Tỉa cành cho vườn thông thoáng.

- Vệ sinh đồng ruộng, vườn trồng, thường xuyên thu, hái và đem tiêu hủy toàn bộ trái rụng trên mặt đất và trái còn đeo trên cây vì là nơi ruồi lưu tồn.

- Các biện pháp sử dụng SOFRI Protein thủy phân để phun, cần lưu ý là phải thực hiện trên diện rộng hoặc bẫy Pheromol.

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh thối quả

Tác nhân:

Do nấm Lasiodiplodia pseudotheobromaeColletotrichum gloeosporioides gây ra.

Triệu chứng bệnh:

- Triệu chứng thối do nấm Lasiodiplodia pseudotheobromae: Vết bệnh màu đen, lan dần trên bề mặt vỏ quả, hóa bần, cứng và răn nứt.

- Triệu chứng thối do nấm Colletotrichum gloeosporioides: Là những đốm nâu đen, gây thối mềm nhanh trên quả và gây thối cả hoa đặc biệt là vào mùa mưa, có những cụm bào tử màu nâu được hình thành trên vết bệnh.

Phòng trừ:

- Cần bón phân cân đối (NPK) và hợp lý vào các giai đoạn phát triển của cây giúp cây khỏe mạnh, chống chịu với mầm bệnh.

- Hằng năm nên bổ sung thêm vôi để cải thiện pH của đất cũng như cung cấp canxi cho cây để tăng phẩm chất trái và kéo dài thời gian tồn trữ sau thu hoạch của quả.

- Cắt hoa, quả bệnh và đặc biệt là các cành bệnh, cành chéo giữa các cây.

- Vệ sinh vườn, thu gom và tiêu hủy bằng hố chôn kết hợp với vôi (hoa, quả bệnh), phơi khô và đốt (cành sâu).

- Dùng thuốc có chứa các hoạt chất như: Cytokinin, Dimethomorph, … để phòng ngừa.

2. Bệnh thối rễ cây

Tác nhân:

Do nấm Calonectria variabilis và tuyến trùng Pratylenchus sp. gây ra.

Triệu chứng bệnh:

- Cây sinh trưởng suy yếu, lá vàng nhợt nhạt héo úa rồi rụng lá dần trên một số bộ phận hay trên các cành dẫn đến cây trơ cành, chết dần từng cành, tổn thương thân và sau đó chết cả cây.

- Rễ tơ và rễ cái đều bị hoại tử, thối đen lốm đốm phần vỏ rễ trước rồi lan sâu vào trong rễ. Bệnh tấn công từ rễ non dần vào gốc thân, vỏ thân nứt hay thối đen từng mảng cây hư rễ dần nên dễ đổ ngã rồi chết cây.

Phòng trừ:

- Sử dụng cây giống sạch bệnh.

- Vệ sinh vườn: Sau khi thu hoạch cắt tỉa và tiêu hủy cành vô hiệu, cành bị sâu bệnh hay trái thối trong vườn.

- Bón phân đầy đủ, cân đối và hợp lý vào các giai đoạn phát triển của cây.

- Hàng năm, nên bón bổ sung vôi để cải thiện độ pH của đất và cung cấp thêm nguyên tố canxi cho cây.

- Cần tránh để quá nhiều trái trên cây; hạn chế tạo vết thương cho vỏ hoặc thân cây; cắt tỉa cành hay khống chế chiều cao cây nên thực hiện vào giai đoạn sau thu hoạch và cuối mùa nắng để giảm thiểu sự lây lan các bào tử nấm.

- Cần cô lập, cách ly với những vườn bị nhiễm để tránh sự phát tán của nấm, tuyến trùng từ vườn này sang vườn khác thông qua nguồn nước.

- Có thể trồng cây phân xanh, cây họ đậu hay cây vạn thọ xen canh trong vườn để lấy nguồn phân xanh và phòng trừ tuyến trùng.

- Ngừa bệnh:

Sử dụng thuốc có chứa hoạt chất như: Metalaxyl , Streptomyces lydicus, Validamycin, Cytokinin, …

3. Bệnh chết cành

Tác nhân:

Do nấm Diaphorthe phaseolorum gây chết nhánh và cành nhỏ của cây và nấm Lasiodiplodia pseudotheobromaegây chết nhánh, loét cành và thân cây mãng cầu xiêm. Ngoài ra, cũng do một số tác nhân không sinh học là lạm dụng thuốc làm chín trái (hoạt chất ethephon), khai thác tối đa, triệt để trái trên cây.

Triệu chứng bệnh:

Những cành nhỏ bên ngoài ngọn cành chết trước, sau đó tấn công ngược vào cành chính, gây chết những cành lớn hơn. Bề mặt vết bệnh hơi lõm xuống vỏ cành nứt dọc, hệ thống mạch dẫn hóa nâu với hình dạng cái nêm hay có những sọc đen chạy dọc thân hay cành mãng cầu xiêm.

Phòng trừ:

- Hạn chế tối đa làm chính trái bằng kỹ thuật chấm thuốc Ethephon trực tiếp lên cuống trái ở nồng độ nguyên chất.

- Đối với cây bị bệnh chết cành, cần cắt bỏ cành bệnh dưới vị trí vết chết, loét từ 15 – 50 cm (sao cho mặt cắt được trắng, không còn sọc đen). Sau đó quét hỗn hợp gồm 100 cc keo chống thấm trộn với 20 g Mancozeb hoặc 15 g Chlorothalonil (thành phẩm).

- Khi chồi tái sinh và trước khi hoa nở, tiến hành phun Mancozeb (40 g/10 lít nước) hoặc Difenoconazole (10 cc/10 lít nước), mỗi giai đoạn phun 2 lần cách nhau 10 ngày/lần để phòng ngừa bệnh chết cành.

- Dùng thuốc trừ rầy, rệp có chứa hoạt chất: Emamectin benzoate, Dinotefuran, …

Bảng tổng hợp sâu bệnh gây hại trên cây mãng cầu xiêm





VI. THU HOẠCH

- Trái từ khi đậu đến khi thu hoạch khoảng 12 – 13 tuần, giai đoạn này đã chín sinh lý. Tùy theo yêu cầu của thị trường mà có thể thu hoạch trái sớm (12 tuần) hay muộn (13 tuần).

- Nên thu hoạch quả lúc trời mát, khi trái đã hoàn toàn khô sương. Vì nếu thu hoạch quả khi còn đọng sương sẽ làm cho quả có ẩm độ cao, quả dễ bị lây nhiễm bệnh. Cũng không nên thu hoạch lúc trời quá nóng (giữa trưa) vì sẽ làm cho nhiệt độ của trái tăng cao và sẽ rút ngắn thời gian bảo quản.

- Chú ý trái mãng cầu xiêm rất dễ bị tổn thương, do cấu trúc và vỏ mỏng nên cần thu hoạch thật cẩn thận tránh va đập ảnh hưởng chất lượng sau thu hoạch.

- Dụng cụ thu hái (dao, kéo) cần phải làm vệ sinh trước và sau thu hoạch và cất giữ nơi sạch sẽ./.

Trung tâm Khuyến nông


Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cao suNông nghiệpBài viếtTrung tâm Khuyến nôngKỹ thuật trồng và chăm sóc cây cao su/PublishingImages/2019-04/TTKN cao su.jpg
Cây cao su có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng cây sinh trưởng tốt cần đất tơi xốp thoát nước tốt, pH thích hợp = 5. Về điều kiện tự nhiên ở Tây Ninh khá phù hợp cho cây cao su sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, ở Tây Ninh có một số vùng canh tác có pH thấp. Vì vậy, trước khi trồng cần tiến hành phân tích đất để có cơ sở đánh giá chọn vùng canh tác thích hợp cho cây cao su phát triển, đạt năng suất cao. Để cải thiện đất trồng có thể bổ sung các phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng hoặc bón vôi cải tạo đất.
5/6/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

Đất trồng cây cao su phải có độ dốc dưới 300 và cao trình dưới 700 m. Trong phạm vi từ mặt đất đến độ sâu 70 cm, đất không bị ngập úng thường xuyên hơn 3 tháng, tỷ lệ laterite cứng hoặc sỏi sạn, đá cục nhỏ hơn 70% thể tích. Trong phạm vi từ mặt đất đến độ sâu 150 cm không có đá tảng và không có tầng sét nén chặt.

2. Nước

Cây cao su cần nhiều nước nhưng không chiệu ngập úng. Lượng mưa bình quân hằng năm thích hợp 1.500 – 2.000 mm/năm.

3. Ánh sáng

Cao su là cây ưa sáng, do đó phải đảm bảo khoảng cách trồng giữa các cây trong vườn thích hợp để cây có thể phát triển tốt.

4. Nhiệt độ

Cây cao su sinh trưởng và phát triển thích hợp ở điều kiện nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25-280C.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

- Điều kiện tự nhiên (đất, nước, thời tiết, khí hậu) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần có cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên để lựa chọn các vùng đất thích hợp cho từng loại cây trồng.

- Cây cao su yêu cầu quan trọng về đất đai và nước tưới. Cây cao su có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng cây sinh trưởng tốt cần đất tơi xốp thoát nước tốt, pH thích hợp = 5. Về điều kiện tự nhiên ở Tây Ninh khá phù hợp cho cây cao su sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, ở Tây Ninh có một số vùng canh tác có pH thấp. Vì vậy, trước khi trồng cần tiến hành phân tích đất để có cơ sở đánh giá chọn vùng canh tác thích hợp cho cây cao su phát triển, đạt năng suất cao. Để cải thiện đất trồng có thể bổ sung các phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng hoặc bón vôi cải tạo đất.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

  • RRIV 1: Dạng cây: Thân thẳng, nhiều cành nhỏ, tán nhỏ và thưa, cây phân tầng sớm. Chịu rét trung bình và chịu hạn khá. Năng suất cao, sớm đạt bình quân 2,5 tấn/ha/năm ở vùng thuận lợi. Nhiễm trung bình các bệnh phấn trắng, nấm hồng, ít mẫn cảm với bệnh corynespora và botry, mẫn cảm bệnh héo đen đầu lá.
  • RRIV 106: Dạng cây: Thân thẳng tròn, nhiều cành nhỏ, tán cân đối. Chiều cao trung bình, ít cong nghiêng. Chịu hạn khá, nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng, corynespora. Năng suất  đạt từ 2,5 – 3 tấn/ha/năm.
  • RRIV 124: Dạng cây: Thân cây thẳng phát triển cao 4 – 4,5 m, tán lá thưa, lá có màu xanh đậm. Năng suất bình quân từ 2,5 – 3 tấn/ha/năm. Nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng và nấm hồng.
  • RRIV 209: Dạng cây: Thân thẳng, tròn, nhiều cành nhỏ, có tán cân đối. Năng suất có thể đạt 3 tấn/ha/năm ở năm cạo thứ 3 nếu trồng ở điều kiện thuận lợi vùng Đông Nam Bộ. Nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng, héo đen, dễ nhiễm bệnh Corynespora.
  • PB 255: Dạng cây: Thân hơi cong, phân cành sớm, tán thấp. Vỏ nguyên sinh và tái sinh dày. Chồi ngang khá nhiều trong thời gian đầu chu kỳ KTCB. Năng suất đạt 2 – 3 tấn/ha/năm. Dễ nhiễm bệnh nấm hồng, dễ khô miệng cạo. Nhiễm nhẹ các bệnh trên lá như phấn trắng, corynespora.
  • RRIM 600: Dạng cây: Thân thẳng, phân cành lớn tập trung, tán rộng. Vỏ dày trung bình, dễ cạo. Cạo phạm, vỏ tái sinh dễ bị u lồi. Đáp ứng được với thuốc kích thích vừa phải, có thể chịu được cường độ cạo cao. Năng suất: Khá cao và ổn định trên nhiều vùng. Năng suất đạt trung bình từ 1,5 -> 1,6 tấn/ha/năm từ năm cạo thứ tư trở đi. RRIM 600 mẩn cảm với bệnh nấm hồng, rụng lá mùa mưa, loét sọc mặt cạo, ít nhiễm phấn trắng.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng

Trồng đúng thời vụ, chỉ trồng khi thời tiết thuận lợi, đất có đủ độ ẩm thời gian thích hợp nhất từ 15/5 đến 15/8 hàng năm. Trồng dặm cũng được thực hiện trong thời vụ nêu trên và kéo dài tối đa một tháng sau thời vụ trồng.

2. Đào hố, bón lót

- Hố có kích thước dài 60 cm, rộng 60 cm, sâu 60 cm, đáy hố rộng 50 cm x 50 cm. Khi đào thủ công phải để riêng lớp đất mặt và lớp đất đáy. Có thể sử dụng cơ giới để đào hố với kích thước hố bằng hoặc lớn hơn.

- Bón lót: Mỗi hố 300 g phân lân nung chảy, 10 kg phân hữu cơ hoai mục. Sử dụng các dạng phân hữu cơ vi sinh để bón lót với liều lượng 5 kg/hố.

- Trộn phân lấp hố được thực hiện trước khi trồng ít nhất 15 ngày. Lấy lớp đất mặt lấp khoảng nửa hố, sau đó trộn đều phân hữu cơ, phân lân với lớp đất mặt xung quanh để lấp đầy hố. Cắm c c ở giữa tâm hố để đánh dấu điểm trồng.

3. Tiêu chuẩn cây giống

- Tiêu chuẩn tum trần: Đường kính của tum đo cách mặt đất 10 cm từ 15 mm trở lên đối với trồng trực tiếp và 12 mm trở lên đối với sử dụng làm tum bầu có tầng lá. Tum không bị dập, tróc vỏ, rễ cọc thẳng, mắt ghép sống và tiếp hợp tốt. Tum chuyển từ nơi khác đến phải bảo đảm thời gian không quá 7 ngày sau khi bứng và được bảo quản tốt khi vận chuyển. Sau khi xử lý để trồng, rễ cọc dài ít nhất 40 cm tính từ cổ rễ.

- Tiêu chuẩn tum bầu có tầng lá: Chồi ghép có ít nhất hai tầng lá ổn định, khoẻ. Bầu đất không bị bể, cây không bị long gốc.

4. Trồng tum

- Tum chuyển từ xa đến cần được xử lý lại với hỗn hợp hồ rễ, xếp đứng tum trong hố giữ ẩm. Chọn cây có mắt ghép nứt mầm trồng trước.

- Trước khi trồng cần dọn sạch cỏ, rễ cây quanh hố, dùng cuốc móc đất ngay điểm trồng sâu từ 15 cm đến 20 cm rồi dùng cây xăm nhọn chọc lỗ sâu bằng chiều dài rễ tum. Đặt tum thẳng đứng, mắt ghép quay về hướng gió chính, mí dưới mắt ghép ngang với mặt đất. Dùng cây xăm ém chặt đất vào đuôi rễ tum. Lấp hố lại bằng phần đất vừa lấy lên và dậm kỹ để đất bám chặt vào rễ tum. Sau cùng, xới đất tạo bồn quanh gốc tum, phủ đất ngang mí dưới mắt ghép.

5. Trồng bầu cắt ngọn và bầu có tầng lá

- Trước khi trồng cần don sạch cỏ, rễ cây... xung quanh hố, sau đó dùng cuốc móc đất ngay điểm trồng trong hố vừa lớn hơn bầu đất và sâu tương ứng với chiều cao bầu.

- Dùng dao bén (sắc) cắt sát đáy bầu và phần rễ cọc nhú ra khỏi bầu. Trường hợp rễ cọc bị xoắn ở trong bầu thì phải cắt hết phần rễ xoắn.

- Đặt bầu vào hố cho thẳng đứng, mắt ghép quay về hướng gió chính, mí dưới mắt ghép ngang với mặt đất.

- Rạch bầu PE theo đường thẳng đứng rồi kéo nhẹ túi bầu lên. Kéo túi bầu tới đâu thì lấp đất để nén chặt bầu tới đó. Chú ý không làm bể bầu.

6. Trồng tum bầu có tầng lá

- Trước khi trồng cần dọn sạch cỏ, rễ cây quanh hố. Sau đó dùng cuốc móc đất ngay điểm trồng tạo hố trồng vừa lớn hơn bầu đất và sâu tương ứng với chiều cao bầu.

- Khi cắt đáy bầu tránh phạm vào rễ cọc tum (rễ gốc tum cắm). Đặt bầu thẳng đứng, mắt ghép quay về hướng gió chính, mí dưới mắt ghép ngang với mặt đất. Rạch túi bầu PE theo đường thẳng đứng từ dưới lên, vừa lấp đất vừa kéo túi bầu và dậm quanh đến khi đầy hố.

Không dậm sát gốc để tránh bể bầu đất. Sau cùng, xới đất tạo bồn quanh gốc, phủ đất ngang mí dưới mắt ghép.

- Nếu trồng bầu có tầng lá trên đất dốc, nên trồng sâu cách mặt đất 5 cm để tránh xói mòn và hiện tượng chân voi. Với cây con có 4 - 5 tầng lá, sử dụng cây chống để tránh ngã, đổ sau khi trồng.


Lấp đất và hoàn tất trồng

7. Trồng dặm

- Trồng dặm định hình vườn cây ngay trong năm thứ nhất, chậm nhất là năm thứ hai. Trồng dặm bằng cây con đúng giống và có mức sinh trưởng tương đương với cây trên vườn.

- Trồng dặm trong năm thứ nhất:

- Đối với vườn trồng tum, trồng dặm lần thứ nhất những cây chết và cây có mắt ghép chết sau khi trồng 1 tháng, trồng dặm lần thứ hai những cây chết và cây mắt ngủ sau khi trồng 2 tháng.

- Đối với vườn trồng bằng tum bầu có tầng lá, trồng dặm cây chết sau khi trồng hai mươi ngày. Dùng tum bầu có hai tầng lá ổn định trở lên để trồng dặm.

- Số lượng cây giống cần được chuẩn bị để trồng dặm so với số lượng cây trồng mới trong năm thứ nhất là: 5% đối với phương pháp trồng bầu và tối đa 20 % đối với phương pháp trồng tum.

8. Chăm sóc cây cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản

           8.1 Làm cỏ trên hàng cao su

  • Cỏ tranh, cỏ lá trúc, le phải diệt sạch trước khi trồng mới bằng cơ giới, thủ công hoặc hoá chất.
  • Năm trồng mới: Sau khi trồng xong, phải tạo mặt bằng trên hàng kết hợp với làm sạch cỏ quanh gốc cao su bán kính 1,0 m, làm cỏ 2 - 3 lần năm. Khi làm cỏ trên hàng không được kéo đất ra khỏi gốc cao su.
  • Đối với vùng đất thấp trũng ngập úng, làm cỏ kết hợp với vun gốc cao hơn mặt đất tự nhiên ít nhất 10 cm để hạn chế úng cục bộ trong mùa mưa.
    Năm thứ hai làm cỏ 3 - 4 lần năm cách gốc cao su mỗi bên 1,5 m. Từ năm thứ ba trở đi, kiểm soát cỏ dại bằng thuốc diệt cỏ 2 lần năm vào đầu mùa mưa và gần cuối mùa mưa.
    8.2 Quản lý cỏ giữa hàng cao su
  • Duy trì thảm thực vật tự nhiên cao 15 - 20 cm. Năm trồng mới phát 1 lần/năm vào cuối mùa mưa. Từ năm thứ hai đến năm thứ tư phát 2 - 3 lần/năm. Các năm còn lại phát 2 lần năm.
    8.3 Tủ gốc và quét vôi chống nắng
  • Trong hai năm đầu, tủ gốc bằng cỏ, thảm phủ họ đậu hoặc tàn dư thực vật từ cây trồng xen vào cuối mùa mưa. Trước khi tủ gốc phải xới váng quanh gốc, tủ theo hình vành khăn cách gốc 10 cm, bán kính tủ gốc ít nhất 1,0 m, dày tối thiểu 10 cm, sau đó phủ lên một lớp đất dày khoảng 5 cm.
  • Có thể tủ gốc bằng màng phủ nông nghiệp (PE), kích thước tấm PE tối thiểu 1,0 m x 1,0 m. Không để màng phủ tiếp xúc với gốc cây và mặt sáng của màng phủ quay lên trên, sau khi tủ xong phủ đất che kín màng phủ.
  • Đối với những vùng đất trũng thấp và đất ngập úng, khi tủ gốc, vun gốc cao 15 - 20 cm, bán kính 1,0 m quanh gốc cao su.
  • Vùng có ảnh hưởng nắng nóng kéo dài gây cháy nắng cho cây cao su thì tiến hành quét vôi (nồng độ 5%) đoạn thân hoá nâu, chiều cao 1,0 m tính từ mặt đất trước khi khép tán.
       8.4 Bón phân vô cơ
  • Liều lượng và chủng loại phân bón: Liều lượng và chủng loại phân bón theo hạng đất và tuổi cây quy định. Nếu có điều kiện sử dụng phân trộn NPK hay hỗn hợp thay cho phân đơn. Khi sử dụng chủng loại phân bón khác với quy định.
  • Nếu có điều kiện nên bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng.
  • Số lần bón phân: Phân vô cơ được chia làm 2 - 3 lần bón trong năm.
  • Năm trồng mới: Bón lần thứ nhất sau khi trồng mới một tháng, bón lần thứ hai cách lần thứ nhất ít nhất một tháng.
  • Năm thứ hai trở đi: Bón hai lần vào đầu mùa mưa và trước cuối mùa mưa ít nhất một  tháng.
  • Thời điểm bón phân: Bón phân khi đất đủ ẩm, không bón phân vào thời điểm có mưa lớn và mùa mưa dầm, bón phân lần cuối trong năm phải chấm dứt trước tháng 10 hàng năm.
  • Cách bón: Từ năm thứ nhất đến đầu năm thứ tư cuốc rãnh hình vành khăn hoặc đào lỗ quanh gốc cao su theo hình chiếu của tán lá để bón phân, sau đó lấp đất vùi phân. Từ cuối năm thứ tư trở đi, bón phân vào băng rộng 1,0 m giữa hai hàng cao su.

Liều lượng phân vô cơ bón cho cây ở giai đoạn kiến thiết cơ bản


     8.5. Bón phân qua lá

  • Phân bón qua lá được sử dụng trong hai năm đầu su khi trồng mới, chỉ được sử dụng các loại phân bón lá trong danh mục cho phép.
  • Thời điểm phun: lần đầu tiên phun sau khi trồng mới một tháng, các lần phun sau cách nhau 15 ngày. Chỉ phun phân bón lá vào những ngày không mưa và có nhiệt độ trung bình ngoài trời > 15 0C, phun từ 7 - 10 giờ sáng.
  • Cách phun: Điều chỉnh và duy trì béc phun luôn tạo ra tia phun sương, phun đều mặt trên và mặt dưới của lá với liều lượng theo khuyến cáo.

      8.6. Bón phân hữu cơ

  • Các loại phân hữu cơ có thể sử dụng trên vườn cao su kiến thiết cơ bản bao gồm: Phân hữu cơ truyền thống, phân hữu cơ vi sinh và phân khoáng hữu cơ.
  • Các loại phân này phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng dinh dưỡng, vệ sinh và độc tố theo quy định của Nhà nước. Đối với phân hữu cơ vi sinh, chỉ sử dụng các loại có thể bón kết hợp với phân vô cơ.
  • Khuyến cáo bổ sung phân hữu cơ cho vườn cây để cải thiện độ phì đất, tăng hiệu quả bón phân vô cơ khi hàm lượng mùn vườn cây H% < 2,5% hoặc hàm lượng carbon C % < 1,45%.
  • Phân hữu cơ hoàn toàn không thể thay thế phân vô cơ vì vậy, khi bổ sung phân hữu cơ phải bảo đảm bón đủ lượng vô cơ tương đương theo quy định.
  • Trong giai đoạn từ vườn cây khép tán sang giai đoạn kinh doanh, khi bổ sung phân hữu cơ, bón vùi kỹ phân vào đất tại vị trí bón phân vô cơ. Không cho phép sử dụng phân chuồng, phân bắc chưa hoai và chất thải công nghiệp, chất thải các nhà máy chế biến chưa qua xử lý theo đúng quy định Nhà nước trên vườn cây cao su kiến thiết cơ bản. Không bón phân khi đất đang bị ngập, úng cục bộ

            9. Chăm sóc cây cao su giai đoạn kinh doanh

- Cao su trong thời kỳ kinh doanh (16%N +60 P2O5 + 18 K2O)


- Bón phân:  Đa số những vườn cây cao su tiểu điền chưa nắm được kỹ thuật chăm sóc, bón phân không đúng phương pháp chủ yếu sử dụng phân vô cơ.

- Mật độ trồng:  Đất tốt mật độ khuyến cáo 7m x 3m;  đất trung bình 6,5 m  x 3 m hoặc  6 m x 3 m.

- Nhằm giúp cho người trồng cao su đở phải tính toán, phối trộn. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại phân hổn hợp NPK chuyên dùng cho cây cao su trong thời kỳ kinh doanh, cũng cho những hiệu lực sinh học và cho hiệu quả khá cao. Nhờ sự tính toán cân đối phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của cây cao su phù hợp với tính chất đất sự cân đối tỷ lệ hợp lý giữa 3 nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) cân đối giữa các yếu tố trung lượng (Ca, Mg, S, Si) với các nhóm nguyên tố vi lượng (Zn, Mn, Bo, Fe, Cu).

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

1. Bệnh phấn trắng

- Tác nhân: Do nấm Oidium heveae Steinm.

- Phân bố: Khắp các vùng trồng cao su, tập trung vào mùa thay lá hàng năm.

- Tác hại: Bệnh gây rụng lá non và hoa cao su trên mọi lứa tuổi.

- Triệu chứng: Trên lá bị bệnh có nấm màu trắng ở hai mặt lá. Các dòng vô tính bị nhiễm bệnh nặng là VM 515, PB 235, PB 255, RRIV 4, GT 1...

- Xử lý:

  • Đối với vườn cây kiến thiết cơ bản: Sử dụng một trong các loại thuốc sau: Bột lưu huỳnh thấm nước; hexaconazole hoặc diniconazole. Pha kết hợp với chất bám dính BDNH 2.000 nồng độ 0,2 %.
  • Đối với vườn cây kinh doanh, sử dụng các thuốc có hoạt chất như: Azocyclotin + Buprofezin  + Diflubenzuron, hexaconazole; diniconazole  hoặc  mancozeb . Pha kết hợp với chất bám dính BDNH 2.000 nồng độ 0,2 %. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% cây có lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80 % cây có lá ổn định. Dùng máy phun cao áp đạt độ cao trên 20 m, phun 2 - 3 lần, với chu kỳ 7 - 10 ngày/lần vào buổi sáng ít gió. Những nơi có điều kiện có thể sử dụng thêm phân bón qua lá.
  • Vào mùa ra lá mới (lá dạng chân chim), nếu hai ngày liên tiếp có sương mù dày đặc và nhiệt độ 20 – 24 0C, thì sẽ phun thuốc vào ngày thứ 3. Ưu tiên xử lý vùng thường bị phấn trắng hàng năm và vườn cây tơ trồng các dòng vô tính mẫn cảm (PB 235, VM 515, RRIV 4).


Triệu chứng bệnh phấn trắng

2. Bệnh héo đen đầu lá

- Tác nhân: Do nấm Colletotrichum gloeosporioides (Penz.) Sacc.

- Phân bố: Bệnh xuất hiện vào mùa mưa.
- Tác hại: Bệnh gây hại cho lá non, chồi non giai kiến thiết cơ bản, có thể dẫn đến chết chồi và chết ngọn.
- Triệu chứng: Bệnh gây rụng lá non dưới hai tuần tuổi, lá già không rụng thì méo mó, mặt lá gồ ghề. Bệnh gây khô ngọn, khô cành từng phần hoặc chết cả cây. Các dòng vô tính nhiễm bệnh nặng là RRIM 600, GT 1, PB 255, RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4...
- Xử lý:

Sử dụng một trong các loại thuốc có chứa các hoạt chất sau: Hexaconazole  nồng độ 0,2 %  hoặc mancozeb nồng độ 0,2 %. Pha phối hợp với chất bám dính BDNH 2.000 nồng độ 0,2 %.


Triệu chứng bệnh héo đen đầu lá

3. Bệnh rụng lá mùa mưa

- Tác nhân: Do nấm Phytophthora botryosa Chee và P. palmivora (Bult.) Bult.

- Phân bố: Bệnh xảy ra trong mùa mưa dầm.

- Tác hại: Bệnh gây rụng lá già, mức độ gây hại khác nhau tuỳ từng vùng và dòng vô tính.

- Triệu chứng: Điển hình của bệnh là trên cuống lá bị rụng có một hoặc nhiều cục mủ trắng. Nấm cũng gây chết tược ghép mới trồng. Trên vườn cây kinh doanh, nấm có thể lan xuống mặt cạo gây ra bệnh loét sọc mặt cạo. Các dòng vô tính nhiễm bệnh nặng là RRIM 600, GT1...

- Xử lý:
  • Trường hợp vườn cao su non bị bệnh thì sử dụng  thuốc có chứa hoạt chất metalaxyl. Nếu chồi non nhiễm bệnh phải cắt bỏ phần bị thối và bôi thuốc metalaxyl + mancozeb nồng độ 2% sau đó bôi vaseline.
  • Trên vườn cây kinh doanh, khi bệnh xuất hiện thì bôi thuốc metalaxyl + mancozeb nồng độ 2% hoặc chế phẩm LSMC 99 lên mặt cạo để phòng trị bệnh loét sọc mặt cạo


Triệu chứng bệnh rụng lá mùa mưa

4. Bệnh Corynespora

- Tác nhân: Do nấm Corynespora cassiicola (Berk. & Curt.) Wei.

- Phân bố: Bệnh xuất hiện quanh năm và trên m i giai đoạn sinh trưởng của cây cao su.

- Tác hại: Gây hại đặc biệt nghiêm trọng trên các dòng vô tính cao su mẫn cảm.    

Nấm tấn công lá và chồi, làm chết cây con vườn ương, giảm tỷ lệ mắt ghép hữu hiệu của vườn nhân. Bệnh có thể gây rụng lá hàng loạt nhiều lần, làm giảm sinh trưởng, năng suất và đôi khi gây chết cây trên vườn kiến thiết cơ bản và kinh doanh.

- Triệu chứng: Xuất hiện trên lá, cuống lá và chồi với những triệu chứng khác nhau tuỳ thuộc vào tuổi lá và tính mẫn cảm của dòng vô tính:

  • Trên lá: Vết bệnh có hình tròn màu xám đến nâu với viền vàng xung quanh, trung tâm vết bệnh đôi khi hình thành lỗ. Lá non bị hại xoăn lại biến dạng sau đó rụng toàn bộ. Ở một số dòng vô tính, lá bệnh có triệu chứng đặc trưng với vết màu đen dạng xương cá dọc theo gân lá. Nếu gặp điều kiện thuận lợi các vết lan rộng gây chết từng phần lá, sau đó toàn bộ lá đổi màu vàng - vàng cam và rụng từng lá một.
  • Trên chồi và cuống lá: Vết nứt dọc theo chồi và cuống lá dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hoá đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết chồi, chết cả cây. Trên gỗ có sọc đen chạy d c theo vết bệnh. Trên cuống lá có vết nứt màu đen chiều dài 0,5 - 3,0 mm. Nếu cuống lá bị hại, toàn bộ lá chét bị rụng khi còn xanh dù không có một triệu chứng nào xuất hiện trên phiến lá.

- Xử lý:

  • Không trồng các dòng vô tính mẫn cảm như RRIC 103, RRIC 104, RRIM 725, RRIV 2, RRIV 3, RRIV 4...
  • Sử dụng một trong các công thức thuốc sau: Hexaconazole nồng độ 0,1 - 0,15%. Pha phối hợp với chất bám dính BDNH 2.000 nồng độ 0,2% (vườn năm 1), 0,3% (vườn năm 2 - 4), 0,5% (vườn năm 5 trở đi), phun ướt toàn bộ lá, chồi non, lưu ý phun mặt dưới lá. Nên luân phiên sử dụng các loại thuốc được khuyến cáo để tránh nấm hình thành tính kháng thuốc.
  • Đối với vườn kiến thiết cơ bản và kinh doanh, phun ướt toàn bộ tán lá, chồi non, lưu ý phun mặt dưới lá và phun tới ngọn. Phun vào buổi sáng sớm và ngưng khi trời bắt đầu nắng gắt (10h00 – 10h30), phun 3 - 4 lần với chu kỳ 7 - 10 ngày/lần. Vườn cây kinh doanh phải giảm cường độ hoặc ngừng thu hoạch mủ nếu bệnh nặng.
  • Bón tăng lượng phân kali 25 % so với quy trình để cây tăng sức chống chịu bệnh.


Triệu chứng bệnh Corynespora (vết bệnh dạng đốm và xương cá)

5. Bệnh đốm mắt chim

- Tác nhân: Do nấm Drechslera heveae (Petch) M.B. Ellis.

- Phân bố: Bệnh thường xảy ra trên cây thực sinh trong vườn ương, nhất là vùng đất trũng, xấu.

- Tác hại: Bệnh gây hại cho lá non và chồi non làm cây sinh trưởng kém dẫn đến tỷ lệ sử dụng làm gốc ghép thấp.

- Triệu chứng: Vết bệnh đặc trưng như mắt chim, có kích thước 1 - 3 mm với màu trắng ở trung tâm và viền màu nâu rõ rệt bên ngoài, các vết luôn xuất hiện trên phiến lá. Trên lá non, nấm gây biến dạng và rụng từng lá chét một, trong khi trên lá già vết bệnh tồn tại trong suốt giai đoạn phát triển của lá. Chồi cây bị nhiễm bệnh thường bị phù to so với chồi bình thường.

- Xử lý:

  • Làm sạch cỏ tạo cho vườn cây thông thoáng giảm điều kiện lây lan.
  • Bón phân cân đối và đầy đủ.
  • Phòng trị bằng thuốc bảo vệ thực vật: Tương tự như phun trị bệnh héo đen đầu lá.

 

Triệu chứng bệnh đốm mắt chim

6. Khô ngọn khô cành

- Tác nhân: 

  • Do hậu quả của các bệnh Corynespora, phấn trắng, héo đen đầu lá, rụng lá mùa mưa, Botryodiplodia, rệp…
  • Do gió bão, rét, nắng hạn, sét đánh, thiếu phân bón, úng nước, …

- Tác hại: Có thể gây chết cây ở vườn kiến thiết cơ bản. Với vườn cây kinh doanh, có thể gây chết một phần tán hay toàn bộ cây.

- Xử lý: Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh mà có biện pháp xử lý thích hợp như bón phân, chống rét, chống hạn. Xử lý các bệnh lá và côn trùng kịp thời. Khi cây, cành bị bệnh thì phải cưa dưới phần bị chết 20 - 25 cm sau đó bôi một lớp mỏng vaseline.

7. Bệnh Nấm hồng

- Tác nhân: Do nấm Corticium salmonicolor Berk. & Br.

- Phân bố: Bệnh nặng ở vùng có hai mùa mưa nắng rõ rệt, cao trình < 300 m. Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa.

- Tác hại: Gây hại cho cây 3 - 8 tuổi làm chết cành, cụt ngọn.

- Triệu chứng: Vết bệnh chỉ xuất hiện trên thân và cành có vỏ đã hoá nâu. Ban đầu vết bệnh có tơ nấm dạng "mạng nhện" màu trắng kèm theo vết mủ chảy. Lúc bệnh nặng nấm chuyển sang màu hồng, mủ chảy nhiều và lan rộng. Khi cành chết, lá khô không rụng, phía dưới vết bệnh mọc ra nhiều chồi.

- Xử lý:

  • Phát hiện bệnh sớm để xử lý kịp thời. Dùng một trong các loại thuốc có hoạt chất sau: Validamycine, hexaconazole, Azoxystrobin + Chlorothalonil, … Các loại thuốc trên cần pha phối hợp với chất bám dính BDNH 2.000 nồng độ 1,0%.
  • Sử dụng bình phun đeo vai có vòi nối dài phun phủ kín vết bệnh với chu kỳ 10 - 14 ngày/lần cho đến khi khỏi bệnh. Sau khi phun, phải kiểm tra, đánh dấu cây bệnh để xử lý lại nếu bệnh chưa khỏi. Ngưng cạo mủ những cây bị chết tán và cây bị bệnh nặng. Vào mùa khô, tiến hành cưa cắt cây, cành bị chết và đưa ra bìa lô để đốt.

8. Bệnh rễ nâu

- Tác nhân: Do nấm Phellinus noxius (Corner) G. H. Cunn.

- Phân bố: Bệnh thường xuất hiện trên cây cao su trồng tại những vùng trước đây là rừng có nhiều cây thân gỗ hay vườn cây tái canh. Nếu hố trồng còn rễ cây thì có nguy cơ nhiễm bệnh do nguồn nấm đã có sẵn lây qua cây cao su.

- Tác hại: Gây chết cây.

- Triệu chứng: Biểu hiện của bệnh xuất hiện trên tán lá và rễ, cần quan sát kết hợp hai phần để có xác định chính xác nhất.

  • Trên tán lá: Tán lá còi cọc, lá có màu xanh hơi vàng co rút và cụp xuống. Nhiều cành nhỏ ở phần dưới tán bị rụng lá. Sau đó, toàn bộ tán lá bị rụng và cây chết.
  • Trên rễ: Điển hình cho các loại bệnh rễ. Trên rễ bệnh mọc nhiều rễ con chằng chịt, dính lớp đất dày 3 - 4 mm khó rửa sạch. Sau khi rửa sạch, mặt ngoài rễ có màu vàng nâu. Phần gỗ chết có những vân màu nâu đen, dễ bóp nát. Quả thể thường xuất hiện trên thân gần mặt đất. Triệu chứng trên rễ là dấu hiệu chính để xác định cây bị nhiễm bệnh.

- Xử lý:

  • Phòng: Khi khai hoang phải dọn sạch rễ trong hố trồng để giảm nguồn lây nhiễm ban đầu. Trên vùng có nguy cơ xuất hiện bệnh, trộn 100 - 150 g bột lưu huỳnh vào hố 5 - 7 ngày trước khi trồng.
  • Trị: Với cây bị bệnh và những cây kế cận, dùng thuốc có hoạt chất hexaconazole nồng độ 0,5% pha trong nước tưới quanh gốc trong bán kính 0,5 m với liều lượng 3 - 5 lít/cây và phải xử lý 2 - 3 lần với chu kỳ 2 tháng/lần.

 

Triệu chứng bệnh rễ nâu trên cổ rễ

9. Bệnh Botryodiplodia
- Tác nhân: do nấm Botryodiplodia theobromae Pat.
- Phân bố: bệnh xuất hiện trên các vùng trồng cao su, gây hại cho vỏ nguyên sinh hoá nâu của vùng mặt cạo.
- Tác hại: vườn cây đang thu hoạch mủ làm hư mặt cạo và giảm sản lượng mủ. Bệnh thường xuất hiện và gây hại nặng cho dòng vô tính RRIV 4, VM 515, PB 235 và PB 260.
- Triệu chứng: mụn nhỏ 1 - 2 mm rải rác trên phần mặt cạo, sau đó liên kết lại với diện tích 4 - 5 cm2 hoặc lan ra toàn bộ thân cành. Vỏ trở nên cứng và dày hơn, sau đó xuất hiện những vết nứt hình dạng bất định, đôi khi có mủ rĩ ra và bên dưới không có đệm mủ. Sản lượng trên cây giảm và dẫn đến khô mặt cạo.
- Phòng trị: Hexaconazole nồng độ 0,5% phối hợp với chất bám dính BDNH 2.000 nồng độ 1,0 - 1,5 %. Dùng bình phun đeo vai xử lý 2 - 3 lần với chu kỳ 7 - 10 ngày lần. Phun phủ kín vết bệnh. Chú ý phun kỹ độ cao 0 - 2 m cách chân voi. Cho nghỉ cạo cây bị bệnh nặng để điều trị khỏi hẳn./.
Trung tâm Khuyến nông


Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu phộngNông nghiệpBài viếtTrung tâm Khuyến nôngKỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu phộng/PublishingImages/2019-04/TTKN đậu phộng.jpg
​Đậu phộng là cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây có dầu thuộc cây họ đậu phục vụ chế biến xuất khẩu. Tùy theo giống thời gian sinh trưởng từ gieo đến thu hoạch 90-120 ngày, năng suất: 3,5 – 4,0 tấn/ha.
5/6/2019 9:00 AMNoĐã ban hành

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

Ruộng gieo trồng cần chọn đất có thành phần cơ giới nhẹ: cát pha thịt nhẹ, tơi xốp giàu Ca, P…. pH thích hợp là 5,5-6,5, dễ thóat nước trong mùa mưa và chủ động tưới, khuyến cáo đất trồng xen vụ, hoặc bỏ vụ.

2. Nước

Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, đặc biệt ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực. Cây có thể sinh trưởng, phát triển ở nơi có lượng mưa từ 1.000 - 1.500 mm và phân bố đều trong vụ trồng.

3. Ánh sáng

Cây cần nhiều ánh sáng để quang hợp, trung bình cần 200 giờ nắng/ tháng thuận lợi cho ra hoa và tạo nốt sần.

4. Nhiệt độ

Đậu phộng phát triển thuận lợi trong khoảng nhiệt độ từ 24-330C, thích hợp khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và nhiều ánh sáng.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Trong đó, cây đậu phộng là một trong những loại cây trồng truyền thống của tỉnh Tây Ninh có giá trị kinh tế cao. Trong những năm gần đây diện tích sản xuất đậu phộng liên tục giảm do chi phí thuê mướn nhân công sản xuất cao và tình trạng khan hiếm nhân công, lợi nhuận sản xuất giảm nên người nông dân chuyển sang trồng các loại cây trồng khác. Tuy nhiên, năng suất đậu phộng lại có xu hướng tăng dần do người nông dân đã biết áp dụng giống mới và các tiến bộ kỹ thuật do Trung tâm Khuyến nông Tây Ninh chuyển giao. Hiện nay, Trung tâm Khuyến nông đang chuyển giao cho nông dân sản xuất thử nghiệm 1 máy bứt quả đậu phộng nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân công và giảm chi phí sản xuất.

Tính đến cuối năm 2017, Tây Ninh có tổng diện tích sản xuất đậu phộng là 5.093 ha. Trong đó, địa phương có diện tích sản xuất đậu nhiều nhất là huyện Dương Minh Châu (2.545,6 ha) và Trảng Bàng (2.349,5 ha). Các huyện còn lại có sản xuất đậu nhưng diện tích không  nhiều. Về năng suất, Dương Minh Châu là huyện có năng suất bình quân cao nhất, đạt 40,57 tạ/ha.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

Ngoài các giống đậu hiện có ở địa phương, hiện nay đang có một số giống chủ lực đó là: VD1 (đậu lì thuần), VD2 được đánh giá là các giống có năng suất cao hơn giống địa phương, phẩm chất tốt, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường.


IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ:

- Vụ Đông Xuân: Xuống giống tháng 11 – 12 dương lịch và thu hoạch vào tháng 2-3 dương lịch.

- Vụ Xuân Hè (vụ phụ): Xuống giống tháng 2-3 dương lịch và thu hoạch vào tháng 5-6 dương lịch.

- Vụ Hè Thu: Xuống giống tháng 4-5 dương lịch và thu hoạch vào tháng 7-8 dương lịch.

- Vụ Mùa: Xuống giống tháng 7-8 dương lịch và thu hoạch vào tháng 10-11 dương lịch.

2. Khoảng cách trồng:

Tuỳ vào từng giống, từng loại đất và mức độ thâm canh cụ thể:

* Trồng theo lỗ: Trồng 4-5 lỗ/hàng ngang, 2-3 hạt lổ. Khoảng cách giữa các lổ 20- 25cm, hàng cách hàng 25-30 cm.

* Trồng rạch hàng: Trên hàng kẻ rãnh, trồng theo rãnh 10 cm/hạt, khoảng cách giữa 2 rãnh 20-25 cm

3. Chuẩn bị giống:

Lượng giống:

- Vụ Hè Thu và vụ Mùa: 160-180 kg đậu vỏ/ha

- Vụ Đông Xuân nên gieo dầy 200-220 kg/ha đậu vỏ để đảm bảo năng suất.

Chọn hạt:

- Tách vỏ loại bỏ hạt lép, hạt vỡ, hạt xấu, mốc và hạt bị lên dầu hoặc có mầm đã teo khô. Tách vỏ xong tỉa ngay không để quá 7 ngày, để lâu hạt sẽ lên dầu, nảy mầm kém ảnh hưởng tới năng suất sau này.

Xử lý hạt:

Để phòng bệnh chết cây con do nấm bệnh gây ra có thể sử dụng  thuốc trừ bệnh gốc đồng gồm 4 nhóm chính: Copper Oxychloride, Copper Hydroxide, Copper sulfate và Copper citrate trộn chung với giống trước khi gieo.

b. Chuẩn bị đất trồng:

Đất cày bừa kỹ (cày phơi ải càng tốt) tơi xốp, đủ ẩm, sạch cỏ, bằng phẳng.

Cày sâu 25 cm – 30 cm, tùy tính chất đất thiết kế bừa 2-5 lần. Có thể lên liếp rộng 1,2 – 1,5 m (trường hợp tưới thấm) hoặc 2,5 – 3 m (nếu tưới phun). Rãnh rộng 30cm, sâu 15-20cm, để dễ tưới và tiêu nước.

4. Gieo hạt:

Có thể dùng phương thức rạch hàng hay bỏ hốc, đảm bảo mật độ:

- Vụ Hè Thu và vụ Mùa: 20 x 20 cm x 2 hạt/1 lỗ..

- Vụ Đông Xuân, Xuân Hè: 10 x 15 cm x 2 hạt/1 lỗ.

- Độ sâu lấp hạt: 2 - 3 Cm.

5. Phân bón:

Tùy theo từng lọai đất mà bón phân cho thích hợp, có thể bón theo tỷ lệ N-P-K như sau: 30-40N + 60-90P2O5 +80-100K2O. Cụ thể:

- Phân chuồng hoai mục: 4-5 tấn/ha (nếu có)

- Tro dừa: 100-150 giạ.

- Phân hóa học: SA 200 Kg (hoặc Urea: 100Kg), Super lân: 500 Kg, Kali: 150 Kg, Vôi: 500 Kg. Hay phân bón phức hợp: 6 bao 16-16-8 + 2 bao Kali.

Có thể giảm lượng tro dừa, phân vi sinh, phân khoáng vi lượng. Hiện nay một số nhà máy phân bón đã sản xuất các loại phân bón chuyên dùng cho cây đậu phộng, tiện lợi và tiết kiệm lao động. Có thể sử dụng loại phân chuyên dùng để tiết kiệm công bón.

Cách bón:

Bón phân cho cây đậu phộng là yếu tố kỹ thuật quan trọng để cây đậu phộng cho năng suất cao. Để bón phân cần xác định thời kỳ bón thích hợp, lượng phân, dạng phân bón và cân đối các yếu tố dinh dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây hấp thu dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao. Lưu ý bổ sung yếu tố phân chuồng.

Ngoài ra, đậu phộng rất cần lân và vôi nhằm giúp cho nốt sần cố định đạm phát triển.

- Vụ Đông Xuân và Xuân Hè có thể bón lót 1 lần toàn bộ số phân hiện có. Hè Thu và vụ Mùa do mưa nhiều sẽ rửa trôi phân nên có thể chia làm 2 đợt bón.

- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng, tòan bộ tro dừa, toàn bộ phân lân, 70 Kg SA (35 Kg Urea ), 40 Kg Kali. Riêng vôi 500 kg vôi bón lúc cày lần 1.

- Bón thúc: Khi cây được 3 - 4 lá thật (12-15 ngày sau gieo): Toàn bộ số đạm và kali còn lại, kết hợp với phúp 1 lần.

- Để cho đậu phộng ra hoa tập trung nên phun phân bón lá vào lúc cây được 20 ngày.

6. Tưới tiêu:

Mùa mưa: Lên liếp có rãnh thoát nước.

Mùa nắng: Tưới thấm theo rãnh: 4 - 7 lần/vụ. Cần chú trọng các giai đoạn cây ra hoa, đâm tia, trái đang phát triển phải đảm bảo đủ độ ẩm để cây ra hoa nhiều, đâm tia dễ dàng và trái ít bị lép. 

Trước khi thu họach 7-10 ngày không nên tưới nước để đậu mau chín.


7. Quản lý cỏ dại:     

Sau khi tỉa 1-3 ngày dùng một trong các loại thuốc tiền nẩy mầm để diệt hạt cỏ còn lẫn trong đất (Các loại thuốc chứa hoạt chất Oxadiazon (min 94%) EC)

Sau 10-15 ngày nếu có cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ mật, cỏ bông… dùng cpác nhóm thuốc có chứa hoạt chất Fenoxaprop-P-Ethyl (min 88 %).

Lần 1: 15 ngày sau gieo tiến hành xới nhẹ ở phần mặt luống, sâu 3-4 cm, kết hợp bón thúc lần 1 khi mầm được 3 lá, làm sạch cỏ trên mặt luống, không vun đất vào gốc tránh làm chết mầm.

Lần 2: 25 - 30 ngày sau gieo

Cuốc cỏ, xới sâu 5-6cm, vun quanh gốc kết hợp bón lần 2.

Lần 3: 40-45 ngày sau gieo

Làm cỏ giữa 2 liếp, không làm gần gốc dễ làm hư đài kết hợp bón hỗn hợp K2SO4 hoặc KCL (40 - 60 kg/ha) bổ sung dưỡng chất để tạo các nốt sần hữu hiệu.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI:

Sâu xám, sâu khoang, sâu lá,…: Sử dụng: các loại thuốc có nguồn gốc hữu cơ chưa hoạt chất ABAMECTIN và EMAMECTIN, hoặc hỗn hợp Abamectin và dầu khoáng.

Nhện đỏ sử dụng: các nhóm thuốc chứa hoạt chất Propargite (min 85 %) EC, EW.

Rầy rệp các lọai: Sử dụng các nhóm thuốc chứa hoạt chất Buprofezin (min 98 %) WP, SC, WG.

Sâu xanh và sâu xanh da láng: Sử dụng các nhóm thuốc chứa hoạt chất Benfuracarb (min 92 %) GR, EC, WP.

B. BỆNH HẠI:

Lưu ý: Bà con nên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng theo hướng dẫn trong toa thuốc để tránh thiệt hại. Nên thay đổi thuốc và phối hợp các thuốc trong các lần phun để tăng tác dụng của thuốc và tránh sự quen thuốc của sâu. Khi sử dụng thuốc bà con nên tuân theo phương châm 4 đúng: Đúng thuốc; Đúng thời điểm; Đúng liều lượng; Đúng cách.

- Bệnh đốm lá  (Puccinia arachidis). Đốm bệnh dạng hơi tròn, màu nâu đậm kích thước lớn (4-12mm) trên mặt lá xuất hiện đốm nâu đỏ hoặc đen, mặt dưới lá màu nâu sáng, xung quanh vết bệnh có màu vàng nhạt. Xuất hiện 20-30 ngày sau gieo. Dùng các thuốc chứa hoạt chất Hexaconazole (min 85 %), Metiram Complex (min 85 %)  phun theo hướng dẫn.


- Bệnh héo rũ tái xanh: (Pseudomonas solanacearum)

Triệu chứng: cây chết đột ngột nhưng lá vẫn xanh. Hoặc lá chuyển vàng dây héo dần, khi cắt ngang thân dây nhúng vào nước sẽ thấy chất dịch trắng đục chảy ra.

Biện pháp: Dùng giống kháng bệnh, luân canh xen vụ, xử lý hạt giống trước khi gieo.


- Bệnh héo rũ thối thân: (Sclerotium rolfsii Sacc)

Triệu chứng: Nấm ký sinh phá hoại cổ rễ rồi lan lên thân làm chết khô dây và lan rộng, lá héo. Bệnh làm đứt cổ rễ khi nhổ, trên vỏ hạt phủ lớp mốc trắng làm mục vỏ và hạt lõi nhiễm màu xám xanh.

Biện pháp: Cần vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo hạt. Xử lý đất bằng các dung dịch chứa: Metalaxyl, Benfuracarb min 92 %, Metiram Complex (min 85 %), ... 15 ngày sau gieo.

Bệnh chết cây con: (Rhizoctonia solani) Bệnh do nhiều tác nhân: vi khuẩn Pseudomonas solanacearum gây bệnh héo xanh, nấm Aspergillus Niger gây bệnh héo rũ gốc mốc đen, nấm Sclerotium Rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng


Biện pháp canh tác:
- Dùng giống kháng
- Luân canh cây trồng;

- Xử lý hạt giống.
- Sử dụng cây giống ở vườn ươm không bị bệnh.
- Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch cỏ dại.
- Sử dụng phân hữu cơ hoai mục để bón.
* Biện pháp cơ giới vật lý:
- Nhổ bỏ cây bị bệnh gom lại đem đi đốt.
- Tránh việc tiếp xúc giữa cây bệnh và cây khỏe, lưu ý khi tưới nước, tỉa cành, thu hái.

* Biện pháp hóa học:
Cần phát hiện sớm dùng các loại thuốc có chứa hoạt chất  như: Validamycin, Pencycuron, Copper Oxychloride 16% + Kasugamycin  0.6 %, Copper Oxychloride  45 % + Kasugamycin 5 % … có thể hạn chế được bệnh.

* Áp dụng IPM trên cây đậu phộng bao gồm:

- Dùng bẫy Pheromone  để bẫy bướm.

- Trồng cây hướng dương xung quanh ruộng 1-1,5m/cây.

- Tiến hành phun thuốc căn cứ vào mật số bướm vào bẫy, thời điểm phun thuốc cách sau đỉnh điểm mật số bướm là 4-6 ngày (Đây là thời điểm trứng đã nở thành sâu non), hoặc khi mật độ ổ trứng tăng cao trên cây hướng dương hoặc trên 1m2 cây đậu phộng.

- Loại thuốc dùng; Giai đoạn đầu từ 40-45 ngày sau khi gieo sử dụng thuốc vi sinh BT, liều dùng 15-20 gr/8lít, hoặc thuốc có độ độc thấp như: Lannate hoặc dùng các loại thuốc thuộc nhóm Permethrin. Giai đoạn sau dùng thuốc có độ độc trung bìmh: các nhóm thuốc chứa hoạt chất Chlorfluazuron (min 94%).

VI. THU HOẠCH:

Đối với giống đậu địa phương, đậu lì thuần thời gian khoảng 90 ngày là thu họach. Trước khi thu họach phải nhổ thử, khi vỏ lụa đã chuyển từ màu trắng sang màu hồng, lá ngả vàng, vỏ quả cứng, chắc, ít quả lép thì tiến hành thu họach.

Khi thu hoạch đất phải đủ ẩm, nếu đất khô phải tưới trước 1 đêm (tưới vừa đủ ẩm) để khi nhổ không bị đứt trái. Sau đó tách trái ra khỏi cây, phơi khô 3-4 nắng để độ ẩm còn khỏang 14% (hạt đậu tróc vỏ lụa) thì đem đóng bao và nên bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát./.

Trung tâm Khuyến nông

Kỹ thuật trồng và chăm sóc dứaNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtKỹ thuật trồng và chăm sóc dứa/PublishingImages/2019-04/Cây Dứa.jpg
Ở Miền Nam dứa được trồng trên đất phèn và xám. Dứa có bộ rễ ăn nông, do đó dứa phải được trồng trên đất tơi xốp, thoáng khí, dễ thoát nước, có tầng canh tác dày trên 0,4m, độ pH thích hợp khoảng 4 – 5. Đất phèn có pH ≤ 4 cây dứa vẫn sống tốt. Dứa Queen chịu được pH thấp hơn giống Cayen.
Nhiệt độ giới hạn là 15 - 400C, thích hợp là 25-350C. Khi nhiệt độ xuống thấp 5 - 100C thì cây dứa ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chín của quả, quả chín vào thời kỳ lạnh, ẩm, ánh sáng yếu thì quả thường bé, độ ngọt thấp thường bị chua. Dứa Cayen chịu rét kém hơn dứa Queen.
5/1/2019 1:00 PMYesĐã ban hành

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DỨA

 

I. YÊU CẦU SINH THÁI

1. Đất trồng

Ở Miền Nam dứa được trồng trên đất phèn và xám. Dứa có bộ rễ ăn nông, do đó dứa phải được trồng trên đất tơi xốp, thoáng khí, dễ thoát nước, có tầng canh tác dày trên 0,4m, độ pH thích hợp khoảng 4 – 5. Đất phèn có pH ≤ 4 cây dứa vẫn sống tốt. Dứa Queen chịu được pH thấp hơn giống Cayen.

2.Nước

Lượng mưa thích hợp1.000-1.500mm/năm, phân phối đều qua các tháng. Lượng mưa phân bố không đều ảnh hưởng đến quá trình ra hoa. Tại những nơi ngập nước phải bảo đảm mực nước trong mương thấp hơn mặt liếp tối thiểu 40 cm. pH thích hợp từ 4 – 6.

3. Ánh sáng

Cây thích ánh sáng tán xạ hơn là ánh sáng trực xạ, tuy nhiên ánh sáng trực xạ vào mùa hè dễ gây ra hiện tượng cháy nắng trên quả. Cây dứa có khuynh hướng ra hoa tự nhiên vào thời kỳ ngày ngắn.

4. Nhiệt độ

Nhiệt độ giới hạn là 15 - 400C, thích hợp là 25-350C. Khi nhiệt độ xuống thấp 5 - 100C thì cây dứa ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chín của quả, quả chín vào thời kỳ lạnh, ẩm, ánh sáng yếu thì quả thường bé, độ ngọt thấp thường bị chua. Dứa Cayen chịu rét kém hơn dứa Queen.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả.

-  Điều kiện khí hậu: Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo; lượng mưa trung bình/năm từ 1.500 – 2.400 mm và mùa khô kéo dài (6 tháng); nhiệt độ trung bình/năm từ 27 – 28oC; độ ẩm không khí trung bình là 80%; số giờ nắng trung bình/ngày/năm vào khoảng 07 giờ/ngày.

-  Điều kiện nước: Tây Ninh có diện tích mặt nước lớn với hệ thống các sông như: Vàm Cỏ Đông, Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng (với dung tích 1,1 tỷ m3); là nguồn cung cấp nước ngọt đồng thời nước từ các sông mang lại còn giúp đẩy mặn vào thời điểm triều cường; có hệ thống thủy lợi được đầu tư khá đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong tỉnh.

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên tại Tây Ninh phù hợp để canh tác dứa nhưng cần phải có hệ thống tưới tiêu tốt và tăng cường đầu tư phân bón nhất là phân hữu cơ để cải tạo đất.

- Khi chọn canh tác dứa, người sản xuất nên thực hiện phân tích phẫu diện đất canh tác để xác định chính xác hàm lượng các chất dinh dưỡng, pH đất, pH nước, độ dày tầng canh tác,… làm cơ sở đưa ra quyết định canh tác dứa hoặc cần bổ sung, cải tạo để đầu tư thâm canh đạt hiệu quả như mong muốn.

Trong trường hợp trồng dứa trên những chân đất thấp, trũng gần mạch nước ngầm chịu ảnh hưởng của quá trình phèn hóa, thì cần đào mương lên líp cao khi trồng và cải tạo độ pH cho phù hợp.

III. CÁC GIỐNG DỨA PHỔ BIẾN

Dứa được phân thành ba nhóm chính: Nhóm hoàng hậu (Queen), nhóm Cayen (Cayenne), nhóm dứa Tây Ban Nha (Spanish).

1. Nhóm dứa hoàng hậu (Queen).

Dứa thuộc nhóm này có khối lượng và độ lớn trung bình từ 500 - 900gram, bản lá hẹp, cứng, nhiều gai ở mép lá, mặt trong của phiến lá có vân trắng chạy song song theo nhiều lá. Hoa có màu xanh hồng, mắt quả lồi, dễ vận chuyển, thịt quả màu vàng đậm, thơm đặc trưng, vị ngọt.

Đây là nhóm dứa có phẩm chất cao nhất đang được trồng phổ biến ở nước ta và đại diện là các giống: dứa hoa, dứa tây, dứa Vitoria, khóm.



Dứa (thơm) Queen                                                       Dứa (thơm) Cayen

2. Nhóm dứa Cayen (hay Smooth Cayenne)

Dứa này thuộc nhóm có khối lượng trung bình 1,5 - 2,0kg/quả. Lá màu xanh đậm, dài, dày, không có gai hoặc rất ít gai ở gốc hay chóp lá. Hoa tự có màu hồng, hơi đỏ, quả hình trụ (hình quả trứng), mắt quả to, hố mắt nông. Chín dần, khi chín màu vàng chuyển dần từ cuống tới chóp quả.

Đại diện là các giống: Chân Mộng, Đức Trọng, Trung Quốc, Thái Lan, Cayen có gai, Mehico

Các giống này được xem chỉ phát triển tốt trên đất có pH trung tính và có sự đầu tư thâm canh cao. Loại này tuy chất lượng không cao lắm nhưng được trồng nhiều để chế biến do quả to dễ cơ giới hoá, cho hiệu quả kinh tế thích hợp nhất cho việc sản xuất công nghiệp mặt hàng dứa như đồ hộp, nước dứa, sirô dứa... thích hợp canh tác thâm canh ở Tây ninh.

Giống Cayen nhạy cảm với nhiều loài côn trùng gây hại (sâu đục quả, nhện đỏ...) và bệnh (tuyến trùng, thối trái, thối lõi, thối gốc...). Tuy nhiên, nó được coi là có khả năng chịu được nấm Phytophthora sp. và đề kháng với sự phá hại trái do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi Burkbolder.

Nhóm dứa Cayen ít chịu chua hơn các nhóm Queen và Spanish.Vì vậy đất quá chua (pH dưới 5) nếu muốn trồng dứa Cayen phải bón vôi.

3. Nhóm dứa Tây Ban Nha (Spanish hay Red Spanish)

Nhóm dứa này có khối lượng trung bình 700 - 1000gram. Lá mềm, mép lá cong ngả nhiều về phía lưng, mật độ gai phân bố không đều trên mép lá. Hoa có màu đỏ nhạt, khi chín vỏ quả có màu đỏ xẫm, hố mắt sâu, thịt quả vàng, phớt nắng, vị chua, nhiều xơ.

IV. KỸ THUẬTTRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ trồng:Ở phía Nam trồng được quanh năm, tuy nhiên tốt nhất trồng vào đầu mùa mưa (tháng 6-7).

Mật độ:

Công thức tính số cây/ha như sau: (2 x 10.000)/(a x (b+c))

Với:   a là khoảng cách cây (m);

b là khoảng cách hàng (m);

c là khoảng cách giữa 2 hàng kép (m).


Để dễ đi lại chăm sóc và thu hoạch, dứa thường được trồng theo hàng kép. Khoảng cách thích hợp nhất hiện nay là khoảng cách giữa cây cách cây (a) 25 cm, giữa 2 hàng trên băng (b) là 40 cm, giữa các băng (c) là 90 cm với cách trồng và khoảng cách này,mật độ khoảng 61.000 cây/ha

Khi trồng có màng phủ thường bố trí hàng kép, với hàng cách hàng 40 cm, hàng cách mép luống liếp 5 cm. 

- Khi đào mương trồng theo từng liếp thường không chia thành băng mà trồng khoảng cách cây đều nhau, khoảng 40x40 cm, mật độ khoảng 50.000 cây/ha. Với chiều cao luống: 20-25cm, bề rộng mặt luống (tùy thuộc quy cách trồng) và được tính như sau:

          R = 40 x (N-1) + 2 x 20cm

          R: Bề rộng mặt luống tính bằng cm;

          N: là số hàng dự định trồng trên một luống

- Khoảng cách giữa các luống: Để thuận tiện cho khâu chăm sóc khoảng cách giữa hai mép luống nên để 30 cm, như vậy khoảng cách giữa các hàng rìa ngoài mép luống sẽ là 70 cm (đảm bảo cho đi lại dễ dàng).

Ví dụ: Nếu luống trồng 4 hàng thì bề rộng mặt luống sẽ là 40 x (4-1) + 2 x 20 =160cm và bề rộng đáy luống sẽ là 160 + 30 = 190cm

Tuy vậy trồng nhiều hàng/luống gây khó khăn việc làm cỏ khó khăn hơn và quả ở hàng giữa thường nhỏ hơn 2 hàng bên.

Ở dưới mỗi hàng dứa có thể trồng một hàng cây che bóng (cây muồng) để quả hạn chế bị rám nắng và góp phần cải tạo đất.

2. Cây giống

Có thể sử dụng 3 loại chồi chính phát sinh từ cây mẹ để làm giống khi trồng: chồi ngọn, chồi cuống, chồi nách.

Tiêu chuẩn chồi tốt là: Chồi ngắn, to, khoẻ, lá xanh đậm, phiến lá rộng và dầy, trọng lượng trên 150 -200gr/chồi với nhóm giống dứa Queen và 200-300gr/chồi với nhóm giống dứa Cayen. Chồi cao khoảng 20-25 cm, số lá từ 15-20 lá.

Trước khi trồng phải phân loại các chồi cùng loại trồng vào 1 khu, đảm bảo độ đồng đều của vườn dứa, thuận lợi cho việc chăm sóc, xử lý ra hoa trái vụ.

3. Trồng và chăm sóc

3. 1 Chuẩn bị đất trồng:

Đất trồng được chuẩn bị vào mùa nắng. Cày xới sâu 30cm, cào nhặt kỹ gốc cỏ rồi phơi đất ít nhất 1-2 tháng. Trước khi trồng 1 tuần, tiến hành bừa san cho đất bằng phẳng, không bị lồi, lõm, kết hợp bón lót phân chuồng hoai hoặc phân vi sinh cùng với phân lân. Nên sử dụng chế phẩm Trichoderma dòng trừ nấm bệnh, lượng sử dụng 1-3 kg/ha để ngừa bệnh do các loại nấm trong đất như Fusarium sp. hoặc Phytopthora sp. gây ra.

3.2 Xử lý chồi trước trồng

Chồi sau khi đã chọn, bóc bỏ bẹ lá ở gốc chồi để lộ 3-4 vòng mắt rồi bó 15-25 chồi thành 1 bó.Cần xử lý chồi con trước khi đem đi trồng để hạn chế sự phát sinh, gây hại của nấm bệnh sau khi trồng, có thể nhúng chồi giống trong dung dịch chứa hoạt chất Metalaxyl, Mancozeb hoặc Fosetyl aluminium pha với nồng độ 0,2% trong 3 - 5 phút hoặc phun ướt đẫm lên bó chồi. Sau đó vớt ra để nơi thoáng mát, khoảng 24 giờ sau thì đem trồng.

3.3 Cách trồng:

- Tạo lỗ, rãnh trồng: trước khi trồng cần làm đất bằng phẳng trên mặt liếp

- Căng dây thành hàng trên luống trồng theo khoảng cách định sẵn để đánh rãnh hoặc đào lỗ trồng thẳng hàng


- Dùng dao chọc lỗ trồng rộng 7-10 cm, sâu 5-7 cm trên hàng theo khoảng cách đã bố trí.

-Trong trường hợp trồng dứa có che phủ nilon, sau khi bón phân lót, lên luống, tiến hành phủ nilon lên toàn bộ mặt luống, dùng đất lấp chèn hai mép nilon. - Khoảng cách giữa các lỗ đục trên màng phủ phụ thuộc vào khoảng cách trồng. Có hai cách để đục lỗ:

+ Cách 1: Đục lỗ hình chữ thập (bằng dao) tại những vị trí trồng cây để cho cây có thể tăng trưởng.



+ Cách 2: Dùng ống sắt hoặc lon sữa bò rỗng có đường kính khoảng 8cm, cắt thành hình răng cưa để đục lỗ màng phủ.

- Đặt gốc chồi dứa thẳng đứng vào lỗ rãnh trồng dứa. Với chồi ngọn nên đặt sâu khoảng 3 cm, chồi cuống khoảng 5 cm và chồi nách khoảng 6-8 cm là phù hợp.

Lưu ý:

+ Tránh để rơi đất vào noãn chồi và không nên trồng quá sâu dễ gây thối.

+ Trước khi trồng cần bóc bỏ vài lá già ở gốc để rễ dễ mọc ra, nếu chồi dài có thể cắt bớt lá.

 - Ém chặt đất quanh gốc cho cây đứng vững. Không để đất lấp vào noãn dứa và noãn của cây dứa phải cao hơn mặt đất để khi mưa đất không lấp noãn. Nếu trồng bằng màng phủ dùng tay lùa xuống dưới nilon để nén chặt đất vào xung quanh gốc cây dứa.

  - Sau khi trồng xong cần tưới nước đủ ẩm để cây dứa nhanh bén rễ.

3.4 Trồng dặm, làm cỏ:

   Sau khi trồng từ 15-20 ngày tiến hành trồng dặm các cây bị chết. Lựa chọn cây tốt và to để trồng dặm.

    Mỗi năm cần làm cỏ 3 - 4 lần. Có thể làm cỏ bằng tay hoặc dùng thuốc trừ cỏ chọn lọc. Lần làm cỏ cuối cùng kết hợp với xới đất vun gốc. Việc vun gốc từ năm cho quả thứ 2 trở đi rất quan trọng vì lúc này các cây thường mọc cao ít tiếp xúc với đất, do đó dễ bị thiếu nước, thiếu dinh dưỡng.

    Sau khi thu hoạch xong cần tiến hành cắt bớt lá để mặt líp thông thoáng, giảm sâu bệnh.

3.5 Bón phân:

Bón phân cho cây dứa nên bón nông, bón trực tiếp xung quanh gốc và chia làm nhiều lần bón vì bộ rễ của cây dứa ăn nông và hẹp. Có thể bón phân theo rãnh hoặc gốc. Bón rãnh: Thời kỳ cây còn nhỏ, cày rạch hai bên hàng dứa, bón phân vào các đường rạch xong lấp đất lại kết hợp với vun hàng cho dứa. Bón gốc: Giữa khoảng cách 2 hàng dứa trong  hàng kép, bón phân vào gốc rồi lấp đất vun và tỉa gốc. Bón lót: Bón lót trước khi trồng đối với vụ đầu tiên, bón lót ngay sau khi thu hoạch quả đối với các vụ sau.

a. Bón lót:

Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ (phân chuồng, phân vi sinh, phân xanh, phân lân và vôi). Lượng phân hữu cơ bón là từ 10-15 tấn/ha; phân lân  (P2O5) là 30-50 kg (tương đương 200-350 kg super lân); vôi khoảng 200-500 kg/ha tùy độ chua đất. Sau vài ba năm vườn dứa phải phá đi trồng lại, có thể băm nát thân lá trộn vào đất cũng rất tốt.

Bón phân lót trước khi trồng cho dứa trồng vụ đầu và bón ngay sau mỗi vụ thu hoạch trái đối với các vụ sau.

b. Bón thúc:

- Liều lượng bón phân thay đổi tùy theo độ phì và đặc tính của từng vùng đất nhưng phải tuân thủ yêu cầu lượng phân kali luôn cao hơn gấp 2 lần phân đạm. Công thức bón: 6gN – 3g P2O5 – 12 g K2O / cây/ vụ thu hoạch. Tương đương lượng phân bón cho cây: 13 gam urea + 20 gam super lân + 20 gam sulfat kali/cây/vụ (tương đương lượng phân bón cho 1 ha/vụ:  520 kg Urê, 800 kg lân, 800 kg kali).

- Lượng phân bón chia làm 4 – 6 lần bón, cụ thể như sau:

+ Vụ đầu: Bón thúc lần 1 (2-3 tháng sau trồng): ¼ đạm và ¼ kali; bón thúc lần 2 (4-6 tháng sau trồng) : ¼ đạm và ¼ kali; bón thúc lần 3 (7-8 tháng sau trồng): ¼ đạm và ¼ kali; bón thúc lần 4 (trước khi xử lý ra hoa 2 tháng): ¼ đạm và ¼ kali.

+ Vụ thứ 2 trở đi: Sau khi thu hoạch vụ trước bón toàn bộ phân lân và 1/3 đạm, 1/3 kali; sau khi thu hoạch 2-3 tháng bón 1/3 đạm, 1/3 kali; trước khi xử lý ra hoa 2 tháng bón 1/3 đạm, 1/3 kali.

Đối với giống Cayen lượng bón cần nhiều hơn, nên ớ mức 10 gN + 5g P2O +10g K2O cho 1 cây. Mức N tối thiểu không dưới 8 g/cây (tương đương 17 gam Urê/cây).

  • Cách bón:

- Sau khi trồng 1 – 2 tháng pha nước tưới.

- Khi dứa được 3 tháng trở lên: rải phân giữa hai hàng và cách gốc 15– 20 cm đối với dứa trồng nhiều hàng/luống. Hoặc  xới nông 2 bên hàng kép cách gốc 15-20 cm, rải phân rồi lắp đất lại. Rải phân xong nên tưới nước ngay. Tránh không rải phân vào đọt dứa sẽ gây thối đọt.

Ngoài ra có thể bón phân một lần sau khi hoa nở xong để nuôi quả, lần này chỉ nên dùng phân kali và bổ sung thêm một số vi lượng, nhất là Bo (dạng axit Boric hoặc Borat). Hàng năm nên phun phân bón lá một số lần để bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các chất vi lượng.

3.6 Tưới nước và quản lý độ ẩm cho cây:

Vùng trồng dứa ở các tỉnh phía Nam thường thiếu nước xảy ra từ tháng 11 đến tháng 5. Vào các thời điểm này cần tưới nước cho cây định kỳ 3 lần/ tháng. Phương pháp tưới phun hoặc tưới thấm sao cho nước thấm sâu, không gây rửa trôi đất mặt. Quản lý ẩm độ đất bằng cách tủ gốc cho cây dứa, có thể sử dụng màng phủ nông nghiệp hay nguồn vật liệu tại chổ như: rơm rạ, kết hợp xới đất và vun gốc.

3.7 Tỉa chồi, cắt lá định chồi:

- Tỉa chồiÁp dụng trên hai loại chồi cuống và chồi ngọn.

+ Chồi cuống hình thành tồn tại cùng với quả có thể dùng tay hoặc dao tách nhẹ vào giai đoạn các mắt dứa ở đáy quả bắt đầu phát triển.

+ Chồi ngọn: Việc khống chế được thực hiện 2 tháng trước khi thu hoạch (lúc kích thước đạt 1/4 đến 1/2 kích thước quả) dùng phương pháp phá huỷ sinh trưởng bằng móc sắt hay nhỏ 2 giọt axít HCl hoặc 2 giọt dầu hoả vào chồi non.

- Cắt lá, định vị chồi: Sau khi thu hoạch vụ dứa tơ, kết hợp cắt bớt lá già cách gốc 20 – 25 cm. Chỉ để lại một chồi bên gần mặt đất nhất và mọc hướng vào bên trong hàng kép.

3.8 Xử lý dứa ra hoa trái vụ:

Thời điểm xử lý:

- Đếm số lá vào thời điểm xử lý: khi cây dứa đạt 55 lá trở lên.

- Đo chiều cao tối đa của cây dứa: dứa Cayen phải đạt 0,8-1m, Đối với dứa Queen 0,7-0,8 m.

 - Tỷ lệ ra hoa sẽ thấp nếu nhiệt độ vượt quá 290C. Tốt nhất là nên xử lý vào ban đêm hoặc sáng sớm. Cần thiết ngừng bón phân từ 1,5-2 tháng trước khi xử lý, đặc biệt là phân đạm. Trường hợp xử lý xong gặp mưa to, thì phải xử lý lại.

Hoá chất và cách xử lý:

iống dứa

Hóa chất

Nồng độ sử dụng

Số lần,cách xử lý

Điều kiện xử lý

Cayen

 Ethephon 48% + Urea (Nước lạnh 10-12oC)

500ppm+ 2%

Xử lý 2 lần (cách nhau 2-3 ngày), rót vào tim đọt 50-60 ml

Tưới nước 2-3 ngày trước khi xử lý ra hoa

CaC2 (Nước lạnh 10-12oC)

2%

Xử lý 2 lần (cách nhau 2-3 ngày), rót vào tim đọt 50-60 ml

Tưới nước 2-3 ngày trước khi xử lý ra hoa

Queen

CaC2 (khí đá)

1,5%

Xử lý 1 lần, rót vào tim đọt 50-60 ml  

 


 

V. Sâu bệnh hại

1. Sâu hại

1.1. Rệp sáp(Dysmycocus sp.)

- Hình thái và cách gây hại:

Rệp sáp rất phổ biến trên các vùng trồng dứa, chúng xuất hiện nhiều trong mùa nắng ấm, rệp sáp tấn công trên rễ, chồi, thân, lá, hoa và trái của cây dứa và rất nguy hiểm vì truyền bệnh héo khô đầu lá.


Hình ảnh cây dứa bị rệp sáp tấn công thân và trái

- Phòng trị:

+ Phòng trị kiến sống cộng sinh với rệp sáp.

+ Nhổ bỏ và tiêu hủy các cây bị hại nặng.

+ Nhúng gốc cây con trước khi trồng vào dung dịch thuốc Dinotefuran (pha 40ml trong 20 lít nước).

+ Khi rệp sáp hại dứa có mật độ 7 – 10 con/cây, có thể sử dụng thuốc hoá BVTV có một trong các hoạt chất sau: Spirotetramat, Abamectin, Emamectin benzoate, Dinotefuran, dầu khoáng Petroliumsprayoil,... Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn.

1.2. Bọ cánh cứng(Antitrogus sp.)

- Hình thái và cách gây hại:

Bọ cánh cứng sống và đẻ trứng dưới đất, ấu trùng nở ra có màu trắng dài khoảng 35 mm tấn công vào bộ rễ làm cây bị héo và dễ đổ ngã.


- Phòng trị: 

Nên xử lý đất trước khi trồng dứa, nếu có điều kiện lấy nước ngập ruộng từ 5 – 7 ngày. Có thể rải thuốc dạng hạt có hoạt chất như Chlorantraniliprole hoặc phun thuốc có hoạt chất Diafenthiuron, Chlorantraniliprole. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn


Hình ảnh nhện đỏ và cây dứa bị nhện đỏ gây hại.

1.3. Nhện đỏ(Dolichotetranycus sp.)

- Hình thái và cách gây hại:

Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ (0,25 mm), chúng thường xuất hiện trong mùa nắng, tập trung vào các bẹ lá để chích hút nhựa. Cây bị nhện tấn công thường có bộ lá kém phát triển, các lá có màu nâu xám và sần sùi và phần ngọn lá bị khô héo. Nhện đỏ còn tấn công trên trái non làm trái bị biến dạng, kém phát triển và giảm giá trị kinh tế. 

- Phòng trị:

Trong mùa nắng nên quan sát thật kỹ để kịp thời phát hiện nhện đỏ. Có thể dùng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất như: Abamectin, Azadirachtin, Matrine, Citrus oil, Azadiractin, Lufennuron, Dầu khoáng, Propargite,... Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn.

2. Bệnh hại

2.1. Bệnh héo khô đầu lá (virus Wilt)

Triệu chứng gây hại: Từ chóp lá trở xuống nửa lá chuyển sang màu đỏ nhạt và sau đó chuyển sang đỏ đậm, hai rìa lá cuốn lại từ trên chóp ngọn trở xuống, dần dần toàn lá bị héo và cây sẽ không trổ hoa. Bộ phận rễ bị thối, đầu tiên từ các rễ non và sau đó toàn bộ hệ thống rễ bị thối. Cây có triệu chứng bệnh chỉ nằm rải rác trong lô trồng dứa. Bệnh héo khô đầu lá có tác nhân do virus và được lan truyền bởi rệp sáp trong quá trình chúng chích hút trên cây dứa. Thời gian ủ bệnh có thể từ 3-8 tháng sau khi bị nhiễm. 

Phòng trị: 

+ Chọn chồi giống từ cây mẹ khoẻ mạnh không có rệp sáp và có thể xử lý nhúng chồi giống trước khi trồng bằng dung dịch có hoạt chất Dinotefuran (pha 40ml trong 20 lít nước).

+ Diệt trừ kiến để tránh lây lan.

+ Sau thu hoạch nên cắt bớt lá trên cây để tránh tạo điều kiện nóng ẩm giúp rệp sáp phát triển ở mùa tiếp theo. Trường hợp nặng, nên tiêu hủy cây bị nhiễm vì việc trị thường không có hiệu quả kinh tế.

+ Quản lý tốt rệp sáp gây hại.

2.2. Bệnh thối đọt, thối rễ (Do nấm Phytophthorasp., Fusarium)

Bệnh thối rễ dứa thường xuất hiện nhiều trong mùa mưa nơi có hệ thống thoát nước kém hoặc quá ẩm. Triệu chứng thối ngọn đầu tiên xuất hiện trên các lá ở giữa, lá có màu vàng hoặc hơi nâu, phần tâm ngọn dứa bị thối làm cho ngọn dứa bị héo. Triệu chứng thối rễ cũng tương tự như trên ngọn, điểm khác nhau là toàn bộ lá chuyển sang màu nâu và toàn bộ hệ thống rễ bị thối và dễ dàng đổ ngã.


Hình ảnh cây dứa bị thối đọt 

Phòng trị: 

+ Mặt líp trồng dứa cần được làm cao ráo, thoát nước tốt trong khi tưới. Hệ thống mương rãnh phải đảm bảo trong mùa mưa.

+ Chồi giống dứa chỉ được lấy ở các khu vực không bị bệnh gây hại, trước khi trồng chồi giống cần xử lý thuốc trừ nấm Metalaxyl, Mancozeb hoặc Fosetyl aluminium pha với nồng độ 0,2% trong 3 - 5 phút hoặc phun ướt đẫm lên bó chồi. Sau đó vớt ra để nơi thoáng mát, khoảng 24 giờ sau thì đem trồng.

+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện bệnh sớm và phun trừ bằng một số loại thuốc BVTV có hoạt chất như: Fosetyl aluminium, Metalaxyl, Mancozeb, Dimethomorph, ... Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất.

2.3. Bệnh thối trái (Do nấm Thielaviopsis paradoxa)

Nấm bệnh có thể tấn công ngay vết cắt của cuống trái làm thối cuống trái và đáy trái, nấm cũng tấn công trái bị tổn thương trong lúc vận chuyển. Nhiệt độ và ẩm độ cao là 2 yếu tố gia tăng tỷ lệ bệnh và trái dứa sẽ thối rất nhanh.


Hình ảnh trái dứa bị thối do nấm Thielaviopsis paradoxa


Phòng trị: 

+ Tiêu hủy các cây bị nhiễm bệnh.

+ Nên trồng chồi sạch bệnh, xử lý chồi trước khi trồng.

+ Chồi giống sau khi tách khỏi cây mẹ, bó thành bó và dựng ngược dưới nắng để nhanh khô vết thương ở gốc chồi. Không chất đống chồi lên nhau trong thời gian dài trước khi trồng.

+ Sát trùng dụng cụ thu hoạch. Nhúng mặt cắt cuống trái hoặc cả trái vào dung dịch Benzoic acid 10% hay Sodium salicilamit 1%.

 + Thu hoạch nhẹ nhàng tránh làm xây xát trái, tránh bầm giập vết cắt ở cuống   trái (cần chừa cuống trái dài để có thể cắt ngắn khi bán, tạo mặt cắt tươi ở cuống).

+ Không thu hái quả vào những lúc mưa trong mùa hè. Không để đất bám dính vào quả nhất là vào vết cắt trên cuống quả.

+ Sau thu hoạch quả không nên để dứa thành các đống lớn, xếp và vận chuyển cần nhẹ nhàng, nhất là đối với quả dứa Cayen.

2.4. Bệnh thối nhũn trái (Do vi khuẩn Erwinia carotovora)

Bệnh thường xuất hiện khi tồn trữ trái trong các kho vựa hoặc trên các trái chín ngoài đồng. Bệnh gây thối rất nhanh, trong vòng 24 giờ có thể làm thối toàn trái. Bên trong thịt trái có những lỗ hổng to, thịt rời rạc trong khi vỏ bên ngoài vẫn bình thường. Bệnh phá hoại nặng trong mùa mưa. 

Phòng trị: 

Loại bỏ ngay các trái bệnh để tránh lây lan, thu hoạch và vận chuyển tránh làm xây xát. Kho chứa phải thoáng mát, không chất dứa thành đống.


Hình ảnh trái dứa bị hư hỏng do vi khuẩn Erwinia carotovora.

2.5. Bệnh khô nâu mắt trái (Do vi khuẩn Erwinia ananas)

- Nguyên nhân: vi khuẩn xâm nhập vào trái ở giai đoạn ra hoa, thường xuất hiện trong các tháng có nhiệt độ và ẩm độ không khí cao (cuối mùa khô).




- Triệu chứng gây hại: Bệnh xảy ra trên mắt trái. Vết bệnh có màu rỉ sắt nhạt hay sậm, đôi khi có màu đen. Các mô xung quanh vùng bệnh thì cứng lại. Có thể có nhiều mắt trái bị bệnh trên trái, khi cắt trái ra thấy có những đốm nâu sẫm xen kẻ trên nền thịt trái vàng. Bệnh làm giảm sút phẩm chất trái.

Phòng trị: 

- Bố trí vụ thu hoạch vào trước cuối mùa khô.

- Phát hiện bệnh sớm và có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất như Kasugamycin, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Kasugamycin + Copper Oxychloride, Kasugamycin + Ningnanmycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,… Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất.

2.6. Bệnh thối đen (nấm Cerastomella paradoxa.)

Bệnh có thể bắt đầu từ ngoài ruộng, phát triển mạnh trong quá trình vận chuyển, có thể dẫn tới mất mát đến 25 %. Điều kiện để bệnh phát triển tốt nhất là ở nhiệt độ 21-32oC và độ ẩm cao.


Hình ảnh trái dứa bị thối đen do nấm Cerastomella paradoxa.

Phòng trị: 

Có thể ngăn ngừa bệnh bằng cách phun lên quả mới hái dung dịch Axít Benzoic trong cồn, sau đó đem đi bảo quản lạnh.

Bảng tóm tắt sâu bệnh hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và phòng trừ

Tt

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ (theo liều lượng khuyến cáo)

1

 

Cây con

Rệp sáp

Abamectin, Emamectinbenzoate, Dinotefuran, Spinosad, dầu khoáng Petroliumsprayoil.

Thối đọt

xử lý chồi giống vào dung dịch thuốc trừ nấm có hoạt chất: Metalaxyl, Mancozeb hoặc Fosetyl aluminium pha với nồng độ 0,2% trong 3 - 5 phút hoặc phun ướt đẫm lên bó chồi.

2

 

 

 

 

 

Trưởng thành

Bọ cánh cứng

-Xử lý đất trước khi trồng dứa, có thể lấy nước ngập ruộng từ 5 – 7 ngày.

- Rải thuốc dạng hạt có hoạt chất Chlorantraniliprole hoặc phun thuốc có hoạt chất Diafenthiuron, Chlorantraniliprole.

Nhện đỏ

Abamectin, Azadirachtin, Matrine, Citrus oil, Azadiractin, Lufennuron, Dầu khoáng, Propargite,...

Thối đọt, rễ

Fosetyl aluminium, Metalaxyl, Mancozeb, Dimethomorph,…

Rệp sáp

Abamectin, Emamectinbenzoate, Dinotefuran, dầu khoáng Petroliumsprayoil,...

Héo khô đầu lá

  • Chồi giống sạch bệnh
  • Quản lý tốt rệp sáp để hạn chế lan truyền bệnh

Luộc lá

Do thiếu Mg, Kali và do hạn hán kéo dài. Bón cân đối NPK, bón phân có chứa Mg (Văn Điển). Giữ ẩm trong mùa khô.

3

 

 

 

Ra hoa- trái

Thối đọt, rễ

Fosetyl aluminium, Metalaxyl, Mancozeb, Dimethomorph, ...

Rệp sáp

Abamectin, Emamectinbenzoate, Dinotefuran, dầu khoáng Petroliumsprayoil,...

Khô mắt nâu

- Bố trí vụ thu hoạch vào trước cuối mùa khô.

- Kasugamycin, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Kasugamycin + Copper Oxychloride, Kasugamycin + Ningnanmycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,…

Thối đen

Bón cân đối NPK, sau khi bón thúc chồi không bón thêm loại phân nào nữa

Chín xanh trái

Do bón quá nhiều đạm. Bón cân đối NPK, không bón phân khi trái đã lớn, thu hoạch và tiêu thụ nhanh

VI. Thu hoạch

          Thời gian thu hoạch quả tốt nhất là khi quả có màu xanh nhạt và 1 – 2 mắt ở gần cuống có màu vàng.

          Quả thu hoạch nên vận chuyển đến nhà máy chế biến hoặc các chợ tiêu thụ trong vòng 24 – 48 giờ. /.

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Quy trình kỹ thuật trồng cải ngọt trên giá thể trong nhà màng áp dụng tưới nhỏ giọtCông nghệ ứng dụngBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtQuy trình kỹ thuật trồng cải ngọt trên giá thể trong nhà màng áp dụng tưới nhỏ giọt/PublishingImages/2019-04/Cây cải ngọt.jpg
Những năm gần đây, nông dân áp dụng kỹ thuật trồng cải trên giá thể trong nhà màng và áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt, đây  là mô hình sản xuất rau  theo công nghệ cao.....
5/1/2019 12:00 PMYesĐã ban hành

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG CẢI NGỌT TRÊN GIÁ THỂ TRONG NHÀ MÀNG ÁP DỤNG TƯỚI NHỎ GIỌT

1. Chuẩn bị nhà màng

Nhà màng được thiết kế với hệ thống cửa áp mái cố định có rèm che, thông gió tự nhiên với chiều cao đến máng nước 4 m, khẩu độ 8 m, bước cột 4 m, chiều cao máng nước 4,75 m. Với mái được lợp bằng màng Polymer và vách xung quanh là các tấm lưới mắt cáo chắn côn trùng gây hại với quy cách 64 lỗ/cm2.


Hình 1. Kiểu nhà màng thông gió cố định


2. Giống

Tùy theo điều kiện và nhu cầu của thị trường có thể chọn giống có hình thức, chất lượng phù hợp với từng địa phương. Hiện nay, sử dụng một số giống cải ngọt thường được trồng là: Cải ngọt cao sản, cải ngọt Trang Nông, cải bẹ trắng, cải ngọt HJ04.

Cây giống khi trồng phải đạt tối thiểu:

- Số ngày gieo ươm: 10 – 12 ngày;
- Chiều cao cây: 3 – 6 cm;
- Đường kính thân: 1 – 2 mm;
- Số lá thật: 1 – 2 lá.
- Tình trạng cây xuất vườn: Cây khoẻ mạnh, không dị hình, không bị giập nát, ngọn phát triển tốt, không có các biểu hiện nhiễm sâu bệnh.
3. Gieo ươm cây con
Sử dụng khay ươm cây để gieo hạt. Khay ươm thường làm bằng vật liệu mút xốp, có kích thước dài 50 cm, rộng 35 cm, cao 5 cm (có 50 lỗ/khay).
Sử dụng mụn xơ dừa, tro trấu và phân trùn quế (1,5 N – 0,5 P2O5 – 0,5 K2O) để làm giá thể gieo hạt với tỷ lệ 70% mụn xơ dừa + 20% phân trùn quế + 10% tro trấu.
Mụn xơ dừa phải xử lý chất chát (tannin) trước khi trồng bằng cách ngâm và xả, thời gian xử lý là 7 – 10 ngày (lúc này nước xả đã trong) thì đem trồng được. Phân trùn quế được xử lý nấm bệnh bằng chế phẩm Tricoderma (Dùng 500 g chế phẩm Tricoderma pha với 150 – 200 L nước cho 5 – 6 khối phân trùn quế rồi tưới hoặc phun xịt đều dung dịch pha lên đống giá thể ủ; ủ bạt để giữ ẩm và giữ nhiệt từ 7 – 10 ngày; định kỳ đảo trộn để đảm bảo bào tử phân tán đều và cung cấp oxy).



Hình 2. (a) Mụn xơ dừa sau khi xử lý tannin và (b) Hồ xử lý mụn xơ dừa

Giá thể được cho vào đầy lỗ mặt khay, sau đó tiến hành gieo 1 hạt/lỗ (hạt không cần ủ). Hằng ngày tưới nước giữ ẩm đảm bảo cho hạt nảy mầm đồng đều, khay ươm được đặt trong nhà ươm có che mưa và lưới chắn côn trùng. Khi hạt nảy mầm và xuất hiện lá thật thứ nhất, tiến hành phun phân bón lá Growmore 30 – 10 – 10 với nồng độ là 1 g/L để cung cấp dinh dưỡng cho cây con. Sau gieo từ 10 – 15 ngày khi cây đã được 2 lá thật thì đem trồng



Hình 3.  Cách vào giá thể ươm hạt

4. Chuẩn bị giá thể trồng

Giá thể tương tự như giá thể gieo ươm cây con (mụn dừa và phân trùn quế được xử lý như trong phần chuẩn bị giá thể gieo ươm cây con). Giá thể phải đảm bảo độ sạch (không nhiễm sâu bệnh hại, vi sinh vật, cỏ dại), độ thông thoáng, không dí chặt và đồng thời cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Giá thể sau khi xử lý được cho vào liếp trồng. Kích thước liếp: Chiều rộng 1,2 m; chiều cao 15 cm, chiều dài tùy kích thước của nhà màng, tốt nhất là 20 – 30 m. Mỗi liếp bố trí 5 đường dây tưới nhỏ giọt, đường kính ống nhỏ giọt là 1,6 cm, lỗ nhỏ giọt cách nhau 20 cm.


             Hình 4. Liếp nổi trên mặt đất                                                              Hình 5. Liếp âm (liếp chìm)

Giá thể trước khi trồng được phân tích các thành phần dinh dưỡng, kim loại nặng và vi sinh vật gây hại.

5. Chuẩn bị hệ thống tưới nhỏ giọt

Trang thiết bị tối thiểu cho một hệ thống tưới nhỏ giọt cần có: Bể chứa dung dịch dinh dưỡng, máy bơm, hệ thống dây dẫn dinh dưỡng, ống PVC, bộ lọc và bộ định giờ (timer và van từ).


Hình 6.(a) Timer hẹn giờ tưới, (b) Bồn chứa dinh dưỡng 2.000 L, (c) Van từ phi 27, (d) Bộ lọc phi 160, (e) Máy bơm cung cấp dinh dưỡng, (f) Ống tưới phi 16

Kiểu lắp đặt và bố trí hệ thống tưới: Bố trí hệ thống tưới theo luống, sử dụng ống tưới nhỏ giọt lỗ cách lỗ 20 cm. Mỗi luống bố trí 5 đường ống tưới, đường tưới này cách đường tưới kia 20 cm, đường ngoài cùng cách mép ngoài luống 10 cm


Hình 7. Bố trí hệ thống tưới theo luống trồng rau ăn lá

6. Khoảng cách, mật độ trồng

Khoảng cách giữa 2 hàng là 20 cm, khoảng cách giữa 2 cây 20 cm và khoảng cách giữa hai hàng trên một hàng đôi là 5 cm.

Mật độ trồng là 50 cây/m2

Thời điểm trồng: Nên trồng vào buổi chiều mát, khi trồng đặt cây nhẹ nhàng để tránh tổn thương cây con, không nén giá thể quá chặt. Trồng hàng đôi và đặt 2 bầu cây ở 2 bên ngay lỗ nhỏ giọt. Sau khi trồng phải tưới nước ngay để cây không bị héo.

Từ 3 – 5 ngày sau trồng tiến hành kiểm tra trồng dặm lại các cây bị chết.


Hình 8. Cách trồng cây rau cải vào luống

7. Chế độ nước tưới và dinh dưỡng

Nưới tưới: Sử dụng nguồn nước sạch, pH nước tốt nhất từ 6,0 – 7,0. Có thể sử dụng nước giếng khoan hay nước sông không nhiễm mặn, phèn, kim loại nặng và vi sinh vật gây hại.

Chế độ dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng đối với cây trồng trên giá thể trong nhà màng. Đây là quy trình trồng trên giá thể nên các yếu tố đa, vi lượng phải cung cấp đầy đủ, kịp thời và theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây.

Loại phân bón sử dụng:Các phân như KNO3, MgSO4, K2SO4, (NH4)2SO4, (NH2)2CO, KH2PO4, Ca(NO3)2 thường được hòa tan vào nước thành dung dịch dinh dưỡng tưới cây. Trong các loại phân này phải đảm bảo chứa đủ các nguyên tố cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Đó chính là K, N, P, S, Ca, Mg. Đa số các loại phân bón này là phân vô cơ, dễ tan trong nước, chúng thường ở dạng rắn (dễ bảo quản hơn so với phân dạng lỏng).

Bảng 1. Thành phần và nguồn gốc các loại phân bón sử dụng


Loại phân

 

Thành phần

Nguồn gốc

 

 

 

 

Potassium nitrate [KNO3]

14

N và 37% K

Jordan

Monopotassium phosphate [KH2PO4]

     23% P và 28% K

Trung Quốc

Calcium nitrate [Ca(NO3)2·4H2O]

16%

N và 20% Ca

Jordan

Potassium sulfate [K2SO4]

43,3% K

Trung Quốc

Magnesium sulfate [MgSO4·7H2O]

11% Mg

Trung Quốc

Manganese sulfate [MnSO4·4H2O]

28% Mn

Trung Quốc

Solubor[H3B3]

20,5% B

Đức

Zinc sulfate [ZnSO4]

36%

Zn

Trung Quốc

Copper sulfate [CuSO4.5H2O]

25%

Cu

Trung Quốc

Sodium molybdate [Na2MoH2O]

39,6% Mo

Đức

Chelated sắt

11%

Fe

Trung Quốc

 

 

 

Lượng dinh dưỡng cho cải ngọt được thực hiện như sau:

 

Bảng 2. Lượng dinh dưỡng cho rau cải ngọt được thực hiện như sau:

 

 

 

 

Tên phân bón

Liều lượng (g/1.000 L)

 

KNO3

 

200

 

KH2PO4

 

230

 

MgSO4

 

540

 

Ca(NO3)2

 

900

 

URE

 

80

 

 

 

 

 


Nồng độ phân vi lượng bổ sung: B: 0,3 – 0,5 mg/L; Mn: 0,3 mg/L; Fe: 2 – 3 mg/L;

Mo: 0,05 mg/L; Cu: 0,1 – 0,5 mg/L; Zn: 0,3 mg/L. pH cho dịch tưới từ 6 – 6,8.

Sau khi trồng khoảng 1 – 2 ngày thì tưới dinh dưỡng với liều lượng 3 – 4 L/m2/ngày. Sau 7 ngày thì tiến hành tưới nước và dinh dưỡng với liều lượng 5 – 7 L/m2/ngày. Mỗi ngày tưới 2 lần sáng và chiều (mỗi lần tưới 15 phút). Trong quá trình chăm sóc tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và tình hình sinh trưởng của cây có thể tưới thêm nước để đảm bảo cây sinh trưởng tốt.

Trước thu hoạch 5 ngày thì ngừng tưới dinh dưỡng để đảm bảo hàm lượng Đạm nitrat trong rau ở dưới mức cho phép (theo Quyết định số 867/1998/QĐ – BYT của Bộ Y tế).

8. Chăm sóc

Sau khi trồng 7 – 10 ngày tiến hành vun gốc giúp cây đứng vững trên giá thể và tỉa bỏ cây xấu, mỗi lỗ nhỏ giọt chỉ trồng 2 cây 2 bên lỗ.

9. Phòng trừ sâu bệnh hại

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) để phòng trừ một số loài sâu, bệnh thường gây hại trên cải ngọt là bọ nhảy, sâu ăn tạp (sâu khoang), sâu tơ, bệnh chết cây con, thối nhũn, sương mai, đốm lá,.... Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải đảm bảo nguyên tắc 4 đúng, nên sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học.Trong trường hợp đặc biệt như mật độ sâu rất cao, thuốc sinh học không cókhả năng khống chế thì có thể sử dụng thuốc hóa học ít độc, nhanh phân giải và có thời gian cách ly ngắn để phòng trừ. Đảm bảo thời gian cách ly theo hướng dẫntrên nhãn thuốc.

9.1 Bệnh lỡ cổ rễ, chết cây con (Do các nấm Pythium sp., Rhizoctonia solani)

Thời gian phát sinh, phát triển: Bệnh phát sinh phá hại từ khi cây con mới mọc, phổ biến nhất là giai đoạn cây được đôi lá đầu tiên đến khi cây có đôi lá thứ ba.

Triệu chứng: Ở cổ rễ cây con chỗ gần mặt đất bị thối nhũn, tóp lại, màu nâu, cây ngã gục trong khi lá non vẫn còn xanh, sau vài ngày cây khô héo. Bộ rễ cây thường bị thối đen. Nấm bệnh phát triển nhanh trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao.

Biện pháp phòng trừ:

Luân canh cây trồng với cây khác họ để tiêu diệt nguồn bệnh.
Sử dụng phân hữu cơ ủ hoai mục với nấm Trichoderma dòng trừ nấm bệnh hoặc phân hữu cơ vi sinh.
Nếu thấy bệnh xuất hiện nhiều trên vườn ươm cần phòng trừ trước khi nhổ cấy ra ruộng bằng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất sau: Validamycin, Fosetyl Aluminium, Propineb, Azoxystrobin,… Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
9.2 Bệnh thối lá, thối bẹ (Do các nấm Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii)
Thời gian và điều kiện phát sinh, phát triển bệnh: Bệnh xuất hiện rất sớm, thường gây hại trên những chân đất khó thoát nước, bệnh gây hại nặng trong mùa mưa.

Triệu chứng: Đầu tiên phần gốc thân gần mặt đất, phần đầu lá hoặc gần cuống lá bị tái xanh như nhúng vào nước sôi, sau đó thối rã có khi chỉ còn trơ lại cuống lá. Nếu bị nhiễm bệnh sớm thì toàn bộ cây bị thối nhũn và chết rụi như bị dư nước nên còn gọi là bệnh chết yểu. Trên lá hoặc phần gốc thân sát mặt đất có tơ nấm hoặc hạch nấm màu trắng hoặc đen trên bề mặt vết bệnh


Biện pháp phòng trừ: 7 – 10 ngày sau khi mọc hoặc trồng (khi bệnh chớm xuất hiện): Sử dụng Trichoderma sp. dòng đối kháng trừ nấm bệnh (Vi – ĐK, Biopus, Tricô –ĐHCT, NLU-Tri,...) với liều lượng 1,2 kg/1.000 m2, hòa 5 g chế phẩm trong 10 lít nước tưới vào gốc. Có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất sau Iprodione, Validamycin, Ningnanmycin, Fosetyl Aluminium, Propineb, Azoxystrobin,… Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.

9.3 Bệnh thối nhũn (Do vi khuẩn Erwinia carotovora)

Triệu chứng: Bệnh thường xuất hiện từ đỉnh sinh trưởng của cây rồi lan dần ra các lá xung quanh, vết bệnh úng rồi mềm nhũn rất nhanh làm thối rữa các mô bên trong, sau đó cả ngọn và các bẹ lá bị thối mềm, có mùi hôi. Ban đầu vết bệnh có màu nâu rồi chuyển qua đen. Bệnh được phát hiện sớm nhờ một số lá có triệu chứng héo chóp lá vào buổi trưa và sẽ hồi xanh lại vào buổi chiều mát.



Biện pháp phòng trừ:

- Sử dụng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất như: Kasugamycin, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Kasugamycin + Copper Oxychloride, Kasugamycin + Ningnanmycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,…. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
- Các loại chế phẩm Bacillus, Pseudomonas sử dụng vào giai đoạn sắp thu hoạch.
9.4 Bệnh sương mai (Do nấm Peronospora parasitica)
Thời gian phát sinh phát triển bệnh: Bệnh phát sinh phá hại từ khi cây con mới mọc đến khi thu hoạch.
Triệu chứng: Bệnh làm chết cây con. Trên cây lớn vết bệnh là những đốm tròn hoặc bất định trên lá, màu vàng nâu. Mặt dưới lá chỗ vết bệnh có lớp mốc trắng như sương. Bệnh còn làm thối cây trong khi bảo quản.
Biện pháp phòng trừ:
  • Luân canh cây trồng với cây khác họ để tiêu diệt nguồn bệnh, có hiệu quả khi luân canh với cây lúa nước.
  • Sử dụng phân hữu cơ ủ hoai mục kết với nấm Trichoderma dòng đối kháng trừ nấm bệnh hoặc phân hữu cơ vi sinh.
  • Khi bệnh xuất hiện ngắt bỏ tiêu hủy lá và cây bị bệnh,  có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất như Dimethomorph, Propineb, Azoxystrobin, Chlorothalonil, Copper Hydroxide, Difenoconazole, Chlorothalonil + Mandipropamid, Copper Oxychloride + Zineb, … Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
9.5 Bệnh đốm lá do vi khuẩn
  • Triệu chứng: Bệnh do vi khuẩn gây ra và có 2 dạng
  • Dạng 1: Do vi khuẩn Xanthomanas campestris gây ra. Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ như đầu kim, đường kính 1 – 2 mm, hình bất định, màu xanh vàng. Mặt dưới lá có thể thấy giọt dịch vi khuẩn vào những ngày ẩm ướt. Mô lá chuyển dần từ màu vàng, bạc trắng, lõm xuống, quanh vết bệnh có màu nâu đậm.
Dạng 2: Do vi khuẩn Pseudomonas sp. gây ra. Vết bệnh đi từ mép lá vào, màu vàng nhạt, sau đó vết bệnh lớn dần ăn sâu vào trong tạo thành dạng chữ V rất điển hình. Bệnh phát triển mạnh làm bộ lá bị cháy, chóng tàn, giảm năng suất.
Biện pháp phòng trừ:
- Kiểm tra thường xuyên, ngắt bỏ các lá già, lá bị bệnh cho ruộng thông thoáng, giảm nguồn bệnh.
- Có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất như Copper Hydroxide , Oxolimic acid, Salicylic Acid, Kasugamycin + Copper Hydroxide, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid, … Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
9.6 Bọ nhảy (Phyllotetra striolata)

Đặc điểm nhận diện: Trưởng thành màu đen, trên cánh có 8 chấm lõm dọc cánh và 2 mãng màu vàng nhạt hình củ lạc chiếm gần hết cánh. Ấu trùng màu vàng nhạt, hình thuôn có 3 đôi chân phát triển.

Triệu chứng gây hại:

Trưởng thành ăn lá tạo thành những lỗ thủng nhỏ li ti, khi mật độ cao có thể ăn hết phần thịt lá chỉ để lại gân lá xơ xác. Khác với sâu tơ, ở đây các vết thủng gọn gàng hơn và mép lá bị ăn khuyết nhiều.  

             Sâu non gặm ăn phần rễ non và thân ngầm dưới mặt đất tạo thành những đường lõm ngoằn ngoèo trên bề mặt hay tạo thành những lỗ sâu. Khi mật độ sâu non cao có thể ăn hết rễ làm cho cây bị héo, rất dễ nhầm lẫn với một số bệnh gây hiện tượng héo cây.

Phòng trừ:

  • Vệ sinh nhà màng để tiêu diệt ký chủ trung gian.
  • Thường xuyên kiểm tra, chú ý giai đoạn cải còn nhỏ.
  •  Luân canh hoặc xen canh: Ngò rí, húng quế, hành lá, dưa leo.
  • Sử dụng bẫy: Chừa 1 diện tích nhỏ rau cải cuối vườn thu hút bọ nhảy, phun thuốc trừ sâu để diệt. Phun vào buổi chiều sau 17 giờ.
  • Sâu non bọ nhảy sống ở rễ sau mỗi vụ, vệ sinh sạch tàn dư và giá thể trồng sau khi thu hoạch. Sử dụng vôi bột có hàm lượng CaO 60% hoặc đá vôi để xử lý.
Có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất như Chlorantraniliprole, Matrine, Spinosad, Garlic juice, Rotenone + Saponin, …. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.

9.7 Sâu khoang, sâu ăn tạp (Spodoptera litura)
Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại: Trưởng thành màu xám nâu. Bướm đẻ trứng trên lá, cành và gân lá thành từng ổ bằng hạt đậu, có lông tơ bao phủ màu vàng rơm. Khi mới nở, sâu ăn lá tại chổ, khi lớn sâu di chuyển ăn mọi bộ phận của cây hành và tàn phá nhanh chóng. Sâu phá hại mạnh vào ban đêm, ban ngày ẩn trong đám lá, bụi cỏ hoặc trong đất. Sâu làm nhộng trong đất, gây hại trong suốt vụ trồng. Ấu trùng có 6 tuổi, trên dọc phiến lưng có 3 vệt kéo dài từ đầu xuống hậu môn. Vệt giữa lưng có màu vàng da cam. Hai vệt bên có đoạn vàng ngắn và đoạn trắng dài hơn so với vệt giữa lưng. Đỉnh đầu của ấu trùng có hình chữ "V".
Biện pháp phòng trừ:
- Thường xuyên kiểm tra, ngắt ổ trứng, dùng bẫy chua ngọt diệt bướm hoặc sử dụng đèn.
  • Sử dụng bẫy Pheromon giới tính để diệt bướm.
Phát hiện sớm sâu non mới nở chưa phân tán có hiệu quả phòng trừ rất cao, có thể dùng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất như Spinosad, Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Cyromazine, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin,… để phun. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
9.8 Sâu tơ hại cải
 Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại:
  • Bướm nhỏ, màu nâu xám, trên cánh có nhiều sọc ngang gãy khúc. Đời sống của bướm ngắn (1 tuần) và đẻ 100 – 200 trứng trên các lá non của đọt cải. Trứng hình bầu dục, màu trắng ngà, nở sau 4 – 5 ngày. Ấu trùng màu hồng, đầu đen, thời gian phát triển lâu (10 ngày). Nhộng màu đỏ nâu, phát triển 6 – 8 ngày.

-  Sâu non tuổi 1 ăn nhu mô dưới biểu bì lá, sang tuổi 2 gặm ăn mặt dưới  lá, để lại lớp biểu bì mặt trên lá, tạo thành những đốm trong mờ. Cuối tuổi 2 sâu gặm lá thành những lỗ thủng. Sâu gây hại thường để lại các gân lá. Cây con bị hại chậm lớn và có thể bị chết. 

Phòng trừ:                                                                                            

          - Luân canh cải với hành lá, cây gia vị ngò ri, húng quế,…

          - Sử dụng các loài thiên địch bắt mồi như nhện bắt mồi, ong ký sinh,… thả vào nhà màng để diệt sâu.

       - Thường xuyên kiểm tra vườn cải để phát hiện sớm khi sâu vừa xuất hiện, còn ở ngoài lá chưa chui vào trong đọt cải phá hại, có thể dùng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất như: Spinosad, Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Cyromazine, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin, Flubendiamide, … để phun. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.

 

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và biện pháp phòng trừ:

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ

Vườm ươm

 

Bệnh lỡ cổ rễ, chết cây con

- Sử dụng phân hữu cơ ủ hoai mục với nấm Trichoderma dòng trừ nấm bệnh.

- Sử dụng hoạt chất Validamycin, Fosetyl Aluminium, Propineb, Azoxystrobin,… phun

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trồng

 

Thối nhũn

Kasugamycin, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Kasugamycin + Copper Oxychloride, Kasugamycin + Ningnanmycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,….

 

Đốm lá vi khuẩn

Copper Hydroxide, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Kasugamycin + Copper Hydroxide, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid,…

Sương mai

Dimethomorph, Propineb, Azoxystrobin, Chlorothalonil, Copper Hydroxide, Difenoconazole, Chlorothalonil + Mandipropamid, Copper Oxychloride + Zineb, …

Bọ nhảy

Chlorantraniliprole, Matrine, Spinosad, Garlic juice, Rotenone + Saponin,…

 

Sâu ăn tạp

Spinosad, Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Cyromazine, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin,…

 

Sâu tơ

Spinosad, Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Cyromazine, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin, Flubendiamide, …


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

10. Thu hoạch, đóng gói, bảo quản

Tiến hành thu hoạch khi rau cải ngọt đã đủ tuổi (khoảng 25 – 30 ngày sau trồng), không để rau ra ngồng làm mất giá trị thương phẩm, đảm bảo thời gian cách ly sau khi phun thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học ít nhất là 7 ngày. Loại bỏ các lá già, héo, bị sâu, dị dạng. Tùy theo hình thức kinh doanh có thể áp dụng quy trình sơ chế đóng gói trước khi tiêu thụ.

Thiết bị thùng chứa và vật liệu tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm phải được làm từ những chất không độc hại, đảm bảo sạch sẽ và không nên quá lớn.

Trước khi dùng bao bì đóng gói: Loại bỏ các cây rau bị sâu bệnh, dập. Việc ghi nhãn theo quy định tại quyết định 178/199/QĐ/TTG ngày 20/09/1999 của Thủ tướng chính phủ về quy chế ghi nhãn mác hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và thông tư số15/2000/TT/BTY ngày 30/06/2000 của Bộ Y tế hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa thực phẩm. Trường hợp đóng gói tại nhà sơ chế cần phân loại các loại trái, bỏ những trái xấu hoặc quá chín. Đóng gói trong bao bì sạch có lỗ thông hơi. Bảo quản nơi thoáng mát hoặc ở nhiệt độ thấp nếu đóng gói trong bao bì kín.

11. Vận chuyển

Cần kiểm tra các phương tiện vận chuyển trước khi xếp thùng chứa sản phẩm, đảm bảo sạch sẽ.

Sản phẩm cần được bảo vệ trong quá trình vận chuyển nhầm đảm bảo chỉ tiêu về chấtlượng và hình thức rau đạt VietGAP.

12. Ghi chép dữ liệu

Ghi chép đầy đủ dữ liệu trong sổ tay ghi chép để dễ dàng kiểm tra và giải quyết sự cố xảyra như: Điều kiện thời tiết mưa nắng; Ngày làm đất cách xử lý đất; Tên giống ngày mua, ngày gieo trồng, ngày tỉa cây; Ngày bón phân, phun thuốc, loại thuốc, loại phân; Tưới nước, nhỏ cỏ vàcác chăm sóc khác; Ngày thu hoạch, diện tích thu hoạch, số lượng thu hoạch; Những sự cố, vấn đề xảy ra trong suốt quá trình trồng, thu hoạch, vận chuyển./.

Chi cục Trồng trọt và BVTV


Quy trình kỹ thuật sản xuất cây khổ qua theo tiêu chuẩn VietGAPNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtQuy trình kỹ thuật sản xuất cây khổ qua theo tiêu chuẩn VietGAP/PublishingImages/2019-04/cây Khổ qua.jpg
Khổ qua tương đối dễ trồng không kén đất, thích hợp pH = 6, đất thịt nhẹ, pha cát. Khổ qua sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 20 – 300C lượng mưa 1.500 – 2.000 mm nên có thể trồng quanh năm, tuy nhiên thích hợp nhất ở vụ Đông xuân
5/1/2019 11:00 AMYesĐã ban hành

QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY KHỔ QUA THEO TIÊU CHUẨN VIETGAP 

1. Thời vụ

Khổ qua tương đối dễ trồng không kén đất, thích hợp pH = 6, đất thịt nhẹ, pha cát. Khổ qua sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 20 – 300C lượng mưa 1.500 – 2.000 mm nên có thể trồng quanh năm, tuy nhiên thích hợp nhất ở vụ Đông xuân. 

Vụ hè thu: Gieo tháng 5 – 6, thu hoạch tháng 7 – 8 dương lịch. Vụ hè thu năng suất cao nhưng thuờng bị ruồi đục trái phá hại.

Vụ mùa: Gieo tháng 7 – 8, thu hoạch tháng 9 – 10 dương lịch, do mưa nhiều cây có nhiều cành lá sum xuê, cho ít hoa trái. Trong thời kỳ trổ bông nếu gặp mưa liên tục vào buổi sáng thì cây đậu trái kém hoặc trái non dễ bị thối.

Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10 – 11 dương lịch, đây là vụ chính, thường có bọ trĩ, bọ phấn trắng, nhện đỏ và bệnh sương mai (đốm phấn) phát triển mạnh, thường xuyên thăm đồng để có biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

Vụ Xuân Hè: Gieo tháng 1 – 2 dương lịch, thu hoạch 3 – 4 dương lịch. Đây là vụ gieo trồng có thời tiết khắc nghiệt nhất trong năm, lượng nước bốc thoát qua mặt đất và lá khổ qua nhiều, nếu không tưới đủ nước cây sinh trưởng kém thân ngắn, lá nhỏ, hoa trái ít và cho năng suất thấp. Đồng thời nhóm côn trùng chích hút cũng xuất hiện nhiều, do đó cần thăm đồng thường xuyên để có biện pháp xử lý kịp thời.

2. Giống

Giống được trồng phổ biến hiện nay là giống giống lai F1 241, 242, TN 169, Tiểu Muội; SG 4,1; SG 4,2; TN8; 63 Chia tai; 59 CT do các công ty Giống cây trồng Miền Nam, Đông Tây, Trang Nông,…phân phối.

3. Ngâm ủ và gieo hạt

Hạt giống trước khi gieo ngâm trong nước ấm (3 sôi – 2 lạnh) từ 4 – 5 giờ, vớt ra rửa sạch nhớt để ráo và ủ cho nhú mầm mới đem gieo.

Hạt giống trước khi gieo cần được xử lý hoá chất bằng Rovral 2%, ta trộn đều 2g thuộc bột Rovral với 1kg hột giống trong vòng 15 phút. Lượng hạt cần để trồng 1.000 m2 là 1,5 kg. Có 2 cách gieo hạt như sau:

Cách 1: Gieo hạt Khổ qua thẳng trên luống, gieo 1 2 hạt/lỗ. Lỗ gieo sâu từ 1 1,5 cm, lấp hạt bằng phân chuồng hoai hoặc tro trấu. Sau 7 ngày sau gieo tiến hành tỉa bỏ bớt những cây sinh trưởng kém chỉ để lại 1 cây khoẻ mập. Nếu muốn lấy trái to thì chừa lại 1 cây /1 lỗ; nếu muốn lấy nhiều trái nhưng trái nhỏ thì chừa lại 2 cây/lỗ (lúc gieo hạt nên thêm một số hạt vào bầu đất để trồng dặm về sau).

Cách 2: Ngâm hạt trong nước ấm (pha 3 sôi, 2 lạnh) từ 3 5 giờ, loại bỏ hạt lép rồi vớt hạt ra, ủ hạt bằng khăn ẩm, ủ thành từng lớp mỏng. Sau mỗi 12 giờ đem hạt ra rửa lại bằng nước ấm. Khi thấy hạt nứt mầm thì đem gieo. Những hạt chưa nứt mầm thì rửa hạt bằng nước ấm và tiếp tục ủ lại. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi hạt nảy mầm hết.

4. Chuẩn bị đất

Đất được dọn dẹp sạch cỏ dại.

Khổ qua  trồng được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng kết cấu đất phải tơi xốp, thoáng khí, tốt nhất là loại đất thịt pha cát. Đất được cày xới, dọn dẹp sạch cỏ, phơi đất 7-10 ngày trước khi trồng.

5. Lên liếp và phủ bạt

Lên liếp rộng 1,5 – 1,7 m, cao 20 – 30 cm (Mùa mưa).

Phủ bạt: Tiến hành căng màng phủ bằng plastic giúp giữ ẩm, hạn chế cỏ dại,…(Mặt đen ở dưới, mặt có màu ánh bạc ở trên) theo chiều dài của luống, kéo bìa màng phủ xuống sát mép rãnh để khống chế cỏ mọc, lấy tre làm thành chiếc đủa ghim màng phủ lại, tránh gió bay. Đục lổ để gieo hạt, mỗi lổ cách nhau 0,55m.

6. Khoảng cách trồng và mật độ

Khoảng cách trồng:

- Mùa mưa: 1,4 m x 0,5 – 0,6 m

- Mùa nắng: 1,2 – 1,3 m x 0,4 – 0,5 m

Mật độ trồng: 1.300 – 1.600 cây/1.000 m2

7. Bón phân

Lượng phân thay đổi tuỳ loại đất. Lượng phân trung bình để bón cho 1.000 m2 như sau:

Lượng nguyên chất (kg/1.000 m2): 198 N – 168 P2O5 – 180 K2O.

Lượng phân thương phẩm tương ứng:

- Phân chuồng:  2 tấn

- Vôi:30 – 50 kg
- Super lân:50 kg
- Urê:24 kg
- DAP:5 kg
- KCl:26 kg

- NPK (16 – 16 – 8): 30 kg

Cách bón:
- Bón lót: Toàn bộ vôi + toàn bộ phân chuồng + toàn bộ super lân + 12 kg NPK (16 – 16 – 8) + 12,5 kg KCl
- Bón thúc: 8 lần, định kỳ 19 ngày bón 1 lần

Lần 1 (10 NSG): 3 kg urê + 2,5 kg DAP

Lần 2 (20 NSG): 3 kg urê + 2,5 kg DAP

Lần 3 (30 NSG): 4 kg urê + 3 kg KCl

Lần 4 (40 NSG): 4 kg urê + 3 kg KCl

Lần 5 (50 NSG): 4 kg urê + 3 kg KCl

Lần 6 (60 NSG): 2 kg urê + 6 kg NPK (16 – 16 – 8) + 1,5 kg KCl

Lần 7 (70 NSG): 2 kg urê + 6 kg NPK (16 – 16 – 8) + 1,5 kg KCl

Lần 8 (80 NSG): 2 kg urê + 6 kg NPK (16 – 16 – 8) + 1,5 kg KCl
Cách bón thúc: Bón phân theo sự phát triển của bộ rễ. Mỗi lần bón, có thể dùng 1 trong các cách sau như mở một bên bạt phủ liếp, rải dọc theo hàng khổ qua; đục lỗ nhỏ bạt phủ giữa hai gốc; rạch hàng để bón hoặc phủ lớp đất mỏng hay hữu cơ để giữ cho phân khỏi bay hơi.




Ngoài ra, có thể sử dụng thêm các loại phân bón lá để tăng cường sức sinh trưởng của cây, nhất là giai đoạn cây bắt đầu ra hoa kết trái.

8. Chăm sóc

Tưới nước:
- Nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Cần sử dụng nước sạch để tưới, nếu có điều kiện nên phân tích nguồn nước đạt chất lượng, không bị ô nhiễm; tốt nhất sử dụng nước giếng khoan không nhiễm phèn, có thể sử dụng nước sông, ao hồ không bị ô nhiễm để tưới. Mùa nắng tưới nước 1 ngày 2 lần vào buổi sáng và chiều, mùa mưa có thể tưới một lần hoặc cách ngày, tùy lượng mưa.
- Tăng cường lượng nước tưới và diện tích tưới xung quanh gốc cây lớn, nhất là thời kỳ ra hoa và có trái rộ, nếu thiếu nước sẽ làm cho hoa, trái bị rụng nhiều. Cần thoát nước tốt trong mùa mưa để tránh bị ngập úng, làm hư hại rễ cây.
- Tưới nước ngay sau khi trồng và sau khi bón phân.
Tỉa dây, bấm ngọn
Tuỳ đặc tính của từng giống, có thể bấm ngọn và tỉa dây cho thích hợp (thực hiện vào lúc trời nắng ráo).
Với giống ra nhánh sớm ngay từ nách lá đầu tiên, có thể tỉa bớt 2 – 3 nhánh đầu để tạo sự thông thoáng gốc.
Làm giàn bằng cách dùng cây cắm làm trụ, sau đó giăng lưới nylon. Cũng có thể làm giàn bằng cách cắm chà hình mái nhà, hình chữ X hoặc cắm chà cây ít bị sâu bệnh hơn nhờ thông thoáng hơn.
Khổ qua cho trái trên cả dây chính và nhánh nên càng nhiều dây thì càng nhiều trái cho nên với giống ra nhánh chậm và ít nhánh, có thể bấm ngọn để tăng khả năng ra nhánh cho cây. Muốn thu hoạch tập trung thì bấm ngọn khi cây có khoảng 6-7 lá thật.
Do cây có khả năng cho ra trái liên tục, nên có thể tỉa bỏ những trái bị sâu hại và dị dạng để chất dinh dưỡng tập trung nuôi trái tốt.
Tỉa bỏ những cây phát triển không tốt, ngắt bỏ lá bệnh, bỏ bớt là già, tạo thông thoáng. Nhổ bỏ cây bị bệnh và tiêu hủy, nên nhổ vào trời nắng ráo.
Cỏ dại
Các loại cỏ dại thường gặp: Cỏ lá hẹp: Cỏ chỉ, mần trầu; Cỏ lá rộng: Dền gai, màng màng, rau sam, cây ráy; Cỏ cói lác: Cỏ cú, cỏ chác,…
Phòng trị cỏ dại
Làm vỡ đất (cày, cuốc), phơi nắng từ 7 – 14 ngày và sau đó bừa cho đất tơi xốp từ (1 –2 lần).
Gom cây và rễ cỏ trong khu vực trồng để thiêu hủy.
Diệt cỏ dại bằng tay hoặc bằng hóa chất, vệ sinh ruộng trước khi trồng và kết thúc vụ.
Phun thuốc trừ cỏ Dual Gold 960EC (S – Metolachlor), phun 1 lần trước khi trồng cho cả vụ.
9. Phòng trừ cỏ dại và sâu bệnh
Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) để phòng trừ sâu bệnh hại trên khổ qua.
9.1 Bệnh thán thư (Do nấm Colletotrichum lagenarium)
Thời gian và điều kiện phát sinh, phát triển: Bệnh phát sinh, phát triển trong điều kiện nóng, ẩm, mưa nhiều. Bào tử lây lan chủ yếu do mưa. Gây hại từ khi cây bắt đầu ra hoa đến khi thu hoạch. Mầm bệnh có thể lưu tồn trong xác bả thực vật hay bám trên bề mặt hạt giống.
Triệu chứng:
Trên lá: Vết bênh hình tròn màu vàng nhạt có đồng tâm, về sau có màu nâu sẫm. Vết bệnh trông rất giống vết bệnh "đốm lá – chảy nhựa thân". Điểm phân biệt là trên đốm bệnh đều có sự xuất hiện của các thể nhỏ li ti màu đen đó là các đĩa đài (cơ quan sinh sản vô tính hình đĩa, acervuli) của nấm gây bệnh. Khi trời khô, các vết bệnh rách tạo thành những lổ thủng trên lá.
Trên trái, mới chớm bệnh, vết bệnh hình tròn, lõm màu vàng sau đó chuyển sang nâu, bệnh nặng làm trái bị biến dạng.
Trên dây, vết bệnh màu nâu sẫm, về sau chuyển qua màu xám, dây khô rồi chết. Trong điều kiện ẩm ướt, trên bề mặt vết bệnh có lớp nấm màu hồng nhạt.
Biện pháp phòng trừ:
- Luân canh với cây trồng khác để tiêu diệt nguồn bệnh.
- Thu gom lá, dây, trái bị bệnh đem tiêu hủy sau mỗi vụ gieo trồng. Hạn chế có dại, giữ cho ruộng thông thoáng.
- Xử lý đất trước khi trồng bằng vôi bột có hàm lượng CaO 60% hoặc đá vôi với lượng 60 kg/1.000 m2.
- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, nhất là trong điều kiện mùa mưa, phát hiện bệnh sớm và phòng trị kịp thời bằng thuốc BVTV có một trong các hoạt chất sau: Citrus oil, Cytosinpeptidemycin, Difenoconazole, Azoxystrobin, Metominostrobin, Chaetomium sp. + Tricoderma sp.; Azoxystrobin + Difenoconazole,… Trong đó ở giai đoạn thu trái nên sử dụng hoạt chất sinh học như Cytosinpeptidemycin, Chaetomium sp. + Tricoderma sp. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.
9.2 Bệnh sương mai (do nấm Pseudoperonospora cubensis)
Thời gian và điều kiện phát sinh, phát triển bệnh: Bệnh gây hại từ khi cây có 3 – 4 lá thật đến khi thu hoạch. Bệnh thường xuất hiện gây hại trên lá già. Bệnh thường phát triển trong điều kiện độ ẩm cao, mưa nhiều hoặc ban đêm có nhiều sương.

Triệu chứng: Vết bệnh ban đầu chỉ là những chấm nhỏ không màu hoặc màu xanh nhạt sau chuyển qua xanh vàng đến nâu nhạt, vết bệnh hình tròn, đa giác hoặc hình bất định. Vết bệnh nằm rải rác trên lá hoặc dọc các gân lá, vết bệnh có góc cạnh không định hình, mặt dưới chổ vết bệnh hình thành một lớp mốc màu trắng xám sau đó chuyển sang màu vàng tím đó là cành và bào tử phân sinh của nấm gây bệnh. Khi bệnh nặng các vết bệnh liên kết lại tạo thành vệt lớn gây rách nứt các mô tế bào bị bệnh, lá bị vàng biến dạng, trái nhỏ chất lượng kém, cây phát triển yếu và chết.

Biện pháp phòng trừ:

- Làm liếp cao, thoát nước tốt (mùa mưa).Trồng mật độ vừa phải. Bón phân đầy đủ, cân đối, không bón nhiều phân đạm. Dùng màng phủ nylon để lá không tiếp xúc trực tiếp với mặt đất.

- Tiêu diệt triệt để nguồn bệnh từ tàn dư thân, lá bệnh, làm tốt vệ sinh đồng ruộng ngay sau khi thu hoạch, ngâm nước ruộng một thời gian để diệt nấm.

- Chọn giống tốt, trồng các giống lai F1, tăng cường chăm sóc cây sinh trưởng kho mạnh.

- Xử lý hạt giống trước khi gieo như phần trên.

+ Giai đoạn 7 và 14 ngày sau trồng: Dùng nấm sinh học Trichoderma dòng đối kháng trừ nấm bệnh (Vi – ĐK, Biopus, Tricô –ĐHCT, NLU-Tri,...) với liều lượng 1,2 kg/1.000 m2, hòa nước tưới vào gốc.

+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện bệnh sớm và phòng trị kịp thời ; trong đó:

<> Giai đoạn trước 30 ngày sau trồng: có thể phun từ 1 – 2 lần thuốc hóa học có hoạt chất như Difenoconazole, Metominostrobin, Azoxystrobin, Chlorothalonil, Metalaxyl, Zineb, Azoxystrobin + Difenoconazole,… khi bệnh mới xuất hiện, chú ý phun mặt dưới lá. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.

<> Giai đoạn cho trái, thu hoạch: Sử dụng hoạt chất sinh học như Cytosinpeptidemycin, Chaetomium sp. + Tricoderma sp., Acrylic acid + Carvacrol,… Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc.

9.3 Bệnh héo vàng (Do nấm Fusarium oxysporium gây ra)


Thời gian phát sinh, phát triển bệnh: Xảy ra trong suốt giai đoạn trồng. Bệnh phát triển mạnh ở nhiệt độ từ 24 – 270C, đất hơi chua (pH: 4,5 – 5,8)

Triệu chứng và cơ chế: Nấm xâm nhập phá hại gốc cây làm gốc và rễ bị thối đen. Cây còn nhỏ thì bị héo như mất nước và chết từ đọt. Cây lớn, lúc đầu có biểu hiện sinh trưởng kém, sau đó các lá biến vàng từ gốc trở lên, cây bị héo từng nhánh, cuối cùng cả cây héo chết.

Biện pháp phòng trừ

- Làm đất kỹ, lên liếp cao và thoát nước tốt, nếu đất chua cần bón thêm vôi.

- Không trồng liên tục nhiều vụ trên một chân ruộng, nên luân canh với cây trồng khác họ (lúa nước).

- Sử dụng phân chuồng hoai kết hợp nấm Trichoderma dòng trừ nấm bệnh.

- Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây bị bệnh nặng.

- Có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất Mancozeb + Metalaxyl để phun ở giai đoạn trước 30 ngày sau trồng.

9.4 Bệnh héo xanh (Do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum)

Điều kiện phát sinh, phát triển: Xảy ra trong suốt giai đoạn trồng. Nhiệt độ thích hợp để bệnh phát triển từ 30 – 350C và pH đất khoảng 6,6.

Triệu chứng: Cây đang sinh trưởng bình thường thì đột nhiên bị héo trong khi các lá vẫn còn xanh. Hiện tượng héo xảy ra ban ngày khi trời nắng, ban đêm cây xanh lại, sau 2 – 3 ngày như vậy cây không phục hồi được nữa và chết.


Bệnh héo xanh

Biện pháp phòng trừ:

- Cày phơi ải đất và bón thêm vôi nếu đất chua.

  • Lên liếp cao. Thoát nước tốt, không để ruộng vị đọng nước.
  • Luân canh với cây trồng khác họ, tốt nhất là cây lúa nước.
  • Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây bị bệnh nặng.
  • Có thể sử dụng thuốc BVTV có một trong số hoạt chất như Cytosinpeptidemycin, Kasugamycin, Copper Hydroxide, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Kasugamycin + Copper Hydroxide, Streptomycine sulfate + Kasugamycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid, … Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc và đảm bảo đủ thời gian cách ly của thuốc khi thu hoạch trái.


                         Bọ trĩ                                                                       Rười đục quả

9.5 Ruồi đục lá trên cây khổ qua (Tên khoa học Liriomyza sp.)

Thời gian phát sinh, phát triển: Xuất hiện khi cây có 1-2 lá thật đến khi cây tàn, nhiều nhất là khi cây đang sinh trưởng mạnh, ra nhiều lá.

Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại: Trưởng thành là loài ruồi nhỏ, dài 1,5 – 2,0mm. Màu đen, có vệt vàng trên ngực. Sâu non đục dưới lớp biểu bì thành những đường vòng vèo màu trắng, nhiều vết đục sẽ làm cho lá bị cháy khô, cây sinh trưởng kém, mau tàn lụi, trái nhỏ và ít.

Biện pháp phòng trừ:

- Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, tăng sức đề kháng vượt qua sự phá hại của dòi

- Thường xuyên tỉa, ngắt bỏ những lá bị dòi hại nặng.

- Dùng bẫy màu vàng (thu bắt ruồi trưởng thành), đặt bẫy cách mặt đất 20 – 25cm, khoảng cách 15 – 20m2/bẫy)

- Sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV có hoạt chất: Cyromazine, Spinetoram, Matrine, Oxymatrine. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc và đảm bảo đủ thời gian cách ly của thuốc khi thu hoạch trái.

9.6 Bọ trĩ (Thrip palmi)

Thời gian và điều kiện phát sinh, phát triển: Bọ trĩ xuất hiện gây hại trong suốt vụ trồng, phát triển nhanh trong điều kiện thời tiết nóng và hanh khô.

Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại:

- Trưởng thành hình dạng dài, màu vàng nhạt. Ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi ngà, sống tập trung ở đọt non và dưới mặt lá non.

- Bọ trĩ đẻ trứng trên lá, sâu non và trưởng thành đều hút chất nhựa ở phiến lá, gân lá làm cả lá chuyển màu vàng nâu và biến dạng. Mật độ bọ trĩ cao làm cây cằn cỗi, chùn ngọn, không vươn lóng, lá vàng và khô. Hoa rụng sớm, trái ít và nhỏ.

- Là môi giới truyền bệnh virus cho cây khổ qua.

Biện pháp phòng trừ:

- Dùng bẫy màu vàng (thu bắt trưởng thành của bọ trĩ), đặt bẫy cách mặt đất 20 – 25 cm, khoảng cách 15 – 20m2/bẫy).

- Thường xuyên thăm ruộng, kiểm tra 100 cây/1.000 m2 theo năm điểm chéo góc và trên 1 dây, kiểm tra 5 lá từ ngọn xuống, nếu phát hiện thấy có bọ trĩ trung bình 2 – 3 con /1 lá hoặc đọt non thì phun thuốc phòng trừ bằng các hoạt chất như Spinetoram, Matrine, Abamectin, Petroleum spray oil, Karanjin, Spirotetramat,...

Sử dụng luân phiên các hoạt chất trên theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc và đảm bảo đủ thời gian cách ly của thuốc khi thu hoạch trái.


Sâu xanh sọc trắng ăn lá

9.7 Sâu xanh hai sọc trắng ăn lá (Diaphania indica)

Thời gian phát sinh, phát triển: Sâu phát sinh gây hại từ khi cây còn nhỏ đến khi có trái, nhiều nhất là khi cây bắt đầu ra hoa và có trái non.

Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại:

+ Bướm trưởng thành có chiều dài thân từ 10 – 12 mm, sải cánh rộng từ 20 – 25 mm. Khi đậu xếp cánh hình tam giác có vệt trắng ở giữa, mép cánh có màu nâu đen dọc theo cạnh trước của cạnh trước và cạnh ngoài của cánh trước và cánh sau. Thời gian sống của bướm từ 5– 7 ngày và một bướm cái đẻ từ 150 – 200 trứng.
+ Trứng màu trắng đục, trươc khi nở chuyển thành màu trắng hơi ngả vàng, được để riêng l trên cả hai mặt lá, nhất là đợt và trái non. Thời gian ủ trứng từ 4 – 5 ngày.
+ Sâu non màu xanh lá cây nhạt, có 2 sọc trắng chạy dọc cơ thể rất rõ. Phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, ăn trụi lá, mật độ cao có thể ăn trụi lá chỉ chừa lại gân lá, ngoài ra chúng còn ăn vỏ trái non làm vỏ sần sùi loang lổ, trái thối và rụng. Ấu trùng dài từ 8 – 10 mm. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 10 – 20 ngày. Sâu làm nhộng trong các lá non cuốn lại. Nhộng màu nâu nhạt khi mới hình thành, vài ngày sau chuyển thành màu nâu đen. Thời gian nhộng từ 6 – 7 ngày.
Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh vườn, thu dọn dây khổ qua sau thu hoạch.
- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng phát hiện và diệt sớm các ổ trứng, sâu non, nhộng. Bắt bằng tay khi mới phát hiện sâu với mật số ít.
- Có thể sử dụng hoạt chất như Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Cyromazine, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin, Flubendiamide, Spinosad,... Phun khi sâu non mới nở; dùng luân phiên các hoạt chất trên theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc và đảm bảo đủ thời gian cách ly của thuốc khi thu hoạch trái.
9.8 Rệp mềm (rầy nhớt) (Aphids spp.)
Thời gian phát sinh, phát triển: Rệp xuất hiện gây hại từ khi cây có 2 – 3 lá thật cho đến khi dây khổ qua tàn
Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại:
Cơ thể rệp trưởng thành và rệp non đều rất nhỏ, hình quả lê, mềm, màu sắc thay đổi từ màu vàng đến xanh thẫm hoặc xanh đen tùy theo mùa (mùa đông màu sẫm, mùa hè màu nhạt). 

Rầy mềm

+ Rệp trưởng thành có hai loài, loài có cánh (cơ thể dài 1,2 – 1,8 mm, rộng từ 0,4 – 0,7mm; đầu và ngực máu nâu đen, bụng màu vàng nhạt, xanh nhạt, có khi xanh đậm, phiến lưng ngực trước màu đen. Mắt kép to. Loài không có cánh (cơ thể dài từ 1,5 – 1,9 mm và rộng từ 0,6 – 0,8 mm). Toàn thân màu xanh đen, xanh thẩm và có phủ sáp; một ít cá thể có dạng màu vàng xanh.

 + Ấu trùng và thành trùng tập trung ở mặt dưới lá, nhất là đọt non, bông, chồi hút nhựa, mật độ rệp cao làm làm dây khổ qua chùn đọt, sinh trưởng kém, lá vàng, sau cùng làm cây bị mất sức, lùn và chết.

+ Rầy mềm là môi giới truyền bệnh khảm virus cho cây khổ qua.

Biện pháp phòng trừ:
Giết rệp bằng tay, nhặt, ngắt bỏ và chôn vùi các phần có rệp gây hại.
Không nên bón nhiều phân đạm.
Rầy mềm nhân mật số rất nhanh nên thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện kịp thời và phòng trị đúng lúc.
Khi mật độ rệp cao ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất có thể dùng luân phiên các loại hoạt chất: Matrine, Pymetrozine, Liuyangmycin, Abamectin, dầu khoáng, Etofenprox, ... theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc và đảm bảo đủ thời gian cách ly của thuốc khi thu hoạch trái.
9.10 Ruồi đục trái (Bactrocera cucurbitae (Coquillett))


Ruồi đục quả làm vàng trái

Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại:

Ruồi có hình dáng tương tự ruồi đục trái cây nhưng khác nhau là ở phần ngực có một vạch màu vàng ngay giữa ngực, cánh có màu đục hơn và cánh trước có một vệt màu đậm nằm ngang đầu cánh.
- Trứng hình bầu dục màu trắng bóng. Thời gian ủ trứng từ 2 – 4 ngày
- Dòi màu trắng ngà, đầu nhọn. Thời gian phát triển của dòi từ 7 – 11 ngày
- Nhộng hình trụ, màu vàng khi mới hình thành, nhưng khi sắp vũ hóa có màu nâu, nằm trong đất. Thời gian nhộng từ 8 – 10 ngày. Chu kỳ sinh trưởng của ruồi từ 16 – 23 ngày.
- Ruồi cái đẻ trứng vào bên trong trái thành từng chùm. Dòi nở ra đục lòn thành đường hầm bên trong trái làm cho trái bị hư thối. Khi sắp làm nhộng, dòi buông mình xuống đất làm nhộng dưới mặt đất một lớp không sâu lắm, nhưng trong mùa mưa dòi làm nhộng ngay bên trong trái.
Biện pháp phòng trừ:
- Luân canh các loại cây trồng không phải là ký chủ của ruồi như lúa, cho ruộng ngập nước sẽ tiêu diệt được nhộng nằm trong đất.
- Thường xuyên thu gom các trái hư (bị ruồi đục) để tiêu hủy.
- Dùng Sofri Protein để thu hút ruồi trưởng thành và tiêu diệt.
9.11 Bọ xít
Thời gian phát sinh, phát triển: Bọ xít thường xuất hiện nhiều vào giai đoạn cây ra hoa rộ và tạo trái.
Đặc điểm nhận diện và triệu chứng gây hại:
- Bọ trưởng thành màu nâu sẫm, hình gần như lục giác. Trứng hình trụ, đẻ xếp thành hàng dài trên thân cành, cuống lá. Bọ non hình dạng giống trưởng thành, không cánh, màu nâu đỏ. Bọ non mới nở sống tập trung, sau đó phân tán.
- Bọ trưởng thành và bọ non chích hút nhựa trên cuống lá, cuống nụ, trái non, thân non của cây làm lá bị vàng, trái rụng sớm hoặc nhỏ, méo mó. Mật độ cao làm giảm năng suất và chất lượng trái.
Biện pháp phòng trừ:
- Dùng tay giết bọ xít bám trên cây.
- Có thể dùng thuốc BVTV có hoạt chất như Matrine, Petroleum spray oil, Clothianidin, Etofenprox, Pymetrozine,… phun trực tiếp vào nơi bọ xít non tập trung. Sử dụng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất trên nhãn thuốc và đảm bảo đủ thời gian cách ly của thuốc khi thu hoạch trái.
Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và biện pháp phòng trừ:

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ

Trước 30 ngày tuổi

 

Sương mai

- Từ 7 - 14 NST: Trichoderma dòng đối kháng trừ nấm bệnh (Vi – ĐK, Biopus, Tricô –ĐHCT, NLU-Tri,...) với liều lượng 1,2 kg/1.000 m2, hòa nước tưới vào gốc.

- Khi phát hiện bệnh: Difenoconazole, Metominostrobin, Azoxystrobin, Chlorothalonil, Metalaxyl, Zineb, Azoxystrobin + Difenoconazole,… khi bệnh mới xuất hiện, chú ý phun mặt dưới lá.

Héo vàng do nấm

- Sử dụng phân chuồng hoai kết hợp nấm Trichoderma dòng trừ nấm bệnh.

- Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây bị bệnh nặng.

- Phun thuốc BVTV: Mancozeb + Metalaxyl.

Héo xanh do vi khuẩn

- Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây bị bệnh nặng.

- Phun: Kasugamycin, Copper Hydroxide, Oxolimic acid, Salicylic Acid, Kasugamycin + Copper Hydroxide, Streptomycine sulfate + Kasugamycin.

Ruồi đục lá

- Tỉa, ngắt bỏ những lá bị dòi hại nặng.

- Đặt bẫy màu vàng cách mặt đất 20 – 25cm, khoảng cách 15 – 20m2/bẫy

- Cyromazine, Spinetoram, Matrine, Oxymatrine,…

Bọ trĩ

Spinetoram, Matrine, Abamectin, Petroleum spray oil, Karanjin, Spirotetramat,...

Sâu xanh 2 sọc trắng

Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Cyromazine, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin, Flubendiamide, Spinosad,...

Rầy mềm

Matrine, Pymetrozine, Liuyangmycin, Abamectin, Etofenprox, ...

Ra hoa -

Cho trái – thu hoạch

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sương mai

Cytosinpeptidemycin, Chaetomium sp. + Tricoderma sp., Acrylic acid + Carvacrol,…

 

Thán thư

Citrus oil, Cytosinpeptidemycin, Difenoconazole, Azoxystrobin, Metominostrobin, Chaetomium sp. + Tricoderma sp.; Azoxystrobin + Difenoconazole,… Trong đó ở giai đoạn thu trái nên sử dụng hoạt chất sinh học như Cytosinpeptidemycin, Chaetomium sp. + Tricoderma sp.

Héo vàng do nấm

Nhổ hủy cây bệnh

Héo xanh do vi khuẩn

- Nhổ bỏ và tiêu huỷ cây bị bệnh nặng.

- Phun: Cytosinpeptidemycin, Ascorbic acid + Citric acid + Lactic acid, …

Ruồi đục lá

- Tỉa, ngắt bỏ những lá bị dòi hại nặng.

- Đặt bẫy màu vàng cách mặt đất 20 – 25cm, khoảng cách 15 – 20m2/bẫy

- Spinetoram, Matrine, Oxymatrine,…

Bọ trĩ

Spinetoram, Matrine, Abamectin, Karanjin, Spirotetramat,...

 

Sâu xanh 2 sọc trắng

Bacillus thuringiensis, Azadirachtin, Chlorantraniliprole, Matrine, Oxymatrine, Rotenone + Saponin, Spinosad,...

Rầy mềm

Matrine, Liuyangmycin, Abamectin

Ruồi đục trái

Bẩy ruồi

Bọ xít

Matrine, Petroleum spray oil, Clothianidin,…

Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Nông dân thu hoạch trái khổ qua 

9.  Thu hoạch, đóng gói, bảo quản
Giai đoạn thu hoạch thích hợp: Khổ qua có thể bắt đầu thu hoạch sau trồng 35 – 38 ngày. Thu hoạch đúng lứa để đảm bảo đúng chất lượng trái. Trái vừa đạt độ chín sinh lý (5 – 6 ngày tuổi). Thời kỳ đầu nên thu hoạch trái mỗi ngày vào buổi sáng, thời gian thu hoạch kéo dài khoảng 1,5 tháng. Dùng tay hoặc kéo cắt trái chừa cuống khoảng 1 cm. Chọn hái những trái non, màu xanh nhạt và vẫn còn phấn trắng. Khi hái tránh không làm ảnh hưởng đến lứa sau. Phải đảm bảo đúng thời gian cách ly đối với thuốc BVTV và phân hóa học. Trái được đóng sọt, thùng hay bao nilon tại nơi thu hoạch theo yêu cầu khách hàng. Bao bì phải sạch, không nên quá lớn và có khả năng bảo vệ trái trong quá trình vận chuyển.
- Phương pháp thu hoạch: Sử dụng dao nhọn cắt trái có cuống không quá 1 cm. Thu trái cho vào giỏ/ thùng chứa sạch sẽ. Đặt trái vào giỏ/ thùng thật nhẹ nhàng, tránh làm xây sát, bầm giập, để giảm nguy cơ bệnh sau thu hoạch.
Thiết bị, thùng chứa và vật liệu tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm phải được làm từ những chất không độc hại, đảm bảo sạch sẽ.
Trang bị đồ bảo hộ lao động, găng tay cao su khi thu hoạch.
- Tiêu chuẩn chất lượng trái: Màu sắc phù hợp với từng giống. Không có côn trùng, vết bệnh và những chất không tốt khác trên bề mặt trái. Cần phân loại trái sau thu hoạch, loại những trái xấu hoặc quá chín để đảm bảo chất lượng đúng phẩm cấp.
- Bảo quản đóng gói sản phẩm: Khổ qua khi thu hoạch không để tiếp xúc trực tiếp dưới đất, để nơi thoáng mát và tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào. Để bảo quản dài ngày nên đóng gói khổ qua tại nhà sơ chế. Trái được được phân loại, lựa chọn theo tiêu chuẩn chất lượng của thị trường và loại bỏ trái bị khuyết tật. Có thể rửa bằng dung dịch chlorine và xử lý trái bằng dung dịch chitosan 0,5 trong 5 phút. Làm khô tự nhiên hoặc dùng quạt. Đóng gói trong bao PE hoặc bọc màng co. Bảo quản ở 10oC trong 8 – 10 ngày. Khu vực đóng gói phải xa khu sản phẩm phế thải để tránh lây lan dịch bệnh cho sản phẩm sau thu hoạch. Trước khi sử dụng đồ chèn lót, cần kiểm tra đảm bảo không bị nhiễm đất, hóa chất, dị vật và các loài sinh vật gây hại, nếu phát hiện vấn đề không phù hợp cần loại bỏ, làm sạch hoặc phủ kín bằng vật liệu bảo vệ.
11. Vận chuyển
Cần kiểm tra các phương tiện vận chuyển trước khi xếp thùng chứa sản phẩm, đảm bảo sạch sẽ.
Sản phẩm cần được bảo vệ trong quá trình vận chuyển nhằm đảm bảo chỉ tiêu về chất lượng và hình thức rau an toàn.
12. Ghi chép và lưu trữ dữ liệu đầy đủ
Nhật ký sản xuất, nhật ký bảo vệ thực vật, phân bón, bán sản phẩm để dễ dàng kiểm tra và giải quyết sự cố xảy ra.
Môi trường: Nhiệt độ, độ ẩm, nước mưa, tần số mưa, chỉ tiêu khác,… Tên giống, ngày gieo trồng, ngày tỉa cây yếu.
Ngày bón phân, phun thuốc loại thuốc, loại phân (phân hóa học, hữu cơ,…).
Ngày thu hoạch, chi phí, sản lượng, thu nhập.
Những sự cố, vấn đề xãy ra trong suốt quá trình trồng, thu hoạch vận chuyển, tiêu thụ./.
Chi cục Trồng trọt và BVTV
Kỹ thuật trồng và chăm sóc sầu riêngNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtKỹ thuật trồng và chăm sóc sầu riêng/PublishingImages/2019-04/cây sầu riêng.jpg
Sầu riêng là loại cây ăn quả lâu năm. Nếu được chăm sóc tốt, giai đoạn kiến thiết cơ bản thường kéo dài đến hết năm thứ 4, sau đó cây bắt đầu cho trái với năng suất tăng nhanh dần, cho thu hoạch ổn định ở năm thứ 7 và năng suất vườn sẽ giảm nhanh ở giai đoạn cuối. Thời gian kinh doanh của cây sầu riêng trung bình là 25 năm
4/29/2019 7:00 PMYesĐã ban hành

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY SẦU RIÊNG

Sầu riêng là loại cây ăn quả lâu năm. Nếu được chăm sóc tốt, giai đoạn kiến thiết cơ bản thường kéo dài đến hết năm thứ 4, sau đó cây bắt đầu cho trái với năng suất tăng nhanh dần, cho thu hoạch ổn định ở năm thứ 7 và năng suất vườn sẽ giảm nhanh ở giai đoạn cuối. Thời gian kinh doanh của cây sầu riêng trung bình là 25 năm.


Hình 1: Quả sầu riêng  (Nguồn: sưu tầm)

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

1. Đất trồng

- Loại đất: Sầu riêng thích hợp với đất có tầng canh tác dày, giàu chất hữu cơ, thoát nước tốt trong mùa mưa và có khả năng cung cấp nước trong mùa khô. Cây không phát triển ở các vùng đất nhiễm mặn, phèn, đất có tỷ lệ sét cao và độ phì nhiêu kém.

- Độ pH: đảm bảo độ pH nằm trong khoảng 5,5 – 6,5 để cây phát triển tốt nhất và đồng thời hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora palmivora gây hại. Để nâng pH đất hiệu quả: cần thực hiện bón vôi hằng năm. Nếu độ pH đất vẫn khó được cải thiện rất có thể đất đã bị thoái hóa nghiêm trọng và cần được cải tạo trước khi trồng.

2. Nước

- Cây có thể sinh trưởng, phát triển ở nơi có lượng mưa từ 1.600 – 3.000 mm/năm (tốt nhất là 2.000 mm/năm)

3. Ánh sáng

- Khi cây còn nhỏ: cây ưa bóng râm, nên muốn cây mọc tốt cần che nắng cho cây nhưng không nên che quá 30 – 40% ánh nắng mặt trời.

- Khi cây lớn: cần nhiều ánh sáng để quang hợp, hình thành hoa quả thuận lợi.

4. Nhiệt độ, ẩm độ không khí

- Khoảng nhiệt độ thích hợp cho sầu riêng sinh trưởng là 24 – 300C và ẩm độ vào khoảng 75 – 80%. Riêng giai đoạn ra hoa, cây cần có nhiệt độ từ 20 – 220C, ẩm độ 50 – 60%.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Điều kiện tự nhiên trong canh tác nông nghiệp tại tỉnh Tây Ninh như sau:

 Điều kiện khí hậu: Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo; lượng mưa trung bình/năm từ 1.500 – 2.400 mm và mùa khô kéo dài (6 tháng); nhiệt độ trung bình/năm từ 27 – 28oC; độ ẩm không khí trung bình là 80%; số giờ nắng trung bình/ngày/năm vào khoảng 07 giờ/ngày.

 Điều kiện đất: tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh là 345.824, trong đó: khoảng 92% là nhóm đất thủy thành (được hình thành từ bồi tụ phù sa sông, suối) có độ dày tầng đất sâu (độ dày >1m chiếm khoảng 91%); trên 83% là nhóm đất xám bạc màu (tương đối nghèo dưỡng chất, thành phần cơ giới thô, khả năng giữ nước và phân kém); pH đất từ 5 – 5,5; hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình – khá; hàm lượng chất hữu cơ ở tầng canh tác dao động từ 1,5 – 5,8%; khả năng thoát nước nhìn chung khá tốt.

 Điều kiện nước: Tây Ninh có diện tích mặt nước lớn với hệ thống các sông như: Vàm Cỏ Đông, Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng (với dung tích 1,1 tỷ m3); là nguồn cung cấp nước ngọt đồng thời nước từ các sông mang lại còn giúp đẩy mặn vào thời điểm triều cường; có hệ thống thủy lợi được đầu tư khá đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong tỉnh. 
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên tại Tây Ninh phù hợp để canh tác sầu riêng nhưng cần phải có hệ thống tưới tiêu tốt và tăng cường đầu tư phân bón nhất là phân hữu cơ để cải tạo đất.
Khi chọn canh tác sầu riêng, người sản xuất nên thực hiện phân tích phẫu diện đất canh tác của mình để xác định chính xác hàm lượng các chất dinh dưỡng, pH đất, pH nước, độ dày tầng canh tác … làm cơ sở đưa ra quyết định nên canh tác sầu riêng hay không hoặc cần bổ sung, khắc phục yếu tố nào để đầu tư thâm canh đạt hiệu quả mong muốn.
III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

Giống trồng phổ biến hiện nay: Ri 6, Monthong, MusangkingĐặc điểm tiêu biểu của một số giống phổ biến hiện nay:

1. Giống Ri 6Có nguồn gốc từ Mianma, khá dễ trồng, kỹ thuật chăm sóc không có điểm đặc biệt, cây sinh trưởng mạnh, phân cành ngang đẹp, tán hình tháp, cho trái sau 03 năm trồng (nếu được chăm sóc tốt) năng suất khá cao và ổn định, phù hợp để trồng diện tích lớn, được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Thời gian từ nở hoa đến thu hoạch từ 3 – 3,5 tháng, mùa thu hoạch từ tháng 5 – 6 dương lịch hàng năm.

 Đặc điểm quả: Hình bầu dục, to, tròn, cân đối, trọng lượng trung bình từ 2 – 4 kg/trái, có từ 4 – 5 khía múi/trái, có thể để chín tự nhiên mà không cần xử lý hóa chất. Khi chín, vỏ trái có màu xanh, cơm vàng bắt mắt, dẻo, vị ngọt đậm, không xơ, mùi thơm nồng, hạt lép.

2. Giống Monthong: Có nguồn gốc từ Thái Lan, dễ trồng, tán hình tháp, cho trái sau 03 năm trồng (nếu được chăm sóc tốt), cần chú ý xử lý sâu bệnh kịp thời, bón phân cân đối để cây bảo đảm năng suất ổn định. Thời gian từ nở hoa đến thu hoạch từ 3,5 – 4 tháng, mùa thu hoạch từ tháng 5 – 8 dương lịch hàng năm.

Đặc điểm quả: Hình trứng hoặc hình chữ nhật, cân đối, trọng lượng trung bình từ 3 – 4kg/trái, có từ 5 – 6 khía múi/trái, khe múi đồng đều. Khi chín vỏ có màu xanh nhạt, mỏng, hơi bóng, khe múi lộ rõ; cơm dày, mịn có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, không xơ, vị ngọt thanh, béo vừa phải; hạt lép.

3. Giống Musang King: Có nguồn gốc từ Malaysia, cây sinh trưởng rất khỏe mạnh, chưa thấy dấu hiệu không phù hợp khi được trồng tại Việt Nam. Cây phát triển tốt ở những nơi có khí hậu nóng, có nhiệt độ trung bình 30 – 35oC, cần ánh sáng cao và cho trái khi trồng được từ 3 – 5 năm, chiều cao cây tối đa là 5m. Khác với những giống cây sầu riêng khác phải cắt thẳng trái từ cây khi chín thì sầu riêng Musang King sẽ tự rụng xuống.

 Đặc điểm quả: Hình bầu dục, cân đối, trọng lượng trung bình từ 1,8 – 2,5kg/trái, phần đuôi quả phân chia 5 – 6 khe múi lộ rõ.  Khi chín, vỏ trái có màu xanh nhạt hoặc vàng nâu, cơm rất vàng, hạt lép hoàn toàn, có vị béo như bơ, ngọt thanh, để lâu hơi đắng; thịt quả rất mịn, không xơ.

- Hoa sầu riêng là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ phấn rất kém do nhị đực và nhụy cái của hoa không nở cùng một lúc. Vì vậy, cần tạo điều kiện để sự thụ phấn chéo xảy ra giúp quả sầu riêng lớn, cân đối và đạt năng suất cao. Một số biện pháp được đề nghị như sau:

Biện pháp 1: Trồng 2 giống (01 giống là chủ lực của vườn và 01giống có tác dụng thụ phấn) xen lẫn với nhaucó thể bố trí theo sơ đồ sau:

Sơ đồ bố trí

Ghi chú

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

µ ¡ ¡ µ ¡ ¡ µ

¡: Giống chủ lực

µ: Giống thụ phấn


Biện pháp 2: Chỉ trồng 01 giống nhưng kết hợp phát triển các động vật nhỏ giúp ích cho quá trình thụ phấn như: các loài bướm đêm, dơi nhỏ. Do chúng là những loài hoạt động về đêm (phù hợp với thời điểm hoa nở) và mùi hương của hoa sầu riêng khá mạnh nên rất hấp dẫn các loài này đến vườn hỗ trợ quá trình thụ phấn của hoa. Tuy nhiên, nếu bà con nông dân chọn nuôi dơi nhỏ trong vườn cần cân nhắc kỹ để đàn dơi không gây ảnh hưởng, thiệt hại đến cây trồng xung quanh như nhãn, …

IV. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Thời vụ và khoảng cách trồng

- Thời vụ: Thích hợp nhất khi mùa mưa đã bắt đầu (cuối tháng 6 – đầu tháng 7).

- Khoảng cách trồng: 10 x 8m, mật độ 125 cây/ha để thuận lợi cho việc sử dụng cơ giới trên vườn.

2. Cây giống: Cần đạt những yêu cầu như sau:

- Cây phải được nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép mắt hoặc ghép cành, có nguồn gốc rõ ràng. Lưu ý không được trồng sầu riêng bằng hạt.

- Gốc ghép thẳng, đường kính gốc ghép 1,0 – 1,5 cm, bộ rễ phát triển tốt.

- Thân, cành, lá: Thân thẳng và vững chắc, có từ 3 cành cấp 1 trở lên, các lá ngọn đã trường thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống. Chiều cao cây giống (tính từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi) đạt từ 80 cm trở lên.

- Cây phải đúng giống như tên gọi ghi trên nhãn hiệu và phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch hại chính như: bệnh thán thư, bệnh do nấm Phytophthora, bọ phấn,...

3. Kỹ thuật trồng

a. Đào mương, lên liếp:

- Nhìn chung, đất tại Tây Ninh có tầng canh tác dày, không bị ngập úng nên khi lập vườn không phải đào mương lên liếp hay đắp mô. Tuy nhiên, để thuận lợi hơn trong quá trình xử lý ra hoa nhất là xử lý ra hoa trái vụ, ngăn chặn chảy tràn bề mặt làm lây lan bệnh trong vườn, bà con nên đào mương lên liếp. Trong đó, liếp được bố trí theo hướng Bắc – Nam để trồng cây vuông góc với hướng Đông nhằm giúp cây trên vườn nhận được ánh sáng đầy đủ hơn; các mương được nối với mương chính ở cuối vườn để thoát nước tốt trong mùa mưa. Kích thước thiết kế liếp, mương như sau:

+ Trường hợp lên liếp đơn thích hợp trồng chuyên canh: Liếp rộng 6 – 8 m; mương rộng 1 – 2 m, sâu từ 1 – 1,2 m.

+ Liếp đôi thích hợp trồng xen một số cây trồng khác để lấy ngắn nuôi dài: Liếp rộng 10 – 12 m; mương rộng 4 – 5 m, sâu từ 1 – 1,2 m.

b. Chuẩn bị hố trồng:

- Đào hố trồng có kích thước: 0,8 x 0,8 x 0,8 m và cho 0,5 – 1kg vôi/hố để xử lý một số côn trùng và nấm bệnh trong đất.

- Sau khi xử lý hố trồng khoảng 01 tháng: Tiến hành bón lót hỗn hợp sau khi đã trộn đều gồm: 30 kg phân chuồng hoai mục + 200g NPK (15:15:15) + đất mặt được đào từ hố trồng với lượng vừa đủ để khi lấp lại bằng với mặt đất tự nhiên và 15 ngày sau tiến hành đặt cây con.

c. Cách trồng

- Đặt cây con: Đào 01 lỗ chính giữa hố đã được trộn phân lấp xuống sao cho vừa bằng bầu cây giống và dùng kéo cắt bịch ni lông cẩn thận để không làm tổn thương rễ và không được làm bể bầu. Đặt cây vào hố trồng, hướng mắt ghép quay về hướng gió chính trong năm để giảm hiện tượng tách mắt ghép, nén đất chặt xung quanh bầu cây, cắm 03 cọc tạo thành hình tam giác bao xung quanh cây và buộc nhẹ vào thân cây để giữ cây khỏi đổ ngã, tưới đẫm nước ngay sau khi trồng và dùng rơm, cỏ khô ủ gốc để giữ ẩm.  

 - Che bóng cho cây lúc còn nhỏ: Sau khi trồng, trong 06 tháng đầu tiên, cần che 30 – 40% ánh nắng bằng lưới đen và che phủ mặt liếp bằng một số cây ngắn ngày như đậu xanh, đậu phộng để vừa làm cây trồng xen lấy ngắn nuôi dài vừa giữ ẩm cho đất, trồng thêm cây bắp hoặc chuối theo hướng đông tây và cách gốc 2 – 3 m để che nắng cho cây.

Lưu ý:

+ Giữ gốc sầu riêng khô ráo để hạn chế nấm bệnh tấn công vào gốc;

+ Không trồng các loại cây: đu đủ, thơm, dừa, nhóm cây có múi để làm cây trồng xen trong vườn sầu riêng vì các cây này cùng là ký chủ của nấm Phytophthora.

Quản lý cỏ dại: Trong mùa mưa, hàng tháng nên cắt cỏ toàn vườn nhằm giữ lại thảm cỏ giúp đất không bị rửa trôi, hạn chế tối đa sử dụng thuốc diệt cỏ. Riêng trong bồn cây, không được sử dụng thuốc diệt cỏ mà nên làm cỏ bằng tay và nhất là trước mỗi đợt bón phân.

4. Bón phân: Đề nghị như sau

 - Phân hữu cơ hoai mục: Mỗi năm nên bón từ  20 – 30 kg/cây vào đầu mùa mưa, tốt nhất nên kết hợp với nấm sinh học đối kháng Trichoderma để hạn chế các dòng nấm hại có trong đất như Phytophthora palmivora.

Phân hóa học bón cho mỗi cây qua các năm tuổi cụ thể:

Giai đoạn sinh trưởng của cây

N : P2O: K2O

Quy đổi tương đương

Urê : Supe lân : K2SO4

Ghi chú

N (g)

P2O5 (g)

K2O (g)

Urê (g)

Supe lân (g)

K2SO4 (g)

Năm thứ 1

100-150

50

50

200-300

300

100

Chia làm 02 lần bón:

- Lần 1: Đầu mùa mưa

- Lần 2: Cuối mùa mưa

Năm thứ 2 – 3

200-300

100

100

450-670

600

200

Chia làm 02 lần bón:

- Lần 1: Đầu mùa mưa

- Lần 2: Cuối mùa mưa

Bắt đầu cho trái

(năm thứ 4 – 6 )

500

250

250

1.000

1.500

500

Chia làm 03 lần bón:

Lần 1: 1/3 đạm + 1/2 kali ở giai đoạn trước khi ra hoa.

Lần 2: 1/3 đạm + 1/2 kali khi quả có đường kính 10-15 cm.

Lần 3: 1/3 đạm + toàn bộ lân ở giai đoạn sau thu hoạch.

Cho trái ổn định (từ năm thứ 7 trở đi): cây có chiều cao 7 – 11 m, đường kính tán 5 – 6 m, phát triển bình thường, có năng suất cao, có thể bón phân chia làm 04 lần như sau:

- Lần 1 (Phục hồi và tạo cơi đọt mới): Sau khi thu hoạch, cần tiến hành cắt tỉa cành, bón phân vào khoảng 10 – 15 ngày sau thu hoạch, lượng phân sử dụng như sau:

1-2 kg vôi bột + 02 kg phân hỗn hợp N : P : K : Mg  (18 : 1 : 5 : 3)

 tương đương (0,7 kg urê + 1,1 kg supe lân + 0,15 kg kali sunfat + 0,05 kg magiê sunfat)

Ghi chú: - Bón vôi bột nhằm nâng nâng pH đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật gây hại;

  •  Nếu cây lớn, có thể bón 03 kg N : P : K : Mg theo tỷ lệ trên.

- Lần 2 (Chuyển từ sinh trưởng sang sinh sản):  Khi lá của cơi đọt thứ 2 chuyển sang giai đoạn lá lụa, bón phân vô cơ có hàm lượng lân cao để xúc tiến quá trình phân hóa mầm và ra hoa thuận lợi, cụ thể:

02 kg phân hỗn hợp N : P : K (10 : 50 : 7)

tương đương (0,12 kg urê + 1,7 kg supe lân + 0,18 kg kali sunfat)

Ghi chú: Cần bón liều lượng nhiều hơn có thể phối trộn hỗn hợp phân N : P : K theo tỷ lệ trên.

- Lần 3 (Nuôi trái): khi trái sầu riêng to bằng trái chôm chôm, cần tiến hành tỉa trái và bón phân vô cơ có hàm lượng đạm và kali tương đối cao để thúc trái phát triển, cụ thể như sau:

02 kg phân hỗn hợp N : P : K : Mg  (12 : 12 : 17 : 2)

tương đương (0,37 kg urê + 1,1 kg supe lân + 0,5 kg kali sunfat + 0,03 kg magiê sunfat)

Ghi chú: Cần bón liều lượng nhiều hơn có thể phối trộn hỗn hợp phân N : P : K : Mg theo tỷ lệ trên.

- Lần 4 (Tạo chất lượng trái): trước khi thu hoạch trái 01 tháng, bón phân như sau:

1 – 1,5 kg KNO3 (để tăng chất lượng trái) + 2 – 3 kg N : P : K (16 : 16 : 8)

Ghi chú: Không bón phân muộn hơn thời gian trên vì sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng trái như:

cơm sầu riêng có thể bị sượng hoặc bị nhão


Phương pháp bón phân:          cụ thể như sau:
* Với phân vô cơ:
Năm thứ 1 – 2: Pha phân hóa học với nước để tưới;
Năm thứ 3 trở đi: Xới đất xung quanh tán để bón, cụ thể: xới một lớp đất mỏng, rắc đều phân và phủ đất. Vào mùa khô, có thể rắc phân phủ đất xong tiến hành tưới nước lên trên vừa có tác dụng chống hạn cho cây.
* Với phân chuồng: thực hiện đào hố theo hình chiếu của cây xung quanh tán, cho phân chuồng xuống cùng với phân vô cơ, trộn đều rồi lấp đất. 
- Những điều cần chú ý khi bón phân cho sầu riêng:
+ Không dùng các loại phân có Clor nhất là trong giai đoạn cho trái để bón vì Clor là một trong những yếu tố làm cho trái bị sượng;
+ Bón phân gà là cần thiết vì phân gà có khả năng hạn chế sự phát triển của nấm Phytopthora palmivora – vốn là loại nấm rất nguy hiểm với sầu riêng. Có thể thay thế phân gà hoai mục bằng các loại phân đã qua chế biến nhưng có nguồn gốc từ phân gà như: Humic, Dynamic lifter.
+ Để hãm ra lá non, tạo điều kiện cho cây ra hoa và đậu quả được tốt có thể dùng KNO3 hoặc phân bón lá M:K:P (0:52:34) để phun lên lá, nồng độ và cách phun theo khuyến cáo trên bao bì.

5. Tưới nướcCây cần nước ở các giai đoạn:

 - 01 tháng đầu tiên sau khi trồng nên tưới 01 lần/ngày.

- Thời kỳ cây tơ: Tưới đủ nước, đảm bảo chu kỳ tưới 03 lần/tuần (lượng nước tưới 100 – 150 lít/cây/lần) trong thời gian ít mưa và mùa khô để giảm tỉ lệ cây chết, giúp cây phát triển mạnh, nhanh cho trái.

- Thời kỳ cây ra hoa: Tưới cách ngày để cho hạt phấn khỏe mạnh và ngưng tưới nước khi hoa nở rộ. Khi kết thúc giai đoạn ra hoa rộ: tưới trở lại và lượng nước được tăng dần cho đến khi trở lại bình thường.

- Thời kỳ cây cho trái: Sau khi đậu trái, tưới đủ nước để giúp trái phát triển khỏe, chất lượng tốt. Riêng giai đoạn 20 ngày trước thu hoạch cần ngưng tưới để hạn chế cây ra đọt non giúp giảm tỷ lệ quả bị sượng.

 6. Tỉa cành, tạo tán: Để tạo cây có chiều cao vừa tầm, thuận lợi chăm sóc và có bộ khung tán khỏe mạnh cần áp dụng bấm đọt, tỉa bỏ các cành như sau:  

Cành cần cắt tỉa

Giữ lại các cành

+ Cành mọc đứng, cành bên trong tán

+ Cành mọc ngang

+ Cành ốm yếu, cành bị sâu bệnh   

+ Cành khoẻ mạnh

+ Cành mọc quá gần mặt đất

+ Cành ở độ cao 1m so với mặt đất

(khi cây cho trái)


Số cành cấp 1 khoảng 18 - 20 cành/cây, mỗi tầng khoảng 3 cành phân bố đều các hướng, mỗi tầng cách nhau 0,7 - 01 m, cây cao 4,5 - 5m.

Việc tỉa cành tạo tán cần được tiến hành từ năm thứ 2 để cây tạo tán sớm và thực hiện thường xuyên, liên tục để có bộ tán thông thoáng cân đối. Cần quét sơn cho vết cắt có đường kính > 1cm.   
7. Tỉa hoa, tỉa quả
- Tỉa hoa: Sầu riêng ra hoa 2 – 3 đợt trong năm, việc tỉa bỏ hay giữ lại đợt hoa nào tùy thuộc vào ý định của chủ vườn muốn có thu hoạch ở thời điểm nào để có hiệu quả kinh tế cao. Nếu có 03 đợt hoa chính, có 02 phương án: 
+ Phương án 1: Tỉa bớt hoa đợt 1 và đợt 3, để lại hoa đợt 2 cho chín tập trung. 
+ Phương án 2: Tỉa bớt hoa đợt 2, để lại hoa đợt 1 và đợt 3 để cho thu hoạch những quả chín sớm và chín muộn vào lúc thị trường khan hiếm.

Tỉa quả: Tỉa bỏ những quả nhỏ, quả méo mó, chỉ giữ lại những quả có hình dáng đẹp. Quả được mang trên cành to thì chất lượng cao hơn những quả trên cành nhỏ hoặc trên cành ít lá. Không để lại quá nhiều quả trên 01 cành, nhất là trên các cành nhỏ. Vì vậy, sau khi đậu quả, công việc tỉa quả được tiến hành như sau:
Lần 1: Tỉa vào giai đoạn từ tuần thứ 3 – 4 sau khi hoa nở đến tuần thứ 5 sau khi hoa nở (≈ trước khi quả bước vào giai đoạn phát triển nhanh). Lúc này cần tỉa bỏ: các quả đậu dày đặc, quả nhỏ, dị hình, bị sâu bệnh và chỉ để lại 1 – 2 quả/chùm.
+ Lần 2: Tỉa vào tuần thứ 8 sau khi hoa nở. Lúc này cần tỉa bỏ: các quả phát triển không bình thường: nhỏ, cân cân đối, méo mó ... để điều chỉnh lại sự cân bằng về mặt dinh dưỡng giúp cho quá trình tạo cơm trái được thuận lợi.
+ Lần 3: Tỉa vào tuần thứ 10 sau khi hoa nở. Lúc này cần tỉa bỏ: các quả có hình dạng không đặc trưng của giống, tạo thuận lợi cho sự phát triển cơm, kích thước và hình dạng quả.
8. Xử lý ra hoa: 
- Xử lý ra hoa thuận mùa: 
Khi bón phân ở gốc trong giai đoạn lá của cơi đọt thứ 2 chuyển sang lá lụa (như trên), cần kết hợp phun lên thân cây loại phân bón chuyên dùng giúp tạo mầm hoa tốt, ra hoa đồng loạt (liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất) + phun ướt toàn bộ lá bằng MKP nhằm giúp lá mau thuần thục (liều lượng: 80 – 100g/8 lít), thực hiện 02 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày. Lúc này thời tiết đã chuyển qua mùa khô nên khi gặp khô hạn khoảng 20 ngày thì sầu riêng sẽ nhú mầm hoa. 
Khi hoa có độ dài 2 – 3 cm: Tưới nước trở lại và tưới đầy đủ nước để hoa phát triển to, đều, hạn chế rụng hoa và tăng khả năng đậu trái. 
Khi hoa có độ dài 3 – 4 cm: Tỉa bỏ tất cả hoa ở đầu cành và sát gốc cành, chỉ giữ lại những chùm hoa giữa cành có khả năng mang trái.
Lưu ý: Ở giai đoạn cây ra hoa, nếu đồng thời cây cũng ra đọt sẽ cạnh tranh dinh dưỡng trong nuôi trái. Tuy nhiên, nếu khống chế không cho cây ra đọt sẽ đi ngược với quy trình sinh trưởng của cây và làm cây suy kiệt nên cần tạo kiều kiện cho cây ra đọt cùng lúc với ra hoa, tốt nhất là khi hoa nở thì đọt cũng đã già. Như vậy, sau khi cây ra hoa, trong khi tưới nước cần bón bổ sung hỗn hợp 1 – 1,5 kg urê + 1 – 1,5 kg DAP/cây và phun phân bón lá NPK (30-10-10) để thúc cây ra đọt. Cơi đọt này cần được nuôi và chăm sóc đặc biệt vì nó có vai trò quan trong trong quá trình nuôi dưỡng trái sau này.

Xử lý ra hoa nghịch mùa: Thực hiện như sau: 
+ Bón phân giúp cây phân hóa mầm hoa: khi cơi đọt muốn xử lý ra hoa đã già (sau khi nhú cơi đọt khoảng 3 – 4 tuần) thực hiện đồng thời:

 Gốc cây: bón phân DAP + Kali sunfat (lượng phân bón phụ thuộc vào tuổi và độ sung của cây mà áp dụng tỷ lệ 1 : 1 hay khác) + tưới nước để phân tan (giúp rễ hấp thu dinh dưỡng đầy đủ) sau đó ngưng tưới hoàn toàn và rút cạn nước trong mương sao cho khoảng cách từ mực nước trong mương đến mặt líp đạt từ 01m trở lên nhằm đảm bảo đất ở vùng rễ được khô ráo.

 Lá cây: Phun phân bón lá có hàm lượng lân cao như NPK (10-60-10), thực hiện 02 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày.
Sau khi bón phân giúp cây phân hóa mầm hoa, cây bắt đầu tạo mầm hoa. Giai đoạn này có thể từ 30 – 45 ngày, kéo dài hơn so với các tỉnh miền Tây. Nếu trong giai đoạn này, cây đã phân hóa mầm hoa vài đợt mà cây vẫn vón quá tươi tốt thì tiến hành phun thêm phân bón lá chứa lân và kali cao như NPK (10-30-30), thực hiện 02 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày để giúp cây tạo thêm mầm hoa. Sau đó chờ cây ra hoa thông qua các dấu hiệu giúp nhận biết cây sẽ ra hoa:

 Thân cây răn nứt;

 Lá già trên cây đổ nhiều, tốt nhất khi cây có tỷ lệ đổ lá từ 20 – 30% lá già.

 Trên các cành nhất là cành trên cao xuất hiện nứt sáng mắt cua (số lượng ít). Để quan sát rõ hơn ta thực hiện chiếu đèn pin hướng về các cành trên cao vào buổi chiều tối, nếu có mắt cua xuất hiện thì nó sẽ phản quang và sáng lên.
Sau khi cây có đủ các dấu hiệu trên, thực hiện tưới đẫm nước 02 lần, mỗi lần cách nhau 3 – 4 ngày nhằm gây sốc cho cây để mắt cua được bung đồng loạt, sau đó tiến hành tưới giữ ẩm trở lại.
Ghi chú: Hạn chế tối đa hoặc không sử dụng chất điều hòa sinh trưởng Paclobutrazol (PBZ) để xử lý ra hoa vì: hiệu quả xử lý ra hoa sẽ giảm dần theo từng năm; khi sử dụng nhiều năm sẽ làm cây bị suy kiệt, ảnh hưởng quá trình phát triển và cho năng suất của cây.

9. Thụ phấn bổ sung:

Thụ phấn bằng tay: Để tăng khả năng thụ phấn cho cây, giúp quá trình thụ phấn diễn ra đầy đủ trên đầu nhụy tạo trái sầu riêng đầy đặn, không bị lép. Cách làm như sau: Vào buổi sáng, cắt một số hoa sắp nở dùng của giống dùng làm bố mang về nhà, cắt lấy các chùm nhị đặt vào đĩa sứ và lấy vải màn trùm lên để vào nới cao, khô (giữ ở điều kiện nhiệt độ trong phòng 25 – 26oC là thích hợp nhất) đến chiều là bao phần nở và tung phấn. Đến tối, gỡ bỏ cuống nhị và xác bao phấn, gom phấn lại và dùng 01 que tre có đầu buộc chặt một nhúm bông, chấm vào phấn và phết nhẹ vào đầu nhụy hoa của giống mẹ vào lúc 20 – 22 giờ. Không cần cách ly hoa mẹ.

Tăng khả năng thụ phấn chéo: trồng xen khoảng 02 giống trong vườn; hoặc chỉ trồng 01 giống và kết hợp phát triển các động vật nhỏ giúp ích cho quá trình thụ phấn.
10. Hiện tượng cơm (múi) bị sượng:
- Hiện tượng sượng phần cơm trái không do một nguyên nhân đơn lẻ mà do kết hợp nhiều yếu tố như: dinh dưỡng, nước, điều kiện môi trường và quả càng lớn thì tỷ lệ sượng càng cao.
- Một số biện pháp kỹ thuật hạn chế hiện tượng cơm (múi) bị sượng:
+ Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục;
+ Xiết nước vào lúc quả chín và kết hợp ngăn nước mưa thấm vào gốc, rễ bằng cách dùng ni lông che kín líp, vườn.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1. Xén tóc (Plocaederus ruficornis)

  - Hình thái: Có 3 giai đoạn gồm trứng, ấu trùng và thành trùng (xén tóc). Trứng tròn, màu trắng được đẻ rải rác trong các vết nứt của vỏ cây, nở trong thời gian từ 2 – 3 ngày. Ấu trùng có thân màu vàng nhạt, đầu rất nhỏ và hay rút xuống phía dưới, chân thoái hóa còn rất nhỏ, có đời sống rất lâu (có thể đến 7 – 8 tháng) ngay bên trong thân cây. Thành trùng có thân màu nâu đen, dài từ 2,5 – 4 cm; có râu rất dài, màu đỏ, bằng hoặc hơn thân mình (con đực); sáu chân cũng có màu đỏ với đốm nâu đậm ở cuối đùi và cẳng chân; trên cánh cứng có những đốm gồ màu nâu hoặc đen; ngực trước có u nhỏ trông gồ ghề, mỗi bên có một gai đưa ra giống hai cái sừng; thường bị thu hút bởi ánh sáng đèn vào đầu mùa mưa sau khi vừa trưởng thành.

Giai đoạn gây hại là ấu trùng, khả năng phá hại rất cao nhưng lại rất khó phát hiện triệu chứng gây hại do ấu trùng không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện qua các lỗ đục trên thân, cành héo khô và có thể chết.


Hình 2: hình thái của trưởng thành và ấu trùng của xén tóc (Nguồn: sưu tầm)


Cách gây hại: Loài xén tóc đục trên thân chính hoặc nhánh lớn, thường làm chết nhánh hoặc suy yếu cả cây. Con cái đẻ trứng vào các vết nứt của cây hoặc ngay vị trí phân nhánh (chảng ba của cây). Ấu trùng chui qua vỏ vào trong đục thành đường hầm trong thân cây và cành cây, ăn phá ở đó. Những đường đục trong gỗ cây thường có dạng hình tròn (thiết diện cắt ngang) và kéo dài một đoạn thẳng nhỏ trước khi quay hướng đục.

Cây bị tấn công vào giai đoạn nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng rất nhiều, mạch dẫn nhựa tắt nghẽn làm cho cành bị khô héo và rụng lá, các lỗ do ấu trùng đục vào bị chảy nhựa và cành dễ gãy.

Hình 3: Ấu trùng xén tóc gây hại trên thân sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

- Phòng trị: Rất khó để phòng trị các loài xén tóc vì ấu trùng ở sâu bên trong. Có thể ngừa bằng cách sau:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên (cắt bỏ và tiêu hủy những cành vượt, bệnh, đã mang trái năm trước), dọn sạch cỏ rác và lá cây mục.

+ Không gây ra vết thương – tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng.

+ Thành trùng chỉ xuất hiện vào lúc đêm tối và khi chúng đẻ trứng. Chúng thường bị thu hút bởi ánh sáng nên có thể dùng bẫy đèn để thu hút (vào đầu mùa mưa). Sau cơn mưa đầu tiên và giai đoạn gần cuối mùa mưa, phun thuốc bvtv để ngừa xén tóc vào vườn đẻ trứng.

+ Pha hỗn hợp vôi, lưu huỳnh, nước (tỷ lệ 10:1:40) quét thân cây để diệt trứng và tránh không cho thành trùng đẻ trứng vào giai đoạn trước và sau mùa mưa.

Một số hoạt chất có thể sử dụng như: Diafenthiuron, Chlorantraniliprole, …

+ Nếu mật số cây bị sâu đục thân, cành cao thì dùng bông gòn thấm thuốc trừ sâu (nên chọn loại thuốc lưu dẫn hoặc xông hơi), nhét sâu vào các lổ đục, trám miệng lỗ đục lại. Ngoài ra, cũng có thể rải thuốc trừ sâu dạng hạt vào các lỗ đục và trám đất sét.

+ Trong quá trình tìm và diệt sâu đục thân, có thể tạo nhiều vết thương trên thân cây, ta có thể quét các loại thuốc gốc đồng phòng bệnh tấn công.

  2. Sâu đục quả (Conogethes punctiferalis) gây hại từ lúc quả non - quả già.

   - Hình thái: Trứng hình bầu dục, dài khoảng  2-2,5 mm. Ấu trùng dài khoảng 22 mm, đầu nâu, thân màu trắng ửng hồng, hai đốt ngực (trước và giữa) và hai đốt thân ở cuối đuôi thường có mầu trắng hơi hồng, các đốt còn lại có mầu hồng. Mỗi đốt sống lưng có 4 đốm nâu nhạt, 2 đốm trên to, hai đốm dưới dài và hẹp, trên mỗi đốm  đều có  lông cứng nhỏ, mỗi có một  đốm nhỏ mầu nâu ở bên hông cơ thể, lổ thở mầu đen. Trưởng thành là bướm có chiều dài sải cánh 20 – 23 mm, toàn thân màu vàng, trên cánh có nhiều chấm nhỏ màu đen. 


Hình 4: Hình thái của trưởng thành, nhộng và ấu trùng của sâu đục quả sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Cách gây hại: Trưởng thành cái đẻ trứng trên vỏ quả non, sâu non ăn phần vỏ rồi đục vào quả sau đó hóa nhộng ngay trên đường đục hoặc ra ngoài và hóa nhộng trên vỏ quả. Sâu gây hại từ khi trái còn non đến trưởng thành, đặc biệt gây hại nặng trên các chùm trái hơn là các trái đơn lẻ.

Ảnh hưởng của sâu đến quả sầu riêng: Quả non bị hại sẽ biến dạng và rụng; quả già bị hại sẽ ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm. Ngoài ra, sâu đục vào quả còn tạo điều kiện cho các nấm bệnh xâm nhập gây thối và rụng quả.


Hình 5: Sâu đục trái gây hại sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

- Phòng trị:

+ Cắt tỉa các trái nhỏ, kém phát triển, trái bị sâu hại.

+ Dùng cành cây nhỏ ngăn tách các trái đóng cặp để hạn chế thiệt hại.

+ Dùng bẫy đèn để bẫy trưởng thành vào ban đêm.     

+ Tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế sâu hại, có một số loài ong có thể ký sinh trứng, ấu trùng và nhộng, ngoài ra còn có các loài ăn thịt như bọ xít, kiến và nhện ăn mồi.

+ Bao trái: Dùng bao giấy bao quả sau khi thụ phấn 01 tháng để hạn chế hiệu quả sâu đục quả. Trước khi bao nên xịt 01 lượt thuốc trừ sâu.

+Phun thuốc: có thể dùng thuốc chứa hoạt chất: Spinosad, Emamectin benzoate, Abamectin, Oxymatrine… Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.

3. Rầy nhảy (Rầy phấn) (Allocaridara malayensis): đối tượng gây hại phổ biến và quan trọng trên cây sầu riêng, phát triển nhiều trong các tháng mùa nắng, gây hại chủ yếu trên lá non.

Hình thái: Ấu trùng có cấu trúc giống như lông màu trắng xung quanh cơ thể, đặc biệt là ở phía sau có lông tơ màu trắng dài trông giống như một cái đuôi gà. Thành trùng không có cấu trúc lông trắng này, không bay thường xuyên, chỉ bay khi chúng bị quấy phá, có chiều dài 3 – 4 mm, cơ thể có màu nâu lợt, cánh trong suốt, thường xuất hiện ở mặt dưới lá và có thể sống đến 6 tháng; đẻ trứng ở mặt trên lá non còn xếp lại thành từng ổ.


Hình 6: Hình thái rầy nhảy (rầy phấn) (Nguồn: sưu tầm)

Cách gây hại: thường sống ở mặt dưới lá, cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút các lá non, lá bị hại thường có những chấm vàng. Khi bị hại nặng, lá thường khô, cong lại và rụng hàng loạt, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Ngoài ra rầy còn tiết ra mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển.


Hình 7: Rầy nhảy trên lá sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

+ Điều khiển cây ra đọt non đồng loạt để dể trừ rầy.

+ Phun nước khi lá vừa mở để rửa trôi ấu trùng và thành trùng giúp giúp giảm mật số rầy.

+ Thường xuyên kiểm tra cây đặc biệt là thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 11 là thời kỳ thường xảy ra dịch rầy nhằm quan sát tình trạng xuất hiện của rầy nhảy.

+ Sử dụng bẫy dính màu vàng nhằm hấp dẫn và bẫy rầy trưởng thành.

+ Tạo điều kiện cho nhiều loài thiên địch trong tự nhiên như: ong ký sinh nhỏ thuộc họ Ong nhảy (Encyrtidae) – loài ong có nhiều ở những nơi ít sử dụng thuốc hóa học, có tầm quan trọng trong việc phòng trừ sinh học rầy nhảy sầu riêng, ấu trùng bọ rùa, ấu trùng bọ cánh gân, nhện phát triển nhằm hạ mật số rầy.

+ Khi mật số rầy cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Thiamethoxam, Clothianidin, CyantraniliproleDinotefuran, Liuyangmycin, Oxymatrine… Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng.

4. Nhện đỏ (Eutetranychus sp.)

- Nhện đỏ phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới, khả năng sinh sản khá cao, vòng đời rất ngắn, gây hại trên lá già nhất là những lá ở gần mặt đất.

- Gây hại bằng cách: Chích hút dịch lá tạo thành những chấm trắng li ti, làm lá bị mất màu, không phát triển được. Lá bị hại nặng sẽ chuyển màu vàng, rụng sớm dẫn đến cây sinh trường kém, ảnh hưởng đến ra hoa đậu quả của cây.


Hình 8: Triệu chứng nhện đỏ gây hại trên lá (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

- Phun nước lên tán lá để tăng ẩm độ lá, giảm mật số của nhện.

- Trong điều kiện tự nhiên, nhện đỏ bị nhiều loại thiên địch tấn công như : nhện nhỏ ăn mồi…cần tạo điều kiện cho thiên địch phát triển để hạn chế nhện đỏ gây hại.

- Khi mật số nhện cao có thể dùng các loại thuốc chứa hoạt chất để phun như: Abamectin, Azadirachtin, Clofentezine, Diafenthiuron, Emamectin benzoate … Luân phiên sử dụng các hoạt chất để hạn chế bộc phát tính kháng. 

5. Rệp sáp (Planococcus sp.)

- Xuất hiện khá phổ biến, tấn công trên trái từ khi còn non, bu bám vào cuống quả hoặc các rãnh giữa các gai trên vỏ quả. 


Hình 9: Rệp sáp tấn công trên trái non, hoa sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Gây hại bằng cách: Chích hút nhựa làm quả kém phát triển. Nếu quả non bị hại nặng sẽ bị biến dạng hoặc rụng non. Trong quá trình gây hại, rệp còn tiết ra mật đường tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm giảm giá trị thương phẩm của trái.


Hình 10: Rệp sáp gây hại quả sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

- Tỉa bỏ những trái non bị nhiễm nặng.

- Không trồng xen với những cây bị nhiễm rệp sáp như mãng cầu (na)…

- Khi mật số rệp cao phun thuốc có chứa hoạt chất như: Buprofezin, Spirotetramat..

B. BỆNH HẠI      

1. Bệnh Phytophthora (thối rễ, nứt thân, nứt quả, chảy nhựa, chảy gôm...)

Tác nhân: Nấm Phytophthora palmivora, gây hại từ giai đoạn vườn ươm đến cây trưởng thành, cho quả; hại trên rễ, thân, cành, lá và quả.

Triệu chứng:

+ Trên rễ: Rễ non bị thối có màu đen, rễ chết dần làm cây phát triển chậm, sau đó nấm lan dần đến phần thân cây phía trên gây chảy nhựa thân, bộ lá chuyển màu vàng, cây không phát triển và chết dần.

Trên thân, cành: Nấm lây lan dần đến phần thân cây phía trên làm chảy nhựa trên bề mặt vỏ thân, vết bệnh ướt và nhựa có màu nâu. Vỏ thân và gỗ bên dưới bị chuyển sang màu hồng nhạt, có bớt tím, viền gợn sóng, bệnh lan dần vào bó mạch. Khi cạo lớp vỏ bị bệnh ra sẽ thấy phần gỗ có màu nâu sẫm dọc theo thân cành. Cây bị bệnh nặng sẽ không phát triển và chết dần.

Trên lá: Vết bệnh đầu tiên là những đốm đen nâu nhỏ trên mặt lá và lan rất nhanh, bộ lá chuyển màu vàng rồi sau vài ngày lá chuyển thành màu nâu, lá bị nhũn rồi khô dần và rụng theo từng cành hay một phía của cây.

Trên quả: Vết bệnh khởi đầu là một vài chấm nhỏ màu đen nâu, thường xuất hiện theo vị trí dọc theo chiều từ cuống quả trở xuống xung quanh quả, sau đó phát triển thành hình tròn hay loang lổ và có màu nâu trên vỏ quả. Khi quả già, vết bệnh nứt ra và phần thịt quả bên trong bị thối, có rất nhiều sợi nấm màu trắng trên vết bệnh và làm quả sầu riêng rụng trước khi chín.

Phương thức lan truyền nguồn bệnh:
Nấm thường lưu tồn trong đất, có khả năng thích ứng và tồn tại trong điều kiện bất lợi. sợi nấm và bào tử còn lưu tồn trong các vết bệnh trên thân, cành, lá, trái bị bệnh và các xác bã thực vật. Từ đây, nấm dễ dàng phát tán khi gặp điều kiện thuận lợi như: gió to, mưa nhiều, nấm sẽ lây lan, phát triển rất mạnh. Vườn bị ngập úng nước càng lâu thì áp lực bệnh càng lớn.


Hình 11: xì mủ trên thân, cành sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

* Biện pháp quản lý bệnh:

a. Đối với những vườn chưa bị bệnh hoặc bị bệnh nhẹ:

- Biện pháp canh tác:

+ Chọn đất trồng có khả năng thoát nước tốt trong mùa mưa; tạo rãnh thoát nước, không để nước ứ đọng lâu ngày ở gốc cây sầu riêng.

+ Trồng cây có mật độ vừa phải, khoảng cách từ 8 – 10 m giúp vườn thông thoáng, có ánh nắng xuyên vào để giảm ẩm độ, giảm áp lực nguồn bệnh.

+ Bón phân cân đối, sử dụng phân chuồng hoai mục và chế phẩm sinh học có chứa vi sinh vật có ích như nấm đối kháng Trichoderma để bón cho cây. Không bón phân hóa học trực tiếp lên rễ cây dễ gây ngộ độc phân.

+ Thường xuyên thăm đồng, vệ sinh vườn và thu gom tàn dư cây bị bệnh đem tiêu hủy; cắt tỉa các cành nhánh gần mặt đất, vệ sinh làm cỏ vùng góc tạo thông thoáng.

+ Trước khi vào mùa mưa, rắc vội bột nhằm khử trùng bề mặt vườn, rãnh thoát nước với lượng 01 tấn/ha. Mùa khô cần tủ gốc giữ ẩm cho cây.

Biện pháp sinh học: Phòng bệnh và tăng sức đề kháng cho cây bằng chế phẩm sinh học chứa nấm đối kháng Trichoderma và xạ khuẩn Streptomyces,… Các chế phẩm sinh học trên được bón kết hợp với các đợt bón phân cho cây.

Biện pháp hóa học: Áp dụng một hoặc kết hợp các biện pháp sau:
Quét gốc: Hàng năm tiến hành quét vôi nước hoặc dung dịch Bordeaux 1% quanh gốc vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa, độ cao 0,7 – 1 m tính từ mặt đất để hạn chế nấm lây nhiễm từ đất lên cây.
Tiêm truyền thuốc: Tiêm truyền thuốc BVTV để phòng chống bệnh, phương pháp, nồng độ và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Bôi thuốc: Đối với những cây có vết bệnh còn nhỏ, thâm đen và chảy gôm trên thân, cành thì dùng dao sắc bén cạo bỏ phần mô chết, bôi dung dịch thuốc có hoạt chất như: Metalaxyl, Mancozeb, Fosetyl – aluminiumthuốc gốc đồng, …lên mặt cắt và xung quanh. Nồng độ thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất. tiến hành cạo và bôi thuốc trong thời gian khô ráo.
Phun thuốc: Khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho bệnh phát sinh gây hại nặng cần phòng trừ bằng các loại thuốc có chứa một trong các hoạt chất: DimethomorphProbamocard. HCLFosetyl – aluminiumMetalaxyl, Mancozeb, Propineb, thuốc gốc đồng …trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành hằng năm. Liều lượng và cách sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì.
Trong những đợt mưa kéo dài, ẩm độ cao, có thể xử lý thuốc BVTV phòng bệnh lần 2 sau lần 1 từ 5 – 7 ngày.
Thuốc có hoạt chất Phosphorous acid xử lý theo phương pháp, nồng độ và liều lượng của nhà sản xuất.
b. Đối với những vườn chưa bị bệnh trung bình – nặng: 
- Hạn chế tưới nước, bón phân hóa học, phân bón lá và các loại chất kích thích ra hoa đậu quả.
- Xử lý các vết thâm đen trên thân chính hoặc cành lớn bằng cách cạo bỏ phần vỏ bên ngoài, sau đó quét thuốc có hoạt chất Metalaxyl lên phần đã cạo. Các đầu cành bị khô, chết ngọn xử lý bằng cách cưa bỏ, sau đó bôi vôi hoặc keo liền sẹo vào các vết cắt để năng chặn nấm bệnh tấn công và để bảo vệ mầm ngủ, giúp cây nhanh phục hồi.
- Sử dụng các loại thuốc hóa học có hoạt chất: Fosetyl – aluminiumCymoxanilProbamocard. HCL, DimethomorphMancozeb, Metalaxyl, Propineb, thuốc gốc đồng,…để xử lý nguồn nấm bệnh trên lá. Liều lượng và cách sử dụng theo khuyến cáo trên bao bì. 
Thuốc có hoạt chất Phosphorous acid xử lý theo phương pháp, nồng độ và liều lượng của nhà sản xuất.
2. Bệnh thán thư (Antracnose)
- Do nấm Collectotrichum zibethinum gây ra
- Thường bệnh xuất hiện trên cây ở vườn ươm đến cây 03 năm tuổi, những cây lớn nhưng kém phát triển, nhất là trong mùa nắng hay sau khi thu hoạch, chỉ xuất hiện trên lá già ở khu vực giữa tán trở xuống mặt đất.
- Triệu chứng: Vết bệnh thường bắt đầu từ mép lá hay từ chóp lá lan dần vào trong phần phiến lá có màu nâu đậm, vết bệnh điển hình là để lại các đường viền hình tròn có màu nâu đậm dọc theo hai bên gân chính của lá.

Hình 12: Bệnh thán thư trên lá sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)
Phòng trị:

- Tỉa bỏ và tiêu hủy những cành bị bệnh nặng.

- Cung cấp nước và phân bón đầy đủ cho cây sinh trưởng bình thường.

- Phun thuốc khi cây vừa xuất hiện bệnh bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như: Azoxystrobin, Propineb, Difenoconazole + Propiconazole …theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất.

3. Bệnh cháy lá chết ngọn (leaf blight)

- Do nấm Rhizoctonia sp. gây ra

- Bệnh thường xuất hiện và phát triển mạnh trong mùa mưa, không những gây hại cây ở vườn ươm mà còn gây hại trên cả cây lớn.

- Triệu chứng: bệnh lan dần từ lá già bên dưới lên trên làm các lá bị phỏng nước sôi, sau đó có màu vàng nâu, cuối cùng chuyển sang màu trắng xám. Các lá bệnh thường dính lại với nhau, khi gỡ ra thấy có các tơ màu vàng nâu kết dính các lá lại với nhau, đôi khi có những hạch tròn màu nâu nhạt. Nếu gặp mưa dầm, ẩm độ không khí cao thì vết bệnh có màu đen và nhũn ra.


Hình 13: Bệnh cháy lá chết ngọn trên sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị:

+ Vệ sinh, thu dọn và tiêu hủy các cành lá bị bệnh dưới tán cây.

+ Tỉa cành gần mặt đất tạo cho cây thông thoáng, hạn chế bệnh.

+ Khi thấy vườn chớm bệnh, phun thuốc chứa hoạt chất như: Hexaconazole, Validamycin, Difenoconazole + Propiconazole  … hoặc thuốc gốc đồng theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất..

4. Bệnh đốm rong (Algal leaf spot)

- Do nấm Cephaleuros virescens gây ra

- Bệnh tấn công trên lá và các cành cây ở các vườn sầu riêng chăm sóc kém

- Triệu chứng: Vết bệnh có hình tròn màu gạch tôm đường kính từ 0,2 – 1 cm và hơi nhô lên, nếu nhìn kỹ thấy nhiều sợi tơ trên vết bệnh thường xuất hiện ở mặt trên của lá, rong hút dinh dưỡng và làm lá kém phát triển, giảm quang hợp. Bệnh còn tấn công trên cành cây, vết bệnh cũng tương tự như trên lá, làm cành non bị nứt ra, vị trí nứt này sẽ dễ nhiễm các loại nấm khác đặc biệt là nấm Phytophthora palmivora trong mùa mưa.


Hình 14: Đốm rong trên sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Phòng trị: Tỉa và tiêu hủy các cành bị bệnh và cành nằm bên trong tán không cho trái; phun các loại thuốc gốc đồng khác theo liều lượng khuyến cáo.

5. Bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor)

- Nấm thường tấn công trên các cành cây rậm rạp tại chảng 2, chảng 3 của cây.

- Nấm thường tạo một lớp tơ nấm lúc đầu có màu trắng đục sau đó chuyền sang màu hồng nhạt phát triển xung quanh vỏ cành cây, nấm hút dinh dưỡng làm vỏ cành chỗ bị hại khô và rụng lá cả cành, cuối cùng làm cành chết khô.


Hình 15: Nấm hồng trên sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

- Phòng trị:

+ Cần trồng cây với mật độ thưa, tỉa cành cho cây thông thoáng, tỉa bỏ và tiêu hủy các cành bị bệnh.

+ Phun ngừa các loại thuốc như: Difenoconazole + Propiconazole, thuốc gốc đồng….. theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất.

6. Bệnh thối hoa (do nấm Fusarium sp.)

- Hoa bị bệnh tấn công có màu nâu đen, vết bệnh hơi lõm xuống. Nấm tấn công trên hai mảnh vỏ bao quanh hoa sầu riêng, sau đó lan dần vào trong phần cánh hoa làm hoa thối và rụng đi.

- Phòng trị:

+ Tỉa cành tạo tán cho cây và vườn cây thông thoáng, nên tỉa bớt và để các hoa trên cành thưa và rời nhau trên cành, vệ sinh và tiêu hủy các hoa nhiễm bệnh  rụng dưới tán cây.

+ Phun thuốc phòng bệnh khi hoa chuẩn bị nở có hoạt chất như: Hexaconazole, Mancozeb+Metalaxyl, Difenoconazole + Propiconazole,… theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất...

 

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và hoạt chất thuốc BVTV sử dụng phòng trừ:

Giai đoạn sinh trưởng

Đối tượng

Hoạt chất thuốc BVTV sử dụng phòng trừ

Cây con

1. Xén tóc

- Diafenthiuron,

- Chlorantraniliprole, …

2. Rầy nhảy

- Thiamethoxam,

- Clothianidin,

- Cyantraniliprole,

- Dinotefuran,

- Liuyangmycin,

- Oxymatrine

3. Nhện đỏ

- Abamectin,

- Azadirachtin,

- Clofentezine,

- Diafenthiuron,

- Emamectin benzoate …

4. Bệnh Phytophthora

- Dimethomorph,

- Probamocard. HCL,

- Fosetyl – aluminium,

- Metalaxyl,

- Mancozeb,

- Propineb,

- Phosphorous acid,

- Cymoxanil,

- Thuốc gốc đồng …

5. Bệnh thán thư

- Azoxystrobin,

- Propineb,

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole …

6. Bệnh cháy lá chết ngọn

- Hexaconazole,

- Validamycin,

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole  …

7. Bệnh đốm rong

- Thuốc gốc đồng

8. Bệnh nấm hồng

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole,

- Thuốc gốc đồng, …..

Ra lá non, đọt non

Các đối tượng như ở giai đoạn cây con

Ra hoa

1. Bệnh thối hoa

- Hexaconazole,

- Hợp chất Mancozeb+Metalaxyl,

- Hợp chất Difenoconazole + Propiconazole,…

2. Các đối tượng như ở giai đoạn cây con

Cho trái

1. Sâu đục quả 

- Spinosad,

- Emamectin benzoate,

- Abamectin,

- Oxymatrine…

2. Rệp sáp

- Buprofezin,

- Spirotetramat....

3. Các đối tượng như ở giai đoạn cây con


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

VI. Thu hoạch

- Sau trồng 05 năm, sầu riêng bắt đầu cho thu hoạch, thường cho quả 01 lần trong năm. Sau khi ra hoa khoảng 3 – 5 tháng, sầu riêng sẽ chín hoàn toàn và tự rơi xuống đất. Tuy nhiên, khoảng thời gian này có sự khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố: giống, nhiệt độ, lượng mưa, chế độ chăm sóc và vị trí địa lý của vườn cây. Ví dụ: thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch của một số giống phổ biến hiện nay: RI 6 (105 – 110 ngày), Monthong (105 – 120 ngày) ...

Để xác định đúng thời điểm thu hoạch cần kết hợp nhiều đặc điểm:

+ Màu sắc vỏ quả: sầu riêng khi chưa chín, vỏ quả có màu xanh hoặc nâu sáng. Khi quả bắt đầu chín, đầu của gai quả chuyển sang màu nâu đậm và phần vỏ màu nâu sáng;

+ Khi quả chín, khoảng cách giữa các gai rộng dần ra;

+ Đầu gai quả trở nên mềm và dẻo hơn;

+ Tầng rời của cuống quả phồng lên rõ rệt khi quả chín (có thể nhận thấy rất rõ trên giống Monthong)

+ Nhựa chảy ra từ cuống quả có đặc điểm: màu trong, lỏng, có vị ngọt khi quả chín. Nếu nhựa chảy ra có đặc điểm: đặc, dính và không có vị ngọt thì quả còn xanh.

+ Ngoài ra, còn có một số kinh nghiệm như nghe tiếng vỗ vào quả, độ cứng của cuống quả, độ sáng của đường viền ngoài quả...

Kỹ thuật thu hái: Khi quả đạt độ chín thích hợp, dùng dao thật bén cắt cuống cách tầng rời ít nhất 3 – 4 cm (hình 15) rồi đặt vào các dụng cụ chứa đựng, tuyệt đối không nên để quả rơi xuống đất để tránh bị dính đất, bụi, các nguồn gây bệnh, sự va chạm làm trầy xước quả và giữ quả nơi thoáng mát.


Hình 16: Vị trí cắt khi thu hoạch sầu riêng (Nguồn: sưu tầm)

Với những cây lâu năm không thể với tới được thì dùng các dụng cụ như: thang, sào hái...với các vườn trên đất dốc cần buộc quả khi còn xanh vào các cành cây hoặc thân cây gần đó để khi quả chín tự nhiên sẽ không bị rơi xuống đất.

- Đảm bảo thời gian cách ly các loại thuốc BVTV đã sử dụng trước khi thu hoạch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. GS. TSKH Trần Thế Tục và TS Chu Doãn Thành, 2004. Cây sầu riêng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
  2. Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền nam. Kỹ thuật trồng sầu riêng.
  3. Cục Bảo vệ thực vật, 2017. Quy trình kỹ thuật quản lý bệnh Phytophthora hại sầu riêng.
  4.  Thông tin từ Hội Sầu riêng Việt Nam
  5. Chi cục Trồng trọt và BVTV
Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoàiNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtKỹ thuật trồng và chăm sóc cây xoài/PublishingImages/2019-04/Cây xoài.jpg
Xoài là giống cây chịu hạn. Tuy nhiên, để đạt năng suất cao cần phải đảm bảo hệ thống tưới tiêu giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Xoài là cây ưa sáng, do đó phải đảm bảo khoảng cách giữa các cây trong vườn, cắt tỉa cành lá, tạo thông thoáng cho cây phát triển tốt.
Nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển trong khoảng 15-36oC. Nhiệt độ trên hoặc dưới ngưỡng này cây xoài sinh trưởng chậm, kém phát triển.
4/29/2019 7:00 PMYesĐã ban hành

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY XOÀI

I. YÊU CẦU SINH THÁI

1. Đất trồng:

Xoài thích hợp trồng trên đất phù sa, sét nhẹ, đất thịt pha cát và đặc biệt là đất nhiều hữu cơ, độ pH từ 5,5-7,2.

2. Nước

Xoài là giống cây chịu hạn. Tuy nhiên, để đạt năng suất cao cần phải đảm bảo hệ thống tưới tiêu giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.

3. Ánh sáng

Xoài là cây ưa sáng, do đó phải đảm bảo khoảng cách giữa các cây trong vườn, cắt tỉa cành lá, tạo thông thoáng cho cây phát triển tốt.

4. Nhiệt độ

Nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển trong khoảng 15-36oC. Nhiệt độ trên hoặc dưới ngưỡng này cây xoài sinh trưởng chậm, kém phát triển.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Đất nông nghiệp trên địa bàn Tây Ninh phần lớn có độ pH từ 5 – 5,5. Nguồn nước tưới phong phú như thủy lợi, nước ngầm, … trong đó nguồn nước ngầm thường có độ pH thấp. Do đó, cần tiến hành đánh giá điều kiện tự nhiên, phân tích đất, nguồn nước ngầm trước khi quyết định đầu tư trồng.

Trong trường hợp đất, nước tưới có độ pH thấp, cần có những giải pháp cải tạo, nâng độ pH nhằm tạo điều kiện thuận lợi cây xoài sinh trưởng phát triển tốt. Một trong số giải pháp để nâng pH đất là bón vôi. Bên cạnh đó, hàng năm nên kiểm tra độ pH, nếu độ pH trong đất vẫn chưa về ngưỡng thích hợp, tiếp tục bổ sung vôi.

+ Đối với nước ngầm có độ pH thấp không nên sử dụng bơm tưới trực tiếp vào cây trồng, cần thiết kế hệ thống mương tưới, bể chứa và xử lý vôi (có thể dùng CaCO3, Ca(OH)2, CaO, …) để cải thiện độ pH về ngưỡng thích hợp, sau đó tiến hành bơm tưới cho cây trồng.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

STT

TÊN GIỐNG

ĐẶC ĐIỂM

Trọng lượng trái (g)/trái

Đặc điểm cơ bản

Mùi vị

1

Xoài cát chu

450 – 550

Trái tròn, ít xơ, độ dai nhẹ, có màu vàng hơi đỏ, ra hoa tập trung, năng suất cao. Độ ngọt 18 - 20%, tỷ lệ phần ăn được cao 78 - 80%.

Ngọt, hương vị ngon

2

Xoài cát hòa lộc

600 – 700

Cơm dày, thịt trái vàng, dẽ, hột dẹp, không xơ, được coi là giống xoài có phẩm chất ngon nhất. Độ ngọt 20 - 22%, tỷ lệ thịt ăn được cao 80 - 84%.

Ngọt, hương vị ngon

 

3

Xoài thái xanh

300 – 400

 Trái tròn thuôn dài và hơi cong ở đuôi, thịt giòn. ăn xanh hay ăn chín đều phù hợp. Cho năng suất cao, không kén đất.

Vị ngọt, mùi thơm đậm

4

Xoài Đài loan xanh

600 – 2.000

Vỏ xanh ửng hồng, năng suất cao, dễ đậu trái, ít sâu bệnh. Cây cho trái sớm, trồng 12 - 18 tháng cây cho trái. Cây có khả năng cho trái quanh năm, không bị mất mùa như một số giống xoài khác. Trái đồng dạng, đều, da xanh sáng và đẹp mắt. thịt chắc, ít xơ, hạt mỏng, vị ngọt đậm.

Thuộc nhóm

xoài ăn sống

ngon.

5

Xoài Đài loan đỏ

500 – 2.000

Cho trái sớm (12 - 18 tháng sau khi trồng). Dễ ra hoa và đậu trái, có khả năng cho trái quanh năm. thịt chắc, ít xơ, hạt mỏng, vị ngọt đậm. Vỏ trái có màu tím đỏ.

Ngoài ăn

sống, ăn chín cũng thơm ngon

6

Xoài Úc

600 – 900

Chín rất thơm, dạng trái bầu tròn rất đẹp, khi chín có màu vàng ửng hồng rất đẹp trên u vai quả. Thời gian cho trái: 18 - 20 tháng

Ngọt, hương vị ngon

 


IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

Thời vụ trồng:

Nếu có điều kiện tưới nước có thể trồng quanh năm, tuy nhiên tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa cây phát triển tốt hơn và giảm chi phí tưới nước.

Mật độ:

Khoảng cách: Cây cách cây 7m, hàng cách hàng 8m, tương đương mật độ 178 cây/ha.

2. Chọn giống:

Chọn mua ở những cơ sở có uy tín, chọn cây khỏe mạnh, không nhiễm sâu, bệnh, chọn nhân giống theo phương pháp vô tính (gốc ghép) để rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, cây ra trái ổn định (sau 3 năm cho trái).

Lưu ý: Chọn những cây giống có gốc ghép được trồng từ hạt của những cây xoài đã được trồng nhiều năm, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của địa phương nhằm giúp cây phát triển tốt về sau.

Tiêu chí chọn cây ghép tốt:

+ Từ chỗ ghép trở lên phải cao 20-40cm.

+ Chỗ ghép phải lành lặn.

+ Cây giống phải cao từ 60cm đến 1,5m.

+ Cây không có dấu hiệu nhiễm sâu, bệnh.

+ Tên giống phải rõ ràng, cây giống phải có treo biển tên giống cây và tên vườn ươm.

+ Vườn ươm phải được cấp chứng chỉ, có vườn đầu dòng chất lượng.


3. Kỹ thuật trồng

a. Chuẩn bị đất và cách trồng

Chuẩn bị đất: Trước khi trồng từ 2-4 tuần, đào hố 70x70x70 cm. Nếu vùng đất tốt kích thước hố có thể nhỏ hơn. Lượng phân bón lót cho 1 hố: đất mặt + 20-30 kg  phân chuồng mục + 1-2 kg lân + 0,3-0,5 kg vôi bột. Trộn đều phân với đất, lấp bằng miệng hố.

Cách trồng: Đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, rạch bỏ túi bầu nilon và đặt bầu cây vào giữa hố, lấp đất vừa bằng cổ rễ, nén chặt xung quanh. Đối với vùng đất cao, cây được trồng bằng mặt, nghĩa là sau khi trồng xong mép phía trên của bầu đất bằng với mặt đất. Ở vùng đất thấp cây được trồng nổi nghĩa là từng cây được trồng trên các ụ đất cao từ  0,3 - 0,8 m so với mặt bằng khu đất để tạo môi trường cho bộ rễ phát triển.

Cắm cọc: Cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc dây để tránh lay gốc làm  chết cây. Sau khi trồng tủ xung quanh gốc bằng rơm, rác mục và tưới nước giữ ẩm cho cây liên tục trong một tháng đầu để tạo độ ẩm cần thiết cho rễ phát triển. Sau trồng 1 tháng cây ổn định, rạch nilon ở vết ghép để cây sinh trưởng, phát triển.

Trồng dặm: Sau khi trồng khoảng 1 tháng, nếu cây chết phải trồng dặm. Trồng tương tự như lúc trồng lần đầu.

Tưới nước: Nếu trồng xoài vào mùa mưa thì không cần tưới, ngoài ra phải tưới nước, tránh để cây khô.

b. Tủ gốc và giữ ẩm:

Để hạn chế cỏ dại và bốc hơi nước trong mùa khô, dùng rơm, cỏ khô tủ lại xung quanh gốc, tủ phần tán cây có bán kính 0,8-1m, và để trống phần diện tích cách gốc 20 cm để hạn chế côn trùng, sâu bọ làm tổ, phá hoại gốc cây.

c. Tỉa cành và tạo tán:

- Tạo tán: Sau khi trồng khoảng 8-12 tháng, cây có chiều cao 1-1,2 m tiến hành bấm ngọn, chừa lại độ cao của thân chính  0,8-1 m. Khi ra cơi đọt 1 chừa lại 2-3 chồi khỏe và phân bố đều tán cây, tiếp tục thực hiện kỹ thuật này cho cơi đọt 2, đợt cơi đọt 3 ngưng tỉa cành, để đảm bảo bộ khung cây xoài hoàn chỉnh và cân đối.

- Tỉa cành: Sau khi thu hoạch xong cần cắt bỏ đồng loạt những đọt đã mang trái và không mang trái (dài 10-20cm) ở vụ trước, cắt nước 2 ngày, sau đó tưới nước lại bình thường, giúp cây ra đọt non đều, dễ kích thích ra hoa đồng loạt.

Lưu ý: Cắt tỉa những cành mọc bên trong tán, cành quá gần mặt đất, cành sâu bệnh, cành không hiệu quả và cuống hoa, nhánh vụn của mùa trước.

4. Phân bón:

Tuổi cây

Ure (g/cây)

Super lân

(g/cây)

Sunfat Kali

(g/cây)

Phân hữu cơ

(kg)

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

hơn 10

150

300

450

600

750

900

1050

1200

1350

1500

2.000 - 4.000

300

600

900

1200

1500

1800

2100

2400

2700

3000

3.000 - 6.000

100

200

300

400

500

600

700

800

900

1000

1.300 - 2.600

30-60 kg/cây/năm













Công thức phân bón cho cây xoài có thể thay đổi, tăng giảm tuỳ theo điều kiện: tuổi cây, đất, sản lượng thu hoạch vụ trước... Có thể tham khảo lượng phân bón sau: 

Thời kỳ bón:

- Thời kỳ xây dựng cơ bản: Lượng phân của năm 1 nên được chia đều thành 5-6 lần, bón và cung cấp cho cây dưới dạng dung dịch tưới quanh gốc cây. Lượng phân của năm thứ 2 cũng nên được chia đều 5-6 lần bón.

- Thời kỳ kinh doanh: Từ khi cây bắt đầu cho trái việc cung cấp phân bón nên tương ứng với các giai đoạn phát triển của cây.

+ Lần 1: Bón ngay sau tỉa cành sau thu hoạch: 60% lượng đạm cả năm + 60% lượng lân + 40% lượng kali.

+ Lần 2: Khi chuẩn bị cho xoài ra hoa, bón 40% lượng lân còn lại + 30 % lượng kali.

+ Lần 3: 3 tuần sau khi đậu trái (trái có đường kính khoảng 1cm) bón 20 % lượng đạm +15 % lượng kali + 25% phân hữu cơ.

+ Lần 4: khoảng 8-10 tuần sau khi đậu trái, bón hết lượng phân còn lại.

- Tưới đẫm cho cây sau mỗi lần bón phân.

- Lượng vôi bón từ 5-8 tạ/ha/năm. Bón vôi vào đầu mùa mưa, rải vôi đều trên mặt đất sau đó cày đất bên ngoài tán cây sâu 20-25 cm cho vôi phân tán đều vào tầng mặt. Xới nhẹ sâu đến 5-7 cm bên trong tán cây.

- Phân hữu cơ: Sử dụng phân hoai mục, tốt nhất nên bổ sung thêm các nấm sinh học đối kháng Trichoderma để kiểm soát các loài nấm gây hại trong đất. Chia làm 2 lần bón:

+ Lần 1: Sau khi thu hoạch, bón 75% liều lượng.

+ Lần 2: 6 tuần sau đậu trái, bón lượng phân còn lại.

- Các nguyên tố vi lượng phải được cung cấp hàng năm cho cây dưới dạng phun qua lá 4 lần/năm.

+ Lần 1: Sau khi thu hoạch, khi đợt chồi mới phát sinh và thuần thục, lá đã chuyển sang đậm.

+ Lần 2: Khi cây đã ra hoa đều, phát hoa dài 10 cm.

+ Lần 3 và 4: 1 và 2 tháng sau khi đậu trái.

Cách bón: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu tán cây, sâu 10-20 cm cho phân vào rãnh và lấp đất lại, tưới nước.

Lưu ý:

+ Những năm được mùa, xoài cho nhiều quả, cần phun bổ sung canxi nitrat và sunfat kali.

+ Nếu thấy cây ra nhiều lá và lá bóng láng cần giảm bớt lượng phân đạm.

+ Trước khi ra hoa nên phun các loại phân bón lá hoặc phân vi lượng để đảm bảo cho xoài có đủ các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết và kích thích cho cây ra nhiều hoa, đậu nhiều trái.

+ Xoài bị thiếu kali cho trái nhỏ, chát. Vì vậy cần bón đủ kali để trái to,  ngọt.
5. Tưới nước và quản lý cỏ dại:

-  Tưới nước:

+ Giai đoạn KTCB: Việc tưới nước có thể tiến hành quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển. Đặc biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4 ngày/lần.

+ Giai đoạn kinh doanh: Số lần tưới ít đi nhưng phải duy trì được độ ẩm thường xuyên cho diện tích đất xung quanh gốc. Trong giai đoạn trước xử lý ra hoa 2 tháng, xoài cần trải qua giai đoạn khô hạn để phân hóa mầm hoa.

+ Trong điều kiện thời tiết khô, nắng nóng, cần thiết tưới phun vào tán cây thường xuyên để hạn chế sự phát sinh của nhóm côn trùng chích hút và nhện gây hại.

- Quản lý cỏ dại:

Làm cỏ bằng phương pháp cơ học (thủ công, dao, cuốc) xung quanh gốc cây; dùng máy cắt cỏ trên phần diện tích còn lại, hạn chế dùng thuốc BVTV diệt cỏ nhằm hạn chế sự rửa trôi dinh dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật trong đất phát triển. Nên kết hợp việc làm cỏ và bón phân cùng lúc. Có thể trồng xen cây họ đậu để cải tạo đất và tạo nguồn phân hữu cơ.

6. Xử lý ra hoa

a. Các yếu tố ảnh hưởng lên sự ra hoa xoài:

*  Yếu tố môi trường:

- Môi trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sự ra hoa và năng suất của cây.

+  Nhiệt độ: Nhiệt độ thấp kích thích tạo mầm hoa và làm cho cây trổ bông, những năm không lạnh cây sẽ ra hoa ít và thời gian ra hoa kéo dài.

Tạo sự khô hạn: Biện pháp "xiết nước" để gây "sốc" cho cây ra hoa (rất hiệu quả ở giai đoạn kích thích ra chồi đồng loạt). Nếu áp dụng được biện pháp này, cây xoài sẽ ra hoa sớm và đáp ứng tốt với việc xử lý ra hoa nghịch mùa.

* Tình trạng sinh trưởng và năng suất năm trước của cây:

- Tình trạng sinh trưởng của cây và năng suất năm trước có ảnh huởng rất lớn lên sự ra hoa xoài.

- Cây xoài bị kiệt sức do đậu trái quá nhiều hoặc cho năng suất cao trong năm trước sẽ làm giảm khả năng đâm chồi và phân hóa mầm hoa ở năm tiếp theo. Do đó, những năm cây đậu trái quá nhiều cần phải tỉa bớt trái và phải bón phân nhiều hơn để cây không bị suy kiệt ở năm tiếp theo.

- Đối với cây cho trái ít ở năm trước hoặc cây đang phát triển thân lá mạnh rất khó xử lý ra hoa, nên hạn chế bón lượng phân đạm, kết hợp với phương pháp tạo sự khô hạn và sử dụng Paclobutrazol giúp cho cây xoài ra hoa tốt hơn.

b. Quy trình xử lý ra hoa xoài:

- Có nhiều biện pháp để kích thích ra hoa xoài như: xông khói, khoanh cành, xử lý hóa chất như Ethephon, Nitrat kali hay Paclobutrazol, …

Quy trình xử lý ra hoa xoài sử dụng Paclobutrazol:

* Giai đoạn sau thu hoạch:

- Tỉa cành: Cắt bỏ những cành đã ra hoa hoặc không ra hoa mùa trước, cành bị sâu bệnh, ốm yếu, bị che khuất bên trong tán cây và cành bên ngoài tán, che rợp lẫn nhau. Bón phân lần 1.

- Bón phân lần 2: Theo khuyến cáo ở mục 4. Phân bón.

- Sau khi bón phân cần tưới nước 2-3 ngày/lần giúp cây hấp thụ phân tốt.

* Giai đoạn ra đọt non: Đây là đợt đọt quan trọng quyết định sự ra hoa, do đó cần chú ý phòng trừ các loại sâu bệnh để bảo vệ đọt non. Các loại sâu bệnh hại cần chú ý: Bệnh thán thư, bọ cắt lá, sâu đục cành,....  

* Xử lý ra hoa:

- Xử lý Paclobutrazol khi lá non phát triển hoàn toàn (được 10-15 ngày tuổi). Pha hoạt chất Paclobutrazol nguyên chất với liều lượng 1-2 gr/1m đường kính tán với 10-20 lít nước tưới đều xung quanh tán cây. Sau đó tưới nước (1 ngày/lần) trong vòng 10 ngày và ngưng tưới đến khi cây ra hoa. Mục đích của giai đoạn này là làm giảm sự sinh trưởng của cây, thúc đẩy sự hình thành mầm hoa.

- 25-30 ngày sau khi xử lý Paclobutrazol thì phun MKP 0-52-34 với liều lượng 50-100 gr/10 lít nước, cách 7 ngày phun 1 lần, phun 2 - 3 lần. Mục đích của giai đoạn này là làm giảm sự sinh trưởng của cây, thúc đẩy hình thành mầm hoa.

- 45-60 ngày sau khi xử lý Paclobutrazol thì phun KNO3 (100g/10 lít nước), 7 ngày sau phun lần 2, liều lượng: KNO3 (50g/10 lít nước) + MKP (50g/10 lít nước). Phun khi thời tiết khô ráo, chồi ngọn nhô cao, lá có màu xanh đậm, mép lá gợn sóng.

* Giai đoạn ra hoa:

- Phun thuốc phòng ngừa rầy bông xoài, bọ trĩ và bệnh thán thư khi phát hoa đạt chiều dài: 2-3 cm, đạt kích thước tối đa.

- Trong giai đoạn 7-10 ngày sau khi nhú mầm hoa, có thể bón thúc phát hoa giúp phát hoa phát triển tốt. Bón phân N-P-K với tỷ lệ 1:1:1, liều lượng 200-300g/cây.

- Giai đoạn hoa đạt kích thước tối đa, có thể phun ngừa bệnh thán thư và các sản phẩm tăng đậu trái có chứa Canxi Bo hay Botrac.

* Giai đoạn đậu trái "rớt nhụy":

- Hoa xoài thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng như ruồi, ong, ... chỉ phun các loại thuốc trừ sâu, rầy trước giai đoạn hoa nở 5-7 ngày và sau khi đậu trái, tránh phun trong giai đoạn hoa đang nở để không làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa.

- Chú ý: nếu gặp thời tiết xấu có thể phun ngừa bệnh thán thư.

* Giai đoạn phát triển trái:

 - Giai đoạn trứng cá (7-10 ngày sau khi đậu trái/NSKĐT): phun phân bón lá hoặc Canxi nitrat 0,5%, ... để giảm rụng trái non.

 Giai đoạn 30 NSKĐT: Để giảm rụng trái non, có thể sử dụng GA3 phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.

- Giai đoạn 45 NSKĐT: Phun GA3, Canxi nitrat hoặc Clorua canxi với liều lượng 10-20 g/8 lít nước. Phun 2-3 lần cách nhau 10 ngày/lần để hạn chế nứt trái và làm tăng phẩm chất trái.

- Giai đoạn 70-80 NSKĐT: Phun Nitrate kali nồng độ 1% để làm tăng phẩm chất trái. Giai đoạn này nếu thấy cây phát triển yếu, có thể bón thêm phân N-P-K có tỷ lệ 1:1:2 như 14:14:21 với liều lượng 0.5kg/cây.

Lưu ý:

+ Xoài ra hoa vào mùa khô (tháng 12-3), nên tưới nước đầy đủ từ 10-15 ngày/lần để giảm rụng trái và tăng kích thước trái. Thời gian tưới kéo dài ít nhất là 7 tuần từ khi hoa trổ.

+ Trong giai đoạn này, xoài rất dễ bị các sinh vật, bệnh tấn công như: Rầy bông xoài, sâu đo ăn bông, bọ trĩ, sâu đục trái (hột), bệnh thán thư, ...   

7. Tỉa trái, bao trái

Tỉa trái: Khi xoài đậu trái non, tiến hành tỉa trái, chừa lại những trái phát triển đều đặn để tiến hành bao trái, chỉ để 3-4 trái/cuống.

Bao trái: Biện pháp bao trái rất có hiệu quả không chỉ ngăn ngừa sự gây hại của sâu đục trái, ruồi đục trái, bệnh da ếch, bệnh thán thư trên trái làm cho trái có màu sắc đẹp. Tiến hành bao trái vào giai đoạn 30-45 ngày sau khi đậu trái. Khi bao trái xếp miệng bao gọn gàng, kín và tạo thành hình mái nhà để không cho nước vào tiếp xúc với trái xoài. Khi thu hoạch xong đợt 1 phải phơi khô, xếp gọn, thẳng và xử lý thuốc trừ nấm bệnh trước khi bao đợt 2.

* Mục đích bao trái:

+ Tạo ra sản phẩm sạch có chất lượng, ngăn chặn sự tấn công của côn trùng, bệnh hại như: sâu đục trái, ruồi đục quả, rệp sáp, bệnh thán thư, bệnh đốm da ếch, bệnh nứt trái xì mủ,

+ Hạn chế được số lần phun thuốc hóa học từ 5-7 lần/vụ, giúp vỏ trái bóng đẹp, bán được giá cao, góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, giúp giảm ô nhiễm môi trường và không tồn dư thuốc BVTV trên trái.

* Lưu ý: Trước khi bao trái nên tiến hành phun thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh.

* Một số nguyên nhân dẫn đến xử lý ra hoa không thành công:

+ Sử dụng GA3 trước khi cây ra hoa.

+ Sử dụng Paclobutrazol cho cây không đúng thời điểm (quá sớm), cây chưa phục hồi kịp, dẫn đến tỷ lệ ra hoa thấp và quả nhỏ.

+ Xử lý ra hoa tùy thuộc vào tuổi của cây và tình trạnh sinh trưởng của cây (cây còn nhỏ (3-4 năm) hoặc cây quá suy trong quá trình cho trái năm trước, làm hiệu quả không cao).

+Tưới Paclobutrazol không đúng cách: Nếu trồng xoài trên đất có hàm lượng xét cao, cần phải làm cho đất tơi xốp trước khi tưới Paclobutrazol, tránh làm thất thoát khi bị chảy tràn ra phía ngoài tán cây. Nếu đất cát nhiều thì nên chia nhỏ số lần tưới thuốc, cho thuốc ngấm từ từ, tránh tình trạng dung dịch thuốc thấm quá sâu vào đất.

+ Bón phân quá nhiều đạm trong quá trình xử lý ra hoa làm cho cây ra lá hoặc hình thành bông lá.

+ Xử lý ra hoa trong điều kiện thời tiết mưa nhiều cũng gây hiện tượng cây ra lá nhiều gây hạn chế ra hoa.

+ Cắt tỉa cành nhiều, làm cho cây ra hoa nhiều trong vụ hiện tại nhưng lại làm mất sức cây, hoa ít vào vụ sau.

+ Xác định đúng thời điểm phun thuốc BVTV (thuốc sâu, bệnh) để đạt hiệu quả cao.

+ Ở giai đoạn gần thu hoạch, hạn chế phun thuốc BVTV, nếu mật số sâu bệnh hại quá cao thì hạn chế sử dụng thuốc BVTV có đặc tính lưu dẫn và phải tuyệt đối tuân thủ thời gian cách ly theo hướng dẫn trên bao bì để bảo đảm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.

+ Thường xuyên luân phiên các nhóm thuốc với nhau, tránh hiện tượng kháng thuốc.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

A. SÂU HẠI

1.1 Sâu đục trái (Deanolis Albizonalis)

- Khi trái bị đục, ở chóp trái có chất lỏng tiết ra từ vết đục, sau đó sẽ có chấm đen nhỏ và dần dần chấm đen này lan rộng ra. Thoạt nhìn, có thể lầm tưởng là triệu chứng của bệnh. Ấu trùng tuổi nhỏ thích ăn phần thịt trái nhưng khi lớn, sâu tấn công chủ yếu phần hột. Ngoài ra, từ vết đục của sâu còn tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn phát triển làm trái xoài bị thối nhanh, vết thối bắt đầu từ phần chóp trái đi lên (phân biệt với bệnh thối trái thì vết thối từ trên cuống trái lan xuống). Khi sâu vào bên trong ăn hết phần hột, chúng sẽ di chuyển sang những trái khác. Trái xoài bị sâu đục trái phá hại thì phần chóp trái có thể bị biến dạng, cong lại. Nếu sâu phá hại lúc trái nhỏ thì làm trái rụng, nhưng ở giai đoạn trái lớn mặc dù bị thối nửa trái, trái vẫn còn dính trên cây. Thường trong mỗi trái có từ 1-2 con sâu nhưng ở những vùng mật số sâu cao có thể tìm thấy 4-5 con/trái. Thành trùng hoạt động về đêm và đẻ trứng trên những trái khuất ánh sáng, ban ngày ẩn trốn dưới các lá cây nên rất khó phát hiện.

- Sâu đục trái là một trong những đối tượng kiểm dịch của các nước. Chúng có thể làm thiệt hại năng suất lên đến 100% nếu không quản lý kịp thời.

 

Phòng trị:

- Đặc tính sâu đục trái gây hại phần trong của trái nên rất khó phòng trừ, biện pháp phòng tốt sẽ làm giảm được tác hại của chúng:

+ Nên tỉa cành, tạo tán để tạo thông thoáng cho vườn xoài.

+ Thu lượm những trái bị sâu (còn trên cây hay rụng xuống đất) đem tiêu hủy vì sâu có thể còn nằm trong trái.

+ Bao trái. Thời gian bao trái tốt nhất là 35-40 ngày sau đậu trái. Đây cũng là biện pháp tốt để hạn chế một số đối tượng khác như: bệnh da ếch, đốm vòng, thán thư và ruồi đục trái.

1.2 Ruồi đục trái (Bactrocera spp.)

Đây là loài đa thực, gây hại trên rất nhiều loài cây ăn trái. Ruồi thích đẻ trứng trên trái chín, nhưng cũng đẻ cả trên trái còn xanh. Vỏ trái nơi ruồi đục có màu đen, mềm, ứa nhựa hấp dẫn côn trùng, nấm bệnh gây hại làm trái bị biến màu, thối. Trái bị ruồi đục có thể rụng trước khi chín hoặc tiếp tục neo trên cây. Nếu trái còn trên cây, giá trị thương phẩm giảm mạnh do thịt trái bị thối.


Phòng trị:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên để loại bỏ cây dại trong vườn, thu lượm và đem tiêu hủy toàn bộ trái rụng trên mặt đất và trái còn đeo trên cây vì là nơi ruồi lưu tồn trong vườn. Tiêu hủy bằng cách đốt hoặc đem chôn sâu ít nhất 15 cm trong đất kết hợp rải vôi bột.

+ Bao trái, không trồng xen các loại cây ăn trái khác như: ổi, đu đủ, cam quýt, nhãn trong vườn xoài.

+ Dùng một số thuốc dẫn dụ có hoạt chất: Methyl eugenol + Dibrom, Methyl eugenol + Naled, Protein thủy phân,…để treo xung quanh vườn. Nên vận động, khuyến khích các nhà vườn làm đồng loạt để đạt hiệu quả phòng trừ cao..

1.3 Rầy bông xoài (Idiocerus niveoparsus)

Rầy bông xoài hiện diện suốt năm trên cây trong những vết nứt của cây và mật số gia tăng khi cây ra lá non đến giai đoạn trổ bông sau đó mật số sẽ giảm dần khi ra trái non. Rầy đẻ trứng, chích hút làm bông khô và rụng bông. Ngoài ra từ vết chích hút dịch nhựa sẽ tươm ra, kết hợp với chất thải của rầy trên lá, bông, cành tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bồ hóng phát triển, che phủ bề mặt lá làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, làm giảm giá trị thương phẩm của trái sau này. Tùy theo mật số hiện diện, rầy có thể làm giảm năng suất từ 20-100%.

Phòng trị:

+ Tỉa cành, bón phân cân đối, vệ sinh vườn, tạo điều kiện thông thoáng để hạn chế sự phát triển của rầy.

+ Trước giai đoạn ra bông từ 1-2 tuần, sử dụng bẫy vàng để thu hút và bắt thành trùng.

+ Xử dụng một số loài thiên địch nhằm hạn chế sự phát triển của rầy như: bọ xít ăn thịt (Revudiidae), ong ký sinh (Gonatocerus), nhện, bọ rùa, kiến vàng và nấm Verticellium lecanii, Hirsutella versicolorBeauveria bassiana..

+ Ở những vùng thường xuyên bị nhiễm nặng, nên phun ngừa giai đoạn trước khi ra hoa. Chỉ phun rầy ở giai đoạn ra hoa khi mật số rầy ≥1 con/bông, vì giai đoạn này cần tránh phun thuốc trừ sâu rầy, bảo vệ côn trùng có ích để thụ phấn cho bông.

Phun một số thuốc BVTV có hoạt chất sau: Buprofezin, Spinosad, Emamectin benzoate, Pymetrozine, … lưu ý phun vào chiều mát để đạt hiệu quả cao. Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.


1.4 Rệp sáp (Pseudoccoccus sp.)

Rệp thường gây hại trên cành, thân, lá và trái. Gây hại bằng cách chích hút nhựa của các phần non của cây xoài như đọt non, lá non, cuống bông, cuống trái non, trái non và trên cả những trái đã già lớn. Làm cho cây bị suy yếu, đọt non bị thui chột, bông có thể bị rụng hoặc không phát triển được. Rệp bám trên trái để lại những dấu chấm trắng, chích hút nhựa trái, làm trái nhỏ, biến dạng và giảm giá trị thương phẩm của trái.

+ Rệp sáp dính: nhỏ như hạt phấn, màu trắng, gần như bất động, hình bầu dục và được bao phủ bởi một lớp vảy màu đỏ. Rệp cái không có cánh, con đực có cánh.

Rệp sáp trắng: Trưởng thành không cánh, dài 3 – 3,5 mm, rìa mỗi bên cơ thể có các sợi tua sáp trắng, phần dươi cũng có một đôi tua trắng. Cơ thể phủ đầy chất sáp như phấn

Ngoài gây hại trực tiếp, trong chất bài tiết của rệp còn chứa nhiều chất dinh dưỡng giúp nấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến quang hợp của cây. Nếu mật số cao, cả hai đối tượng này sẽ tác động lên cây xoài làm cho cây xoài bị còi cọc chậm lớn ảnh hưởng nhiều đến năng suất và phẩm chất của trái.  

Phòng trị:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên, dọn sạch cỏ và lá cây mục.

+ Bảo tồn các loài thiên địch như: Ong ký sinh, bọ rùa, nhện, kiến vàng, bọ cánh cứng ... để hạn chế rệp sáp.

+ Nếu có điều kiện dùng vòi máy bơm nước có áp suất mạnh tia xịt nước trực tiếp vào chỗ có nhiều rệp bám sẽ làm cho rệp bị rữa trôi bớt.

+ Sử dụng các các hoạt chất như: Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ... Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.


1.5. Sâu đục thân: (Plocaederus ruficoruis)

Có 3 giai đoạn: Trứng, ấu trùng và thành trùng (xén tóc). Giai đoạn gây hại là ấu trùng, rất khó phát hiện triệu chứng gây hại do ấu trùng không thải phân ra ngoài, thường chỉ phát hiện qua các lỗ đục trên thân, cành héo khô và có thể chết. Trong quá trình gây hại, ấu trùng đục những đường hầm bên trong thân và cành cây.

  * Phòng trị:

+ Vệ sinh vườn thường xuyên (cắt bỏ và tiêu hủy những cành vượt, bệnh, đã mang trái năm trước), dọn sạch cỏ và lá cây mục.

+ Không gây ra vết thương – tạo điều kiện cho thành trùng đẻ trứng.

+ Thành trùng chỉ xuất hiện vào lúc đêm tối và khi chúng đẻ trứng. Chúng thường bị thu hút bởi ánh sáng nên có thể dùng bẫy đèn để thu hút (vào đầu mùa mưa). Sau cơn mưa đầu tiên và giai đoạn gần cuối mùa mưa, phun ngừa xén tóc vào vườn đẻ trứng. Một số hoạt chất có thể sử dụng như: Chlorantraniliprole, Diafenthiuron,… Phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất.

+ Pha hỗn hợp vôi, lưu huỳnh, nước (tỷ lệ 10:1:40) quét thân cây, giai đoạn từ chảng 3 trở xuống diệt trứng và tránh không cho thành trùng đẻ trứng vào giai đoạn đầu và cuối mùa mưa.

+ Nếu mật số cây bị sâu đục thân, cành cao thì dùng bông gòn thấm thuốc trừ sâu (nên chọn loại thuốc lưu dẫn hoặc xông hơi), nhét sâu vào các lổ đục, trám miệng lỗ đục lại. Ngoài ra, cũng có thể rải thuốc trừ sâu dạng hạt vào các lỗ đục và trám đất sét.

+ Trong quá trình tìm và diệt sâu đục thân, có thể tạo nhiều vết thương trên thân cây, có thể quét các loại thuốc gốc đồng phòng bệnh tấn công.


1.6. Nhện đỏ (Oligonichus sp.)

Nhện đỏ thường sống tập trung trên trái và mặt dưới của lá già. Chúng chích hút dịch lá và trái, làm cho lá mất màu xanh (nếu mật số cao có thể làm vàng lá và rụng) và làm vỏ trái sần sùi gây hiện tượng da cám. Nhện đỏ phát triển mạnh khi thời tiết nắng nóng, quan sát kỹ mặt dưới lá sẽ thấy chúng di chuyển. Mật số nhện sẽ giảm đi đáng kể khi chuyển sang mùa mưa.

   * Phòng trị:

- Tưới phun có thể hạn chế nhện đỏ trong mùa nắng.

- Bảo tồn thiên địch để hạn chế được sự bộc phát của nhện như: bọ rùa.

- Khi mật số nhện cao, có thể sử dụng một số hoạt chất để phòng trị như: Abamectin, Abamectin + Matrine, …Nếu bị nhện phá hại nặng phải phun liện tục 2-3 lần với các loại thuốc khác nhau, tránh hiện tượng nhờn thuốc, dùng mỗi lần cách nhau 5-7 ngày. Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


1.7. Bọ trĩ (Bù lạch) (Scirtothrips dorsalis)

Cả con trưởng thành và ấu trùng thường tập trung ở bộ phận non của cây như đọt non, lá non, hoa và trái để chích hút nhựa.

+ Gây hại trên chồi, lá non: trên chồi sẽ không cho lá và trái; trên lá làm lá thâm đen và cong queo, mép lá cụp xuống.

+ Gây hại trên bông: Làm bông cháy khô, mật số cao gây rụng bông.

+ Gây hại trên trái: Trên trái non tạo thành vùng da cám xung quanh cuống trái và tạo vết thương giúp vi khuẩn xâm nhập gây bệnh xì mủ trái. Nếu mật số cao làm trái bị biến dạng và rụng. Trên trái lớn làm trái biến dạng và trái bị đen.

 Bù lạch phát triển mạnh khi thời tiết nắng nóng và sinh sản rất nhanh nên rất mau kháng thuốc. 

* Phòng trị:

- Dùng vòi nước áp lực cao phun lên chồi, lá non và trái để hạn chế mật số.

- Phun diệt bọ trĩ bằng dầu khoáng hoặc một số hoạt chất có thể sử dụng nhưSpinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, … Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


B. BỆNH HẠI

1 Bệnh thán thư (Do nấm Colletotrichum gloeosporioides)

Chủ yếu gây hại chính trên các phần non của cây như chồi, lá, cành non vào giai đoạn ra lá non, bông và tạo trái. Phát triển khi ẩm độ cao, lây lan nhanh nhờ nước nên nấm phát triển rất nhanh khi trời nóng ẩm nhất là sau khi mưa hoặc trời lạnh, sáng có nhiều sương. Các bộ phận của cây bị bệnh rơi xuống đất là nguồn lây nhiễm khi gặp điều kiện thích hợp.

Phòng trị:

+ Tạo thông thoáng cho vườn (mật độ cây trồng hợp lý, tỉa cành tạo tán), cắt tỉa và tiêu hủy các lá, cành, trái bị bệnh.

+ Không nên tưới nước lên tán cây khi cây bị bệnh.

+ Một số hoạt chất có thể sử dụng như:  Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, … Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


2. Bệnh xì mủ trái (Do vi khuẩn Xanthomonas campestris)

Trên chồi non và trái xoài bị bệnh có những vết nứt dọc hoặc các chấm nhỏ có màu nâu đen, từ các vết bệnh mủ sẽ chảy ra, vi khuẩn theo đó tràn ra ngoài. Bệnh phát triển nhanh và gây hại nặng vào những tháng mưa nhiều, nhất là từ tháng 9 đến tháng 11. Vi khuẩn xâm nhập vào trái xoài thông qua các vết nứt do côn trùng cắn, quá trình chăm sóc tạo ra.

Phòng trị:

+ Bao trái, không phun nước lên lá xoài khi cây bị bệnh, tránh lây lan cả vườn.

+ Phun trừ bằng các thuốc có hoạt chất: Fluopicolide + Fosetyl alumilium, Amisulbrom,… Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.


3. Bệnh phấn trắng (Do nấm Oidium mangiferae)

Xâm nhiễm và gây hại lá, hoa, quả, đặc biệt là hoa và chùm hoa. Nấm bệnh phát triển tạo thành lớp phấn trắng trên lá non, phát hoa và trái non. Bệnh thường phát triển từ ngọn của phát hoa, lan dần đến cuống hoa, trái non, lá non và cành. Thường hoa bị nhiễm bệnh trước khi thụ phấn và trái bị nhiễm bệnh sẽ bị biến dạng, méo mó, nhạt màu, bị khô và rụng sớm. Bệnh gây thiệt hại nặng nhất trong giai đoạn trổ hoa đến đậu trái, trong điều kiện nóng ẩm và có sương đêm, bệnh sẽ bộc phát và lây lan nhanh.

Phòng trị:

+ Cắt tỉa cành, tạo tán cho cây phát triển mạnh, cung cấp phân bón đầy đủ, chú ý giai đoạn cây ra bông và đậu trái non.

+ Vệ sinh vườn cây và thu dọn các bộ phận bị bệnh đem tiêu hùy để diệt nguồn bệnh.

+ Có thể bao trái khi xoài hết giai đoạn rụng sinh lý (từ 35 - 40 ngày tuổi) để phòng ngừa nấm bệnh và tránh ruồi đục quả.

+ Dùng thuốc có các hoạt chất: Lưu huỳnh, Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày. Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo của nhà sản xuất.

 

4. Bệnh da ếch: Do nấm Chaetothyrium sp. gây ra.

Bệnh gây hại nặng trong điều kiện ẩm độ cao, ký sinh chủ yếu trên vỏ trái xoài. Bệnh nhiễm rất sớm khi trái còn non, thường bắt đầu từ cuống trái và lan dần xuống bên dưới. Vết bệnh đầu tiên là những chấm nhỏ màu đen, tròn, sau đó lan dần ra và tạo thành các đốm màu đen rải rác trên vỏ trái xoài. Bệnh thường không làm hư trái mà làm giảm giá trị thương phẩm, bệnh nặng sẽ làm hư vỏ trái.

* Phòng trị:

- Tạo thông thoáng cho vườn (mật độ cây trồng hợp lý, tỉa cành tạo tán).

- Bao trái cũng hạn chế được bệnh này.


5. Bệnh thối trái, khô đọt: Do nấm Diplodia natalensis gây ra.

Bệnh gây hại trong điều kiện nóng ẩm, nhất là trong mùa mưa, ở phần đọt có những đốm nhỏ sậm màu, lan dần ra các cành non, cuống lá biến thành màu nâu, phiến lá cong lên. Cành khô và đôi khi có hiện tượng chảy nhựa.

Trên trái, bệnh tấn công vào giai đoạn thu hoạch và tồn trữ, làm thịt trái bị chai sượng, bên trong thịt trái ta thấy những sọc đen chạy dọc theo trái.


* Phòng trị:

- Khi thu hoạch nên chừa cuống trái khoảng 5cm, không làm xay xát trái trong khi thu hoạch cũng như lúc vận chuyển.

- Không thu hoạch trái lúc sáng sớm hoặc sau mưa.

  - Có thể sử dụng hoạt chất: Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole +Propiconazole, … Dùng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và phun theo liều khuyến cáo trên nhãn của nhà sản xuất. 

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và hoạt chất thuốc BVTV sử dụng phòng trừ:

Giai đoạn sinh trưởng

Đối tượng

Phòng trừ

Ra đọt non

Bọ trĩ

Spinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, …

Rệp sáp

Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ...

Nhện đỏ

Abamectin, Abamectin + Matrine, …

Sâu đục thân, cành

Chlorantraniliprole, quét vôi + lưu huỳnh + nước

Bệnh thán thư

Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, …

Bệnh phấn trắng

Lưu huỳnh,  Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

Bệnh khô đọt

Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole + Propiconazole, …

Giai đoạn ra hoa

Bọ trĩ

Spinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, …

Rệp sáp

Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ...

Rầy bông xoài

Buprofezin, Spinosad, Emamectin benzoate, Pymetrozine, …

Bệnh thán thư

Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, Propineb, …

Bệnh phấn trắng

Lưu huỳnh,  Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

Giai đoạn cho trái

Bọ trĩ

Spinetoram, Emamectin benzoate, Abamectin, …

Rệp sáp

Spirotetramat, dầu khoáng, Abamectin, Buprofezin, ...

Ruồi đục quả

Dùng bẫy dẫn dụ có hoạt chất Methyl eugenol + Dibrom, Methyl eugenol + Naled, Protein thủy phân,…để treo xung quanh vườn

Sâu đục quả

Bao trái

Sâu đục thân

Chlorantraniliprole, quét vôi + lưu huỳnh + nước

Bệnh thán thư

Azoxystrobin, Citrus oil, Mancozeb, thuốc gốc đồng, …

Bệnh phấn trắng

Lưu huỳnh, Hexaconazole, Chlorothalonil,… Phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

Bệnh thối trái, khô đọt

Mancozeb + Metalaxyl, Difenoconazole +Propiconazole, …

Xì mủ trái

Fluopicolide + Fosetyl alumilium, Amisulbrom,…


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

 

VI. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN:

1. Thu hoạch:

-  Phải đúng độ chín (trái sẽ chìm khi thả vào nước), khoảng 80-85 ngày sau đậu trái

- Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Lúc thu hoạch trái nên để cuống dài từ 5-10 cm để tránh không bị chảy nhựa làm tăng giá trị thương phẩm. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa thì đóng vào sọt hoặc thùng không quá 5 lớp (đóng sọt phải có lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả).

- Sau khi thu hoạch vệ sinh xung quanh tán cây, cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh và tiếp tục chăm sóc.


2. Bảo quản:

- Ở nhiệt độ bình thường, chỉ có thể giữ trái được khoảng 5-7 ngày. Để kéo dài thời gian bảo quản nên giữ trái trong điều kiện nhiệt độ là 120C và ẩm độ khoảng 90%. Trong quá trình bảo quản nên thông gió thường xuyên và chú ý tạo đối lưu đồng đều trong kho.  Ngoài ra, nếu bảo quản ở nhiệt độ 10-130C trong bao PE chuyên dùng thì thời gian tồn trữ có thể lên đến 22 ngày.

- Trái không để tiếp xúc trực tiếp với đất, tránh chất thành đống và phải còn nguyên cuống (dài khoảng 5cm), quay ngược đầu lại để cho khô nhựa trước khi bao giấy đưa vào thùng./.

                                                                                                                                                              Chi cục Trồng trọt và BVTV

Kỹ thuật trồng và chăm sóc thanh longNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtKỹ thuật trồng và chăm sóc thanh long/PublishingImages/2019-04/cây Thanh Long.jpg
Thanh long trồng được trên nhiều loại đất từ khô cằn, đất cát, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất phù sa, đất đỏ bazan, đất thịt và thịt pha sét. Tuy nhiên, để trồng thanh long đạt hiệu quả cao đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH từ 5,5 – 6,5; hàm lượng chất hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn.
Thanh long có khả năng chống chịu cao với điều kiện môi trường không thuận lợi như hạn nhưng khả năng chịu úng của cây không cao. Tuy nhiên, để cây phát triển tốt, cho nhiều quả và quả to cần cung cấp đầy đủ nước, nhất là thời kì phân hóa mầm hoa, ra hoa, kết quả. Nhu cầu lượng mưa cho cây từ 800 – 2000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng và thối quả.
4/29/2019 7:00 PMYesĐã ban hành

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY THANH LONG

I. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH                                            

  1. Đất trồng

Thanh long trồng được trên nhiều loại đất từ khô cằn, đất cát, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất phù sa, đất đỏ bazan, đất thịt và thịt pha sét. Tuy nhiên, để trồng thanh long đạt hiệu quả cao đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH từ 5,5 – 6,5; hàm lượng chất hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn.

2. Nước      

Thanh long có khả năng chống chịu cao với điều kiện môi trường không thuận lợi như hạn nhưng khả năng chịu úng của cây không cao. Tuy nhiên, để cây phát triển tốt, cho nhiều quả và quả to cần cung cấp đầy đủ nước, nhất là thời kì phân hóa mầm hoa, ra hoa, kết quả. Nhu cầu lượng mưa cho cây từ 800 – 2000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng và thối quả.

3. Ánh sáng

Cây thanh long chịu ảnh hưởng của quang kì, ra hoa trong điều kiện ngày dài, cây sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi có ánh sáng đầy đủ, thiếu ánh sáng thân cây ốm yếu lâu cho quả. Tuy nhiên, cường độ ánh sáng quá cao và nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của cây thanh long.

4. Nhiệt độ

Cây thanh long có nguồn gốc vùng sa mạc thuộc Mehico và Columbia, là cây nhiệt đới khô. Nhiệt độ thích hợp cho cây thanh long sinh trưởng và phát triển là 20 – 340C. Trong điều kiện sương giá và gió nhẹ sẽ gây hại cho cây thanh long.

II. ĐÁNH GIÁ VÙNG SẢN XUẤT

Vị trí, vùng sản xuất thanh long phải phù hợp với quy hoạch của Tỉnh. Cần phân tích đất, nước trước khi trồng. Vườn trồng cách khu công nghiệp, nghĩa trang, bệnh viện khoảng 500 m và đất không bị nhiễm kim loại nặng. Toàn bộ hồ sơ về vị trí lô đất và kết quả phân tích đất được lưu giữ tại HTX, nhóm sản xuất hoặc tại hộ gia đình để có thể truy nguyên nguồn gốc theo yêu cầu. Nếu vùng sản xuất có các nguy cơ ô nhiễm trên mà có thể khắc phục thì phải có cơ sở khoa học chứng minh sự khắc phục nguy cơ ô nhiễm và lưu trong hồ sơ.

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết,…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên làm cơ sở xác định vùng trồng phù hợp từng loại cây trồng và định hướng đầu tư thâm canh hiệu quả. Khuyến cáo người sản xuất cần phải phân tích phẫu diện đất để xác định tính chất đất (hàm lượng các chất dinh dưỡng, độ chua đất, nước,…) để có kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả.

Việc xác định pH đất và nước rất cần thiết do nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển. Nếu pH đất thấp thì rễ cây sẽ gặp khó khăn trong việc hấp thu chất dinh dưỡng (điều kiện tốt nhất để cây thanh long hấp thu chất dinh dưỡng là pH từ 5,5 – 6,5). Đất có pH thấp dẫn đến rễ cây không phát triển để hút phân nuôi cây. Thậm chí khi đất chua là điều kiện để cho nấm khuẩn phát sinh gây hại rễ. Khi bộ rễ không phát triển sẽ kéo theo những ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ thân, hoa, quả và quá trình phát triển của cây.

- Đất một số khu vực tại Tây Ninh tương đối chua, phần lớn có độ pH từ 5 – 5,5, sẽ gây khó khăn cho việc trồng thanh long. Do đó, trước khi trồng nên có đánh giá độ pH đất để có kế hoạch bón phân hợp lý hoặc cải tạo đất trước khi trồng. Một số biện pháp được áp dụng để gia tăng pH hiệu quả như việc cuốc xới phơi ải đất sau thu hoạch, bón vôi, lân, bón phân hữu cơ hằng năm:

+ Bón phân hữu cơ đã hoai mục: bón phân hữu cơ hoai mục rất quan trọng do phân hữu cơ cũng có tác dụng cải tạo đất tơi xốp, …

+ Bón vôi: Vôi bón vào đất chua có những lợi ích chủ yếu là giúp chất dinh dưỡng trong đất dễ hòa tan hơn; Cải thiện cấu trúc đất; Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây như Ca, Mg; Thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hữu ích. Trung hòa độ chua do phân bón gây ra; Giảm độc chất ảnh hưởng đến cây trồng (các kim loại nặng hòa tan mạnh khi pH thấp).

- Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh thường có pH thấp. Do đó, nếu sử dụng nước ngầm làm nguồn nước tưới, cần tiến hành đo pH nước để có hướng xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây. Trong trường hợp nước tưới có độ pH < 5, không nên sử dụng bơm tưới trực tiếp vào cây trồng, cần thiết kế hệ thống bể chứa xử lý bằng vôi (có thể dùng CaCO3, Ca(OH)2, CaO, …) để cải thiện độ pH thích hợp, sau đó tiến hành bơm tưới cho cây trồng.

III. CÁC GIỐNG PHỔ BIẾN

 Hiện nay, trong nước hai giống thanh long ruột trắng và ruột đỏ được trồng rộng rãi, riêng giống thanh long ruột tím hồng mới đây được Viện cây ăn quả miền Nam lai tạo và bước đầu được giới thiệu ra sản xuất. 

1. Giống thanh long ruột trắng

Thanh long ruột trắng thường được trồng phổ biến ở các tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ nhưng thương hiệu nổi tiếng nhất là ở Bình Thuận. Loại thanh long này sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có cường độ ánh sáng cao và toàn phần. Được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu, đất phèn…

- Giống thanh long Ruột trắng Bình Thuận: Giống được trồng phổ biến tại tỉnh Bình Thuận. Sinh trưởng mạnh, cành to khoẻ, hoa có khả năng thụ phấn tự nhiên. Quả to và đẹp, tai quả xanh cứng, thịt quả màu trắng đục và chắc, hạt nhỏ, năng suất cao. Tuy nhiên, giống này có khả năng ra hoa tự nhiên trung bình, tập trung và bị ảnh hưởng mạnh bởi quang kỳ (thường chỉ ra hoa từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) nên chi phí xử lý ra hoa nghịch vụ cao và năng suất quả có thể thất thường.

- Giống thanh long Ruột trắng Chợ Gạo: Giống được trồng phổ biến tại tỉnh Tiền Giang và Long An. Sinh trưởng mạnh, cành khá to, quả khá to và đẹp, tai quả xanh cứng, thịt quả màu trắng đục và chắc, hạt nhỏ. Năng suất cao và hoa có khả năng thụ phấn tự nhiên. Tuy nhiên, giống này có khả năng ra hoa tự nhiên trung bình, tập trung và bị ảnh hưởng mạnh bởi quang kỳ.

2. Giống thanh long ruột đỏ Đài Loan

Giống thanh long ruột đỏ có nguồn gốc từ Đài Loan, sai quả, ruột đỏ tím, ăn ngọt (độ đường 16 - 18%), hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu vitamin và chất khoáng…

Quả thanh long ruột đỏ Đài Loan thích nghi với nơi có nhiều ánh sáng, dưới ánh sáng cao, độ đường tăng, nhiệt độ thích hợp từ 15 - 35oC, nếu dưới nhiệt độ đó cây sẽ phát triển chậm hoặc không sinh trưởng được. Do đó khi trồng cây tận dụng hướng nam và đông nam, nơi có đất đai bằng phẳng và ánh sáng nhiều.

3. Giống thanh long ruột đỏ LĐ1

Giống thanh long ruột đỏ LĐ1 là giống lai hữu tính, có nguồn gốc từ lai giữa giống thanh long ruột trắng Bình Thuận (làm mẹ) và giống thanh long ruột đỏ Colombia (làm bố). Cành trưởng thành to, khỏe, có hình dạng và màu sắc khá giống với cành của thanh long ruột trắng. Tuy nhiên, đọt non của giống này có màu đỏ lợt khác với giống thanh long ruột trắng (màu xanh nhạt). Vỏ quả màu đỏ tươi, sáng và bóng đẹp; tai quả màu xanh đến xanh đỏ và cứng ở mức trung bình-khá. Thịt quả màu đỏ tím, vị ngọt chua nhẹ. Cây cho quả sau 1 năm trồng, năng suất đạt 6-8 kg/trụ/năm; cây 2 năm tuổi, năng suất đạt 22-25 kg/trụ/năm (22-25 tấn/ha/năm) và cây từ 3 năm tuổi trở đi đạt trung bình 40 kg/trụ/năm (40 tấn/ha/năm).

4. Giống thanh long ruột tím hồng LĐ5

Thanh long Ruột tím hồng LĐ5 là giống lai, được tạo ra từ lai giữa giống thanh long Ruột đỏ Long Định 1 (làm mẹ) và giống thanh long Ruột trắng Chợ Gạo (làm bố) theo phương pháp lai truyền thống.

Một số đặc điểm chính: Cây sinh trưởng khá mạnh, cành khá to, khoẻ, khả năng đâm cành trung bình. Cây cho hoa đầu tiên 8 - 9 tháng sau khi trồng, cây có khả năng ra hoa mạnh và gần như quanh năm, ít chịu ảnh hưởng bởi quang chu kỳ. Từ tháng 9 đến tháng 3 dương lịch (ngày ngắn), cây ra hoa ít (2 - 5 hoa/trụ) và từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch cây ra hoa khá nhiều, mỗi tháng/đợt hoa (mỗi đợt 10 - 15 hoa/trụ). Hoa nở và tung phấn vào ban đêm từ 20 giờ đến gần 6 giờ sáng. Hoa thụ phấn tự nhiên để tạo quả. Thời gian từ nở hoa đến thu hoạch quả (chuyển màu đỏ hoàn toàn) từ 28 - 30 ngày như giống thanh long Ruột trắng.

Quả: Trọng lượng trung bình 313,3 - 379,3 g/quả, vào mùa nghịch (tháng 11 - 1 dương lịch) trọng lượng quả có thể đạt đến 500 g/quả. Dạng quả hình trứng đến trứng thuôn, vỏ quả khi chín có màu đỏ khá đậm và bóng, vỏ dầy trung bình 2,08 - 2,50 mm và chưa thấy nứt quả khi quá chín; tai quả xanh, khá cứng; thịt quả chắc (0,71 - 1,15 kg/cm2) và tỷ lệ ăn được cao (70,12 - 80,59%). Thịt quả màu tím hồng (không đậm màu) và khá ổn định trong 24 giờ, nước quả trung bình và có màu tím hồng trung bình - khá, cỡ hạt to trung bình - khá và vị ngọt chua thanh (TSS: 15,87 - 18,110 brix; pH: 5,03, hàm lượng vitamin C: 17,61 - 18,67 mg/100 ml dịch quả; acid tổng số: 15,87 - 18,11 g/100 ml dịch quả).

Năng suất: Khá cao, trong vụ chính (tháng 4 - 9 dương lịch) đạt trung bình 10,34 kg/trụ/vụ (cây 16 tháng tuổi) tại ba tỉnh Tiền Giang, Long An và Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong vụ nghịch (tháng 10 - 01 dương lịch) đạt trung bình 2,73 kg/trụ/vụ (cây 18 tháng tuổi) tại hai tỉnh Tiền Giang và Long An.

5. Giống thanh long ruột đỏ tím mỹ

Thường được gọi là thanh long Ruột tím. Giống được du nhập từ Mỹ và trồng tại Viện Cây ăn quả miền Nam vào năm 2004.

Cây sinh trưởng mạnh ở mức trung bình, cành dạng ba cạnh, mỏng và ít gai trên thùy. Quả hình cầu không đẹp, tai quả đỏ xanh và cứng trung bình, vỏ đỏ tươi, trọng lượng 120 g/quả. Thịt quả màu tím, mềm và chiếm tỷ lệ 66%, vị ngọt chua (độ brix 17,2%, pH: 4,7), hạt to và nhiều.

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Thời vụ trồng và mật độ

a)  Thời vụ trồng

Thanh long có thể trồng được quanh năm nếu chủ động được nguồn nước. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà chọn thời vụ thích hợp.

          Tháng 10 – 11 (dương lịch): Thời gian này có thuận lợi là nguồn hom giống dồi dào vì đây là giai đoạn tỉa cành sau thu hoạch, các vùng đất thấp thì mùa này tránh được nguy cơ ngập úng. Tuy nhiên, phải đảm bảo nguồn nước tưới cho cây vào mùa nắng.

          Tháng 5 – 6 (dương lịch): Đối với vùng thiếu nước nên trồng vào đầu mùa mưa nhưng phải chú ý đến việc chuẩn bị hom giống từ trước do lúc này cây đang ra hoa và mang quả, không thể lấy hom trực tiếp được.

b) Mật độ trồng

Mật độ trồng khoảng 900 – 1.100 trụ/ha tùy vào khoảng cách trồng (3 x 3 m hoặc 3 x 3,5 m). 

2. Chọn giống

Giống phải có nguồn gốc rõ ràng, cơ sở nhân giống và sản xuất giống phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép. Giống tự sản xuất phải có hồ sơ ghi lại đầy đủ các biện pháp xử lý hom giống, hóa chất sử dụng, thời gian, tên người xử lý và mục đích xử lý.

Chọn các cành từ 1 năm tuổi trở đi (đã cho trái vụ trước, không nên chọn những cành vừa mới cho trái) từ các trụ sinh trưởng tốt, chọn các cành có gốc cành đã bắt đầu hóa gỗ để hạn chế bệnh thối cành. Chiều dài cành tốt nhất từ 50 – 70 cm. Cành mập, màu xanh đậm, không sâu bệnh, mắt gai tốt, mẩy, khả năng nảy chồi tốt.

Sau khi chọn cành xong, phần gốc cành 2 – 4 cm được cắt bỏ phần vỏ cành chỉ để lại lõi cành giúp cành nhanh ra rễ và tránh thối gốc. Giâm cành vào nơi thoáng mát, khô ráo, 10 – 15 ngày sau hom ra rễ dài 3 – 5 cm là có thể đem trồng.

3. Kỹ thuật trồng

a) Chuẩn bị đất trồng

Đất trồng thanh long phải đảm bảo thoát nước tốt.

Đối với vùng đất thấp cần đào mương lên líp nhằm xả phèn và nâng cao tầng canh tác: mương rộng 1 – 2 m, líp rộng 6 – 7 m. Sau đó trồng cây trụ, lên mô và bón lót. Líp thiết kế bảo đảm cây nhận được đầy đủ ánh sáng.

Đối với vùng đất cao nên đào hố, chọn nơi có nguồn nước để tưới cho cây vào mùa nắng.

b) Chuẩn bị cây trụ

Thanh long cần bám vào cây trụ, do đó phải chuẩn bị trụ trước khi đặt hom giống một tháng. Có thể dùng trụ xi măng cốt sắt, trụ gạch hoặc trụ gỗ. Tuy nhiên, nếu dùng trụ xi măng cần chú ý vào mùa nắng trụ hấp thụ nhiệt rất mạnh, dễ làm đứt các rễ khí sinh của thanh long, nên dùng rơm rạ, lá chuối hoặc bao tải bao một lớp mỏng xung quanh trụ để giảm bớt hấp thụ nhiệt và tưới nước lên trụ vào sáng sớm hay chiều tối.

Trụ xi măng được thiết kế có cạnh ngang hay đường kính 12 – 20 cm, trụ cao cách mặt đất 1,5 – 1,6 m; đối với trụ xi măng phần chôn sâu dưới mặt đất khoảng 0,5 m; phía trên trụ có 4 cọng sắt ló ra dài 30 – 40 cm được bẻ cong theo 4 hướng dùng làm giá đỡ cho thanh long.


Hình: Chuẩn bị trụ trồng thanh long

c) Cách đặt hom

Đặt hom cạn từ 2 – 4 cm, đặt phần lõi (đã gọt lớp vỏ bên ngoài) xuống đất để tránh thối gốc. Mỗi trụ trồng 3 – 4 hom.

Đặt áp phần phẳng của hom vào mép trụ tạo điều kiện thuận lợi cho cành ra rễ và bám sát vào trụ.

Cố định hom sát vào cây trụ để tránh gió làm lung lay và đổ ngã. Vào mùa nắng sau khi trồng nên tủ gốc bằng rơm rạ mục để giữ độ ẩm.

Hình: Cách đặt hom

d) Tủ gốc giữ ẩm

Tủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa nắng bằng rơm rạ, cỏ khô, xơ dừa, rễ lục bình, tủ cách gốc 5 – 10 cm. Biện pháp này cũng tránh được cỏ dại đồng thời khi rơm rạ bị phân hủy sẽ cung cấp một lượng dinh dưỡng cho đất.

e) Tỉa cành, tạo tán

- Mục đích của tỉa cành, tạo tán là tạo cho cây có bộ khung cơ bản, thông thoáng, giúp cây sinh trưởng mạnh, cho năng suất cao, ổn định. Sau trồng 2 - 3 tuần, khi cây đã ra nhiều chồi, tiến tỉa bỏ những ốm yếu, nhỏ, nhánh nảy ngang (nhánh tai chuột), những nhánh này sẽ không phát triển dài và không có khả năng cho trái sau này.

- Uốn cành: Khi cành dài vượt khỏi đỉnh trụ khoảng 30 – 40 cm, tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ. Nên uốn vào lúc trưa nắng, lúc này cành mềm dễ uốn, mỗi ngày một ít cho đến khi cành nằm được trên đỉnh trụ, dùng dây nilon buộc lại. Biện pháp này giúp cành mau ra chồi mới.

- Khi cành đâm chồi: Chọn 1 – 2 chồi phát triển tốt để lại. Tốt nhất nên tỉa bỏ một số chồi/cành chừa lại 3 – 4 nhánh có bẹ to, khoẻ cho leo lên giàn trụ để tạo tán sau này.

- Từ năm thứ 2 cần tiến hành tỉa nhẹ đồng thời tạo tán và định hình cho cây.

- Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ trung bình chỉ chừa khoảng 100 cành, lúc này trên đầu trụ số cành đã phân bố khá dày.

- Một số cành già đã từng cho trái trong những năm đầu, nằm khuất bên trong, nếu giữ lại sẽ không cho trái hoặc cho trái nhỏ, cần phải tỉa bớt làm thông thoáng tán cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi cành mới.

Ngoài các đợt tỉa cành chính, sau khi cây cho trái: Hết mùa thu hoạch trái, tỉa bỏ cành cũ bên trong tán, cắt ngang cành và cách gốc 30 – 40 cm nhằm làm giá đỡ cho cây. Cành vừa cho trái vụ trước nên để lại nuôi chồi mới (chỉ để lại 1 chồi trên cành mẹ) khi cành dài 1,2 – 1,5 m thì cắt đọt cành con tạo điều kiện cho cành mập và nhanh cho trái. Chú ý tỉa cành cần giữ cho tán cây cân đối, không bị lệch tán.

4. Phân bón

a) Thời kỳ kiến thiết cơ bản (1 – 2 năm đầu sau khi trồng)

* Năm thứ 1

- Phân hữu cơ: Được áp dụng vào 1 ngày trước khi trồng và 6 tháng sau khi trồng, với liều lượng 5 – 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg Super lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 1 - 2 kg/trụ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

- Phân hóa học: Một tháng sau khi trồng, bón 50 - 80 gam urea + 100 - 150 gam NPK 20-20-15/trụ. Định kỳ bón 1 tháng/lần. Cách bón: rải phân xung quanh gốc (cách gốc 20 – 40 cm), dùng rơm tủ lên và tưới nước.

* Năm thứ 2

- Phân hữu cơ: Bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa, với liều lượng 15 – 20 kg phân chuồng hoai + 1 kg Super lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 3 - 4 kg/trụ.

- Phân hóa học: Định kỳ bón 1 tháng/lần bón với liều lượng bón 80 - 100 gam urea + 150 - 200 gam NPK 20 - 20 - 15/trụ.

b) Thời kỳ kinh doanh (Giai đoạn kinh doanh từ năm 3 trở đi)

* Phân hữu cơ:

Bón 2 lần (đầu và cuối) mùa mưa, với liều lượng 20 - 30 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg supe lân hoặc lân Văn Điển/trụ. Có thể sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh thay thế cho phân chuồng, với liều lượng 3 - 5 kg/trụ.

* Phân hóa học

- Giai đoạn trước khi ra hoa: Tỷ lệ NPK thích hợp cho giai đoạn này là (1:2:2) hoặc (1:3:2).

- Giai đoạn nuôi nụ và nuôi trái: Sử dung phân bón có tỷ lệ N và K cao hơn P với tỷ lệ (3:1:2), (2:1:2), (2:1:3), (1:1:1); thêm chất điều hoà sinh trưởng GA3, NAA lúc nhú nụ và khi kết thúc thụ phấn.

Mùa thuận (chính vụ), chia làm 4 lần bón:

+ Lần 1: Sau khi kết thúc vụ nghịch (đợt thắp đèn cuối cùng), tùy tình trạng sức khoẻ của cây, có thể áp dụng một trong các tỷ lệ NPK (1:1:0,75) như NPK 20 - 20 - 15 + TE; tỷ lệ (2:2:1) như NPK 16 - 16 - 8 + TE, với lượng dùng từ 400 - 500 g/trụ. Kết hợp phun phân bón lá có hàm lượng N cao như NPK 30 - 10 - 10 từ 2 - 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày.

+ Lần 2: Trước khi cây ra hoa, bón 400 - 500 gam/trụ phân NPK 20 - 20 - 15 + TE hoặc 500 - 700 gam phân NPK 16 - 16 - 8 + TE, có thể sử dụng thêm phân bón lá có hàm lượng P cao như NPK 10 - 60 - 10.

+ Lần 3: Khi cây đã có nụ hoa, bón 300 - 400 gam/trụ phân NPK 24 - 10 - 22 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6 - 12 + TE hay NPK 15 - 15 - 15 + TE.

+ Lần 4: Bón cách lần thứ 3 khoảng 40 - 45 ngày, với lượng 300 - 400 gam/trụ NPK 24 - 10 - 22 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6-12 + TE, kết hợp phun phân bón qua lá, Canxi, Bo.

Mùa trái vụ (thắp đèn):

+ Lần 1: Trước khi thắp đèn 15 ngày, bón 400 - 500 gam phân NPK 8 - 16 - 16 + TE, có thể bổ sung phân bón qua lá như NPK 10 - 60 - 10 + TE hay NPK 6 - 30 - 30 + TE theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.

+ Lần 2: Khi cây đã bung nụ hoa, khoảng 3 - 5 ngày sau khi ngưng đèn, bón 400 - 500 gam/trụ phân NPK 18 - 6 - 12 + TE hoặc 300 - 500 gam phân NPK 22 - 10 - 24 + TE, bổ sung thêm phân bón qua lá NPK 30 - 10 - 10, phun định kỳ 7 - 10 ngày/lần.

+ Lần 3: Bón cách lần 2 khoảng 40 - 45 ngày với lượng 300 - 400 gam/trụ NPK 24 - 10 - 20 + TE hoặc 400 - 500 gam/trụ NPK 18 - 6 - 12 + TE, kết hợp phun phân bón qua lá, Canxi, Bo

Cách bón: Rải đều trên mặt đất quanh trụ, xới nhẹ cho hạt phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó tủ bằng rơm, rạ hoặc cỏ khô. Sau đó tưới nước cho phân tan.

5. Tưới nước

Tuy cây thanh long là cây chịu hạn tốt, nhưng nắng hạn kéo dài sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của cây thanh long và làm giảm năng suất. Biểu hiện của thiếu nước là: cành mới hình thành ít, cành phát triển chậm, cành bị teo lại và chuyển sang màu vàng, tỷ lệ rụng hoa ở các đợt hoa đầu tiên cao >80%, quả bé. Do đó, cần tưới nước thường xuyên cho cây, tùy theo độ ẩm của đất mà chu kỳ tưới cho cây có thể thay đổi 1 – 7 ngày/lần.

 6. Xử lý ra hoa

Cây thanh long thuộc nhóm cây ngày dài, sự ra hoa chịu ảnh hưởng của quang kỳ, ở miền Nam thanh long bắt đầu ra hoa vào tháng 4 – 9 vì số giờ chiếu sáng trong ngày > 12 giờ (ngày dài). Vì vậy, muốn thanh long ra hoa nghịch vụ (từ tháng 9 đến tháng 3 dương lịch năm sau) vào giai đoạn đêm dài ngày ngắn, một trong những biện pháp hiệu quả nhất hiện nay là tạo chiếu sáng nhân tạo trong thời gian ngày ngắn bằng cách đốt đèn trong một thời gian nhất định giúp cho cây ra hoa đồng loạt. Chỉ thực hiện việc thắp đèn ở vườn cây trên 2 năm tuổi và chỉ nên áp dụng tối đa 2 lần chong đèn/trụ/năm với số giờ thắp đèn/đêm là 8 - 10 giờ.

Phương pháp chiếu đèn: Tùy theo mùa vụ mà số đêm chiếu sáng và thời gian chiếu sáng thay đổi, số giờ chiếu sáng trong ngày càng ít và thời tiết càng lạnh thì số lần chiếu đèn và thời gian chiếu đèn trong đêm càng tăng, số đêm chiếu đèn từ 15 – 20 đêm đồng thời số giờ chiếu đèn/đêm từ 8 – 10 giờ là thanh long có thể ra hoa. Thời gian từ khi ra nụ đến khi hoa nở từ 18 – 21 ngày và từ khi hoa nở đến khi thu hoạch quả từ 28 – 35 ngày. Do đó, tùy theo mục đích và nhu cầu quả trên thị trường mà nhà vườn quyết định thời gian xử lý ra hoa.

Thời gian thắp đèn: Trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, có thể tiến hành thắp đèn vào 1 trong 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Sau khi kết thúc vụ chính. Việc thắp đèn ở giai đoạn này khá thuận lợi do nhiệt độ ban đêm vẫn còn ở mức khá cao (25 - 260C), số đêm thắp/đợt khoảng 12 - 15 đêm, khoảng cách mắc giữa hai bóng là 3 m.

- Giai đoạn 2: Khoảng tháng 11 đến tháng 1 dương lịch. Đây là giai đoạn nhiệt độ ban đêm thường thấp nên số đèn cần nhiều hơn, khoảng cách mắc giữa hai bóng ngắn hơn (1,5 - 1,8 m)

- Giai đoạn 3: Khoảng tháng 2 dương lịch đến giáp với chính vụ, số đèn và khoảng cách giữa các bóng tương tự ở giai đoạn 1


               Hình: Thắp đèn kiểu ngã tư ở giai đoạn 1, 3 (a) và giai đoạn 2 (b)

Lựa chọn đèn: Sử dụng các loại đèn compact 20 - 23 W có ánh sáng vàng hay ánh sáng đỏ, có khả năng chống ẩm, vừa tiết kiệm được điện năng vừa nâng cao hiệu quả xử lý ra hoa, khoảng cách hợp lý nhất từ bóng đèn đến cành thanh long là 0,5 – 1 m, chiều cao bóng so với mặt đất khoảng 1,1 - 1,2 m.

Cách treo bóng đèn và thời gian chiếu sáng: Chỉ xử lý tối đa 2 lần thắp đèn/ trụ/năm.

- Chong ngã tư: Bóng được mắc ở khoảng giữa 2 hàng, khoảng cách giữa 2 bóng là 3 m, vị trí mắc bóng giữa 4 trụ, với chiều cao bóng so với mặt đất khoảng 1,1 - 1,2 m.

- Chong ngã hai: Bóng được mắc ở khoảng giữa 2 hàng, khoảng cách mắc giữa 2 bóng là 3 m, vị trí mắc bóng giữa 2 trụ, với chiều cao bóng so với mặt đất khoảng 1,1 - 1,2 m.

Chăm sóc sau khi rút đèn:

- Tưới nước: Nên tưới nước sau khi rút đèn khoảng 2 ngày, khoảng cách giữa 2 lần tưới gần hay xa tuỳ vào điều kiện khí hậu của từng vùng, trung bình khoảng 3- 4 ngày tưới 1 lần.

- Vuốt tai: Thường được thực hiện trước khi thu hoạch 5 ngày bằng hợp chất GA3 20T (1 viên) + thiên nông (20 g) + miracle gro (20 g) + 200 ml nước.

7. Tỉa hoa, trái

Chọn 2 nụ phát triển tốt trên mỗi cành, tỉa bỏ các nụ còn lại, các nụ trên cùng một cành nên chọn ở hai mắt xa nhau. Sau khi hoa nở 5 – 7 ngày tiến hành tỉa trái, mỗi cành chỉ để lại 1-2 trái, chọn các trái phát triển tốt, không dấu vết sâu bệnh.

Khi trái có đường kính 5 – 6 cm tiến hành tỉa bỏ những trái méo mó, sâu bệnh, trái trên những chùm mang quá nhiều trái để lại những trái lớn đều, đạt tiêu chuẩn.

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

ASÂU HẠI

1. Rầy mềm (Toxoptera sp.)

a) Hình thái: Thành trùng rầy mềm có kích thước khoảng 1,7 – 1,8 mm. Thành trùng và ấu trùng đều gây hại trên trái.


     Hình: Rầy mềm (Toxoptera sp.)

b) Cách gây hại

- Trên hoa: rầy mềm chích hút nhựa làm hoa bị rụng.

- Trên trái: Trên trái để lại những vết chích nhỏ, khi chín bị mất màu đỏ tự nhiên, giảm giá trị thương phẩm.

- Khí hậu khô nóng làm gia tăng mật số gây hại của rầy mềm.

c) Biện pháp quản lý

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên đọt, trái có rầy mềm.

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bảo tồn thiên địch. Phun dầu khoáng nồng độ 0,5 – 1%.

- Sử dụng thuốc chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Pymetrozine,… theo liều lượng khuyến cáo và dùng luân phiên giữa các gốc thuốc để hạn chế tính kháng thuốc.

 2. Bọ xít (Mictis longicornis)

 a) Cách gây hại

- Thường gây hại trên cây từ giai đoạn có nụ hoa đến khi hình thành trái.

- Bọ xít dùng vòi chích hút vào vỏ quả, tai quả gây vết thương tạo điều kiện cho nấm bệnh và vi khuẩn gây hại làm giảm phẩm chất, giảm giá trị thương phẩm không xuất khẩu được.

b) Biện pháp quản lý

- Vệ sinh vườn, phát quang bụi rậm, cỏ dại, bón phân chuồng hoai; kiểm tra vườn  thường xuyên để ngắt bỏ ổ trứng; tạo điều kiện thuận lợi cho kiến vàng, ong kí sinh phát triển.

- Tỉa cành để  các  đọt non và hoa ra tập trung.

- Bọ xít trưởng thành có kích thước khá lớn, dễ phát hiện nên biện pháp tốt nhất là bắt bằng tay.


Hình: Bọ xít hại thanh long

  - Khi mật số bọ xít cao, có thể phòng trị bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như Etofenprox, Pymetrozine,... sử dụng luân phiên giữa các gốc thuốc, liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Chú ý việc dùng thuốc có hiệu quả cao khi phun sớm ở giai đoạn mới nở (ổ bọ xít non).

3. Ruồi đục quả (Bactrocera dorsalic)

Ruồi đục quả là đối tượng nguy hiểm và là đối tượng kiểm dịch rất khắc khe của nhiều nước nhập khẩu thanh long trên thế giới hiện nay.

a) Hình thái

Ruồi có cơ thể dài từ 6 – 9 mm, sải cánh rộng khoảng 13 mm. Đầu màu vàng. Sau khi vũ hóa từ 7 – 15 ngày, ruồi bắt đầu đẻ trứng. Ruồi sống trong khoảng từ 20 – 40 ngày, trong thời gian đó một ruồi cái có thể đẻ khoảng 150 – 200 trứng. Dòi mới nở dài khoảng 1,5 mm, lớn đủ sức dài từ 6 – 8 mm, màu vàng nhạt, kéo dài từ 10 – 14 ngày.

b) Cách gây hại

- Ruồi thường thích đẻ trứng ở trái thanh long sắp chín. Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc thủng vỏ trái cây và đẻ trứng vào chỗ tiếp giáp giữa vỏ và thịt, trứng được đẻ thành từng chùm trong một lỗ khoét trên trái.

- Dòi non nở ra đục ăn thịt trái cây, tuổi càng lớn dòi càng đục sâu vào phía trong trái làm trái bị thối và hư. Khi lớn đủ sức, dòi sẽ di chuyển xuống đất làm nhộng. Dòi làm nhộng dưới đất sâu khoảng 3-7 cm.


Hình: Ruồi đục quả thanh long

c) Biện pháp quản lý

- Vệ sinh đồng ruộng: quả rụng là nơi lưu tồn ruồi làm tăng mật số rất nhanh do đó phải nhặt quả rụng, thu hái những quả còn sót lại trên cây sau khi thu hoạch đem đốt hoặc chôn vùi vào đất sâu 30 cm. Nếu có điều kiện sau khi thu hoạch xén tỉa cành và cày lật đất để diệt nhộng trong đất.

  - Xử lý cho ra hoa đồng loạt trên diện tích lớn để dễ quản lý.

  - Biện pháp bao trái có tác dụng hạn chế ruồi đục trái. Bao trái sau khi hoa thụ phấn 3 – 4 ngày.

  - Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugennol để dẫn dụ và diệt ruồi đực. Đặt 3 – 5 bẫy/1.000 trụ, đặt rải rác trong vườn thanh long.

   - Sử dụng chế phẩm Protein thủy phân để phun dẫn dụ ruồi, thời gian phun: 10 ngày/lần. Phun thành đốm nhỏ trên tán cây, cách 4 cây phun 1 cây, tuyệt đối không phun tràn lan cả vườn. Nên phun vào khoảng 8 – 10 giờ sáng, vào lúc trời mát không mưa.

   - Không nên xịt thuốc hóa học trực tiếp lên trái để diệt dòi vì hiệu quả không cao và không đảm bảo an toàn thực phẩm.

4. Bọ trĩ (Thrips sp.)

a) Hình thái

- Thành trùng màu vàng cam, nhỏ, khảng 0,1 mm. Một thành trùng cái đẻ khoảng 25 trứng trong lá và trái non.

- Trứng hình trái thận, do con cái dùng bộ phận đẻ trứng ghim thẳng vào trong trái non, trứng nở trong thời gian khoảng 3 ngày.

- Ấu trùng rất giống thành trùng nhưng màu nhạt hơn.


                 Hình: a) Thành trùng bọ trĩ                b) Triệu chứng bọ trĩ gây hại trên trái

b) Cách gây hại

- Vòng đời trung bình 15-18 ngày. Chúng gây hại nặng từ giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái.

Bọ trĩ thường phát triển gây hại trong giai đoạn thanh long đang ra hoa, trái:

+  Trên  hoa:  Bọ  trĩ  chích  hút nhựa làm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái hoặc làm giảm giá trị thương phẩm trái sau này.

+ Trên trái non: Bọ trĩ thường tập trung chích hút ở dưới chân tai và xung quanh tai trái nên về sau tạo vết sần sùi dưới chân tai và xung quanh tai trái thanh long nên làm giảm giá trị thương phẩm trái.

- Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô.

 c) Biện pháp quản lý

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Tỉa cành thông thoáng.

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên trái non để rữa trôi  bọ trĩ.

- Bảo tồn thiên địch.

- Phun dầu khoáng DC Tron plus nồng độ 0,5 –1%.

- Thăm vườn thường xuyên, nếu phát hiện bọ trĩ có mật số cao nên sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV: Abamectin, Emamectin Benzoate, Spinetoram, Emamectin Benzoate + Matrine, Garlicin.

5. Rệp sáp (Pseudococcus brevipes)

a) Hình thái: Rệp sáp có hình bầu dục dài khoảng 4 mm, ngang 2 – 3 mm, thân có phủ lớp sáp trắng, quanh mình có các tia sáp dài trắng xốp. Rệp càng lớn càng ít di chuyển, di chuyển từ nơi này sang nơi khác chủ yếu nhờ kiến cộng sinh.


Hình: Rệp sáp hại thanh long

b) Cách gây hại

- Rệp chích hút nhựa ở tất cả các bộ phận của cây: cành non, nụ hoa, trái. Trên cành non rệp chích hút nhựa làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Trên trái rệp chích hút nhựa làm ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái và giá trị thương phẩm của trái. Chất thải của rệp tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển làm đen vỏ quả, mặt lá gây trở ngại khả năng quang hợp của cây.

- Rệp còn chui xuống đất bám vào hút dịch ở gốc thân, cổ rễ. Khi rệp hại rễ, các loài tuyến trùng, nấm bệnh cũng theo vết thương xâm nhập gây tác hại trầm trọng hơn. Khi rễ bị hại nặng cây rất cằn cỗi, lá vàng rồi héo dần và chết do bộ rễ bị phá hủy không còn khả năng hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây.

c) Biện pháp quản lý

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành già, cành tược nằm trong tán lá để vườn cây thông thoáng.

- Thường xuyên dọn sạch cỏ, lá cây mục tụ ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến (sống cộng sinh với rệp sáp).

- Rệp sáp trên đọt và quả:

+ Dùng máy bơm xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp đeo bám.

+ Phun dầu khoáng (Petroleum spray oil)

+ Phun thuốc kỹ ướt đều cây, phun hai lần cách nhau 7 – 10 ngày để diệt tiếp lứa rệp non mới nở.

- Rệp sáp hại rễ: Dùng thuốc hạt để rải, sau đó phủ đất và tưới nước cho cây hoặc hòa nước thuốc tưới vào gốc.

Có thể sử dụng thuốc hóa học chứa hoạt chất như Spirotetramat, Pymetrozine, Dinotefuran, Emamectin benzoate (Avermectin B1a 90 % + Avermectin B1b 10%), …để phòng trị rệp sáp. Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo của người sản xuất.

B- BỆNH HẠI

1. Bệnh thán thư (nấm Colletotrichum sp.)

a) Cách gây hại

Bệnh gây hại chủ yếu trên đọt, hoa và trái, đôi khi trên cành cũng bị nấm tấn công.

Trên cành vết bệnh bắt đầu từ mép cành lan dần vào bên trong. Vết bệnh dạng gần tròn hay bất định. Khi nấm tấn công vào cành làm cho cành thối mềm có màu vàng sáng, sau 1 thời gian ngắn chuyển sang màu vàng nâu, vết thối từ ngọn vào trong.

Trên hoa, nấm tạo thành những đốm đen nhỏ làm hoa bị thâm đen và rụng.

Trên trái, vết bệnh là những đốm tròn hoặc gần tròn, có tâm màu nâu đỏ, lõm xuống, xung quanh có những vòng tròn đồng tâm nâu sậm sau đó phát triển nhanh thành những mãng thối lõm vào vỏ.

Nấm bệnh lan truyền trong gió, nước, con người đi lại chăm sóc. Điều kiện thời tiết mưa nhiều, ẩm độ nhiệt độ cao thì bệnh càng dễ phát triển, lây lan.


Hình: a) Vết bệnh trên cành b) Vết bệnh trên nụ hoa, trái

b)  Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác:

+ Dọn sạch cỏ và các dây leo hoang dại xung quanh vườn thanh long.

+ Cắt bỏ và tiêu hủy các bộ phận của cây bị bệnh.

+ Tỉa cành cho cây thông thoáng.

+ Không nên tưới nước lên tán cây khi cây đang bệnh.

+ Cắt bỏ phần nhụy đã héo rủ ở đỉnh trái.

- Biện pháp sinh học:

+ Trong vườn nên bón nhiều phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma vừa giúp phân hủy chất hữu cơ nhanh, vừa diệt mầm bệnh trong đất.

- Biện pháp hóa học:

+ Phun thuốc trừ nấm gốc đồng sau khi thu hoạch, cắt tỉa bộ phận bị bệnh để làm giảm áp lực mầm bệnh, phun lần 2 khi có nụ hoa.

+ Phun thuốc gốc Propineb khi vừa đậu trái hoặc một số loại thuốc có hoạt chất như Azoxytrobin, Chlorothalonil, Mancozeb, Kasugamycin,…

2. Bệnh thối cành (nấm Alternaria sp.)

Có thể gọi là bệnh thối ngọn hoặc thối đầu cành. Ngọn cành thanh long bị bệnh chuyển màu vàng nâu, mềm ra, sau đó bị thối. Vết thối thường bắt đầu từ ngọn xuống.

Cây bị bệnh phát triển chậm, số cành giảm. Bệnh thường phát sinh vào mùa nắng và đầu mùa mưa.

b) Biện pháp quản lý

- Cung cấp đủ nước cho cây vào mùa nắng. Tránh tưới cây vào lúc trời nắng gắt. Vườn phải thoát nước tốt.

- Bón phân cân đối.

- Cắt bỏ cành bị bệnh và đem tiêu hủy.

- Phát hiện và phun trừ bệnh sớm  bằng các boại thuốc BVTV có chứa hoạt chất như Mancozeb, Azoxytrobin, Chitosan, Propineb,…

3. Bệnh đốm nâu (nấm Neoscytalidium dimidiatum)

a) Cách gây hại

Bệnh đốm nâu hại thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra. Bào tử nấm gây bệnh nẩy mầm trên bề mặt tiếp xúc rồi xâm nhập vào trong mô gây hoại tử, bệnh gây hại cả trên thân cành và quả thanh long.

- Trên thân cành: Khi mới xuất hiện, triệu chứng ban đầu là các vết lõm màu trắng (nên một số nông dân còn gọi là bệnh đốm trắng,…), sau đó vết bệnh nổi lên thành những đốm tròn màu nâu như mắt cua. Trong điều kiện thuận lợi bệnh phát triển mạnh, các vết bệnh liên kết với nhau làm cho cành thanh long bị sần sùi, gây thối khô từng mảng.

- Trên quả: Tương tự như trên thân cành, những đốm làm cho vỏ quả trở nên sần sùi thối khô từng mảng. Bệnh nặng có thể gây nám (rám) cả quả làm giảm giá trị thương phẩm nghiêm trọng.

Bệnh phát sinh phát triển và lây lan nhanh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, ẩm độ không khí cao, nhất là vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Bệnh phát sinh gây hại nặng hơn trên những vườn thanh long bón nhiều phân đạm, sử dụng nhiều chất kích thích sinh trưởng. Bệnh đốm nâu cây thanh long lây lan chủ yếu qua các con đường: Qua hom giống, tàn dư cây bệnh và các sản phẩm của thanh long. Bào tử nấm phát tán, lây lan nhờ gió, dòng nước chảy và qua một số sinh vật (một số loài ốc sên, côn trùng).

b) Biện pháp quản lý

Để phòng chống bệnh đốm nâu hại thanh long hiệu quả phải áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

- Biện pháp canh tác:

 Vệ sinh sạch cỏ dại, tiến hành tỉa cành cho vườn thông thoáng, sạch sẽ, không để vườn quá rậm rạp.

Thường xuyên kiểm tra vườn, nhất là những vườn cận kề vườn bệnh và vườn um tùm, xanh tốt hoặc vào thời điểm ẩm độ không khí cao.

Không tưới nước vào chiều tối vì sẽ tạo điều kiện ẩm độ cho bào tử nấm gây bệnh nảy mầm, gây hại. Không tưới phun trên tán cây.

Loại bỏ những cành, quả bị bệnh, thu gom chôn lấp, rắc vôi bột tiêu hủy (không được bỏ cành bệnh, quả bệnh xuống nguồn nước hay vứt tại vườn).

Bón phân cân đối, tránh bón thừa phân đạm và sử dụng nhiều lần chất kích thích sinh trưởng khi cây bị bệnh, tăng cường bón lân, kali và phân hữu cơ hoai mục cũng như việc bổ sung thêm phân có hàm lượng canxi, magiê, silíc để tăng sức đề kháng cho cây.

- Biện pháp sinh học

Cuối mùa khô hoặc đầu mùa mưa có thể dùng nấm Trichoderma trộn với phân hữu cơ hoai bón vào gốc để tăng khả năng kiểm soát nguồn bệnh trong đất. Có thể bón Trichoderma lần 2 vào giữa mùa mưa. Liều lượng theo khuyến cáo ghi trên bao bì sản phẩm.

- Sử dụng giống sạch bệnh:

Tuyệt đối không được lấy giống, giâm chiết cành từ những khu vực bị bệnh hoặc không có nguồn gốc rõ ràng.

Không vận chuyển cành, quả bị bệnh từ khu vực có bệnh sang khu vực khác.

- Biện pháp hóa học

Cuối mùa khô tiến hành rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 1 – 2 tấn/ha.

Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện bệnh sớm khi mới chớm xuất hiện để phun trừ kịp thời. Trong mùa mưa sau mỗi đợt khô kéo dài cần chú ý kiểm tra bệnh để phun trừ bệnh kịp thời. Khi phát hiện bệnh đốm nâu mới chớm xuất hiện có thể sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ bệnh.

Có thể sử dụng thuốc BVTV trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam như: hoạt chất Phosphorus acid; các loại thuốc gốc đồng; hoạt chất Azoxystrobin,  Hexaconazole,  Mancozeb, Physcion,… để phòng trừ bệnh đốm nâu. Liều lượng dùng theo khuyến cáo trên bao bì của nhà sản xuất.

Lưu ý: Sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly theo khuyến cáo trên bao bì của từng loại thuốc.

4. Bệnh vàng bẹ và rám cành (nấm Bipolaris crustaceaFusarium equiseti.)

a) Cách gây hại

Triệu chứng ban đầu trên cành xuất hiện các vết chấm li ti hình dạng không nhất định, có màu nâu đỏ, xung quanh vết bệnh có viền màu vàng, vết bệnh sau đó lan dần ra, liên kết lại với nhau làm vàng cả bẹ (Bipolaris crustacea). Ngoài ra, liên quan đến bệnh vàng bẹ còn có triệu chứng khác đó là ở phía mặt trên bẹ lúc đầu xuất hiện những vệt có màu xanh, xuất hiện lốm đốm trên bẹ, xung quanh các vệt này có màu vàng. Sau đó, các vệt này gồ lên trên bề mặt bẹ thanh long, chúng có màu nâu xám. Nếu các vết bệnh này lan rộng ra, liên kết lại với nhau sẽ tạo thành những mãng lớn và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây thối bẹ (Fusarium equiseti).

Bệnh thường phát triển mạnh vào mùa nắng, đặc biệt khi nhiệt độ cao và ẩm độ cao.

Mầm bệnh có thể lưu tồn quanh năm trong vườn. Chúng tồn tại trong đất, xác bã thực vật, những cây bị nhiễm bệnh từ vụ trước,…


b) Biện pháp quản lý

- Đối với những cành bệnh nặng tuyệt đối không tưới nước vào buổi trưa nắng nóng, chỉ tưới nước lên đầu trụ lúc sáng sớm hay chiều mát.

- Chăm sóc và bón phân kịp thời, cân đối NPK, không được bón dư đạm. Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng lân, canxi, magiê cao.

- Ở những cành đã bị bệnh nặng (thối phần thịt lá), cần tỉa bỏ cành và tiêu hủy, đồng thời tiến hành phun thuốc trừ bệnh. Có thể sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất như Kasugamycin, Azoxytrobin, Mancozeb, …

5. Bệnh thối trái

a) Cách gây hại

Đối với thanh long ruột đỏ: bệnh do vi khuẩn Erwinia chrysanthemi và nấm Rhizopus sp. gây ra.

Đối với thanh long ruột trắng: chỉ do tác nhân vi khuẩn Erwinia chrysanthemi gây ra.

 Bệnh thường xuyên xuất hiện ở giai đoạn cây ra nụ, sau khi hoa nở (2-3 ngày sau khi phát hoa héo) và ở giai đoạn trái non. Bệnh phát triển và lây lan rất nhanh chóng nhất là trong điều kiện ẩm độ cao và mưa thường xuyên. Triệu chứng ban đầu là nụ hoặc trái có vết bị thối nhũn, có bọt khí nổi trên bề mặt vết bệnh, bên trên vết bệnh có xuất hiện lớp tơ nấm màu đen, và rất nhanh chóng lan rộng rộng ra làm thối cả trái (sau khoảng 12-24 giờ). Trái bị thối ngửi có mùi hôi (mùi lên men rượu). Bệnh thối trái phát triển mạnh cả trong mùa nắng và mùa mưa khi gặp điều kiện ẩm ướt và nhiệt độ không khí khoảng 25-300C. 

b) Biện pháp quản lý

- Vệ sinh vườn và tiêu huỷ cành, nụ bông và trái bị nhiễm bệnh từ vụ trước.

 -  Bón vôi cho toàn bộ vườn thanh long với liều lượng khoảng 1-2kg/ trụ. 

- Sau đó, bón phân và chăm sóc theo đúng qui trình canh tác thanh long. Có thể phun ngừa bệnh bằng thuốc gốc đồng, Chitosan, Kasugamycin, Quaternary Ammonium Salts, Bronopol, Oxolinic acid, Kasugamycin, Ningnanmycin, Copper Oxychloride + Kasugamycin, Gentamicin sulfate + Oxytetracycline Hydrochloride, Oxytetracycline hydrochloride  + Streptomycin sulfate, …Phun phủ toàn bộ trụ thanh long.

Bảng tóm tắt các đối tượng gây hại theo từng giai đoạn sinh trưởng và biện pháp phòng trừ:

TT

Giai đoạn

Đối tượng

Phòng trừ (theo liều lượng khuyến cáo)

1

 

 

Kiến thiết cơ bản

 

 

 

Rệp sáp

- Vệ sinh vườn

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bơm xịt mạnh tia nước vào chỗ có nhiều rệp đeo bám. Phun dầu khoáng (Petroleum spray oil)

- Ngoài ra có thể sử dụng một số thuốc hóa học chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Chlorpyrifos Methyl; Spirotetramat, Pymetrozine,…

 

 

Thán thư

- Vệ sinh đồng ruộng. Trong vườn nên bón nhiều phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma.

- Biện pháp hóa học: Phun thuốc trừ nấm gốc đồng sau khi thu hoạch và khi có nụ hoa. Phun thuốc gốc Propineb khi vừa đậu trái và một số thuốc có hoạt chất như Azoxytrobin, Chlorothalonil, Mancozeb, Kasugamycin,…

 

 

Thối cành

- Cung cấp đủ nước, bón phân cân đối.

- Cắt bỏ cành bị bệnh và đem tiêu hủy.

- Khi phát hiện mới có bệnh dùng các thuốc có chứa hoạt chất như Mancozeb, Azoxytrobin, Chitosan, Propineb,…

 

 

 

Đốm nâu

- Vệ sinh vườn cây, bón phân cân đối, sử dụng giống sạch bệnh.

-    Dùng nấm Trichoderma trộn với phân hữu cơ bón vào gốc để tăng khả năng kiểm soát nguồn bệnh trong đất.

- Cuối mùa khô tiến hành rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 1 – 2 tấn/ha.

- Có thể sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất Phosphorus acid; các loại thuốc gốc đồng; hoạt chất Azoxystrobin,   Hexaconazole,  Mancozeb, Fluoxastrobin + Chlorothalonil.

 

 

Vàng bẹ, rám cành

- Tuyệt đối không tưới nước vào buổi trưa nắng nóng.

- Bón phân cân đối. Sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng lân, canxi, magiê cao.

- Ở những cành đã bị bệnh nặng (thối phần thịt lá), cần tỉa bỏ cành và tiêu hủy, đồng thời tiến hành phun thuốc trừ bệnh. Có thể sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất như Kasugamycin, Azoxytrobin, Mancozeb, …

2

Kinh doanh

Rệp sáp

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Rầy mềm

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp

- Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Bảo tồn thiên địch. Phun dầu khoáng nồng độ 0,5 – 1%.

- Sử dụng thuốc chứa hoạt chất như Abamectin, Emamectin benzoate, Pymetrozine,… theo liều lượng khuyến cáo và luân phiên nhau.

 

 

 

Bọ xít

- Vệ sinh vườn, phát quang, bón phân chuồng hoai; tạo điều kiện thuận lợi cho kiến vàng, ong sinh phát triển

- Tỉa cành để các đọt non hoa ra tập trung.

- Bắt bằng tay bọ xít trưởng thành.

- Phòng trị bằng các loại thuốc chứa hoạt chất như Etofenprox, Pymetrozine,... luân phiên nhau và theo liều lượng khuyến cáo.

 

 

Ruồi đục quả

- Vệ sinh đồng ruộng

- Xử lý cho ra hoa đồng loạt trên diện tích lớn để dễ quản lý.

 - Biện pháp bao trái có tác dụng hạn chế ruồi đục trái. Bao trái sau khi hoa thụ phấn 3 – 4 ngày.

- Khi ruồi trưởng thành phát sinh dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugennol, chế phẩm Protein thủy phân để dẫn dụ.

 

 

Bọ trĩ

- Tỉa cành thông thoáng; Xử lý cây ra đọt, ra hoa tập trung.

- Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp lên trái non để rữa trôi bọ trĩ.

- Bảo tồn thiên địch.

- Phun dầu khoáng DC Tron plus nồng độ 0,5 –1%.

- Thăm vườn thường xuyên, nếu phát hiện bọ trĩ mật số cao nên sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV: Abamectin, Emamectin Benzoate, Spinetoram và Emamectin Benzoate+Matrine, Garlicin vào thời điểm bọ trĩ gây hại

 

 

Thán thư

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Thối cành

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Đốm nâu

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

Vàng bẹ, rám cành

- Phòng trị như ở giai đoạn kiến thiết cơ bản

 

 

 

 

Thối trái

- Vệ sinh vườn và tiêu huỷ cành, nụ bông và trái bị nhiễm bệnh từ vụ trước.

-  Bón vôi cho toàn bộ vườn thanh long với liều lượng khoảng 1-2kg/ trụ.

- Có thể phun ngừa bệnh bằng thuốc gốc đồng, Chitosan, Kasugamycin…Phun phủ toàn bộ trụ thanh long.


Ghi chú: Không sử dụng liên tục một loại hoạt chất hơn 03 lần phun, nên luân phiên các loại hoạt chất khác nhau để hạn chế bộc phát tính kháng và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

VI. THU HOẠCH

          Thanh long nên thu hoạch trong thời gian 30 – 32 ngày sau khi hoa nở để có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn. Phải bảo đảm thời gian cách ly thuốc BVTV theo khuyến cáo sử dụng.

          Thu hoạch lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào quả làm tăng nhiệt độ trong quả, mất nước nhanh ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian bảo quản.

          Hái quả bằng kéo cắt tỉa cành sắc bén, khi cắt quả xong cho vào giỏ nhựa, để trong mát, vận chuyển ngay về nhà đóng gói càng sớm càng tốt, không để lâu ngoài vườn.

          Không đặt quả xuống đất trong khi hái nhằm tránh nhiễm nấm.

          Không chất quả quá đầy giỏ khi vận chuyển, bao lót kỹ, che phủ mặt giỏ bằng giấy, lá, tránh ánh nắng chiếu và tổn thương khi va chạm./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thanh long - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam - Trung tâm Khuyến nông Quốc gia; Hà Nội, 2017.

2. Giáo trình Môđun - Quản lý dịch hại thanh long - Bộ Nông nghiệp và PTNT - 2012.

3. Quy trình sản xuất thanh long theo VietGAP - Trung tâm NCPT Cây thanh long - 2008.

Chi cục Trồng trọt và BVTV

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lúaNông nghiệpBài viếtChi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vậtKỹ thuật trồng và chăm sóc cây lúa/PublishingImages/2019-04/Cây lúa.jpg
Tại Tây Ninh các vùng sản xuất lúa tập trung chủ yếu vào 02 loại hình:
Đất giàu hữu cơ, trũng thấp, ven sông Vàm Cỏ được bổ sung phù sa hàng năm; sản xuất 02 vụ lúa chính/năm với năng suất lúa đạt khá cao tương đương vùng ĐBSCL, không sản xuất vụ 3 do ngập.
Đất triền gò, cát pha, nguồn nước tưới được cung cấp đầy đủ từ hệ thống thủy lợi, có thể sản xuất 03 vụ lúa /năm hoặc luân canh từ 01 – 02 vụ trồng cây rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên loại đất này thường cho năng suất đạt không cao so với đất phù sa ven sông
4/29/2019 6:00 PMYesĐã ban hành

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY LÚA

 

I. YÊU CẦU VỀ SINH THÁI

1. Đất trồng

Đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa. Ngoài ra, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động nước.

2. Nước tưới

Lượng mưa: Yêu cầu 900 - 1100 mm cho một vụ lúa. Tại Tây Ninh hàng năm có tổng lượng mưa khoảng 1.800 mm, phù hợp để trồng lúa. Ngoài ra, lượng nước còn được bổ sung từ hệ thống thủy lợi cung cấp đủ để tưới cho các vùng trồng lúa.

3. Ánh sáng 

Cây lúa có yêu cầu thời gian chiếu sáng < 13 giờ/ngày và thích hợp nhất từ 9 – 10 giờ/ngày.

4. Nhiệt độ  

Tây Ninh có nhiệt độ cao quanh năm và tương đối ổn định từ 26 – 32oC nên có thể trồng lúa quanh năm và thích hợp nhất từ 26-28oC. Nhiệt độ trên 40oC hoặc dưới 17oC, cây lúa tăng trưởng chậm lại. Dưới 13oC cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài 1 tuần lễ cây lúa sẽ chết.

II. CÁC VÙNG SẢN XUẤT

Tại Tây Ninh các vùng sản xuất lúa tập trung chủ yếu vào 02 loại hình:

Đất giàu hữu cơ, trũng thấp, ven sông Vàm Cỏ được bổ sung phù sa hàng năm; sản xuất 02 vụ lúa chính/năm với năng suất lúa đạt khá cao tương đương vùng ĐBSCL, không sản xuất vụ 3 do ngập.

Đất triền gò, cát pha, nguồn nước tưới được cung cấp đầy đủ từ hệ thống thủy lợi, có thể sản xuất 03 vụ lúa /năm hoặc luân canh từ 01 – 02 vụ trồng cây rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên loại đất này thường cho năng suất đạt không cao so với đất phù sa ven sông.

III. CÁC GIỐNG LÚA PHỔ BIẾN

Chọn giống lúa có năng suất cao, chống chịu được một số sâu bệnh hại và phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương như:

- Giống có thời gian sinh trưởng từ 85 – 90 ngày: IR 50404 (hạn chế trồng trên diện tích lớn).

- Giống có thời gian sinh trưởng từ 90 – 100 ngày: OM 4900, OM 5451, OM 6162, OM 6976, OM 7347, OM 4218, OM 2517,…

- Giống có thời gian sinh trưởng từ 100 – 115 ngày (trung vụ): OM 1352, OM 576 (trâu nằm, hầm trâu),….

IV. KỸ THUẬT CANH TÁC           

1. Thời vụ trồng

Tại Tây Ninh, một năm có thể gieo trồng 3 vụ lúa, thời điểm xuống giống từng vụ thường tập trung vào thời gian:

- Vụ Hè thu: tháng 4–5 (DL).

- Vụ Mùa (vụ Thu đông): tháng 8–9 (DL).

- Vụ Đông xuân: tháng 11–12 (DL).

Thời điểm gieo sạ cụ thể từng vụ tuân thủ theo lịch xuống giống tập trung của ngành Nông nghiệp.

2. Chuẩn bị giống

a. Chuẩn bị hạt giống

- Sử dụng hạt giống lúa cấp xác nhận.

- Trước khi ngâm ủ nên phơi lại dưới nắng nhẹ khoảng 2 – 3 giờ, sau đó mới tiến hành ngâm ủ. Tốt nhất lấy một ít hạt giống đại diện kiểm tra tỷ lệ nảy mầm, trong trường hợp tỷ lệ nảy mầm đạt > 80%, mầm mọc đều, khỏe thì  tiến hành ngâm ủ chính thức. Để loại bỏ hạt lép lững, có thể xử lý trong nước sạch hoặc nước muối 15%  (15 kg muối + 100 lít nước /100 kg giống /10 phút) và xả lại bằng nước nhiều lần cho sạch muối mới đem ngâm ủ hạt giống.

- Ngâm giống: Ngâm hạt giống trong 12 - 24 giờ, trong quá trình ngâm cần rửa chua, nhờn thay nước sạch  từ 1-2 lần. Trong trường hợp  lúa giống mới thu hoạch còn miên trạng, cần ngâm giống trong dung dịch Axit nitric (HNO3) có liều lượng 100 ml/100 lít nước/ 100 kg lúa giống/ 24–36 giờ, sau đó rửa giống cho sạch hết axit và tiến hành ủ bình thường.

- Ủ giống: Cho hạt giống vào bao (bao không giữ nước), ủ kín trong thời gian 12 – 24 giờ, cho đến khi mầm lúa được 0,5 – 1,0 mm để thuận lợi cho việc kéo hàng. Thường xuyên kiểm tra đống ủ nhằm đảo bảo hạt giống đủ m, nhiệt độ không nóng hoặc quá lạnh sẽ làm giảm sức nẩy mầm của hạt.

b. Biện pháp gieo sạ, mật độ sạ

Lượng hạt giống cho sạ lan: 100–120 kg/ ha; sạ hàng: 80–100 kg/ ha.

Gieo hàng bằng công cụ sạ hàng kéo tay hoặc liên hợp với máy kéo.

3. Chuẩn bị đất (làm đất)

- Cày đất bằng máy với độ sâu từ 15–20 cm. Nếu có điều kiện nên cày phơi ải đất thời gian 15-20 ngày.

- Bừa, trục và san bằng mặt ruộng bằng máy kéo bánh lồng có công cụ trang phẳng mặt ruộng kèm theo, trường hợp có điều kiện nên sử dụng máy san phẳng mặt ruộng bằng tia laser.

Chú ý: Mặt ruộng bằng phẳng, đánh rãnh thoát nước và và quản lý nước tốt để hạn chế cỏ dại, ốc bươu vàng, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt,...

4. Phân bón:

Lượng phân bón cần cho 1 ha lúa: Phân hữu cơ 8-10 tấn hoặc phân hữu cơ vi sinh 1.000–1.500 kg, vôi bột 300–400 kg và (80–100) N – (50–60) P2O5 – (80–100) K2O.

Tuỳ theo mùa vụ và độ phì nhiêu của đất mà quy đổi  lượng phân bón sử dụng cho phù hợp.

Cách bón:

- Bón lót: Toàn bộ vôi, phân chuồng hoai và lân (vôi bột: bón trước khi sạ 15 – 20 ngày lúc cày phơi ải; phân chuồng hoai và lân bón trước khi bừa trục lần cuối).

- Bón thúc lần 1 (7 – 10 NSS): 1/3 N + 1/3 K2O

- Bón thúc lần 2 (18 – 22 NSS): 1/3 N.

- Bón thúc lần 3 (38 – 45 NSS): 1/3 N + 2/3 K2O (bón khi lúa có tim đèn).

Ghi chú: - NSS: ngày sau sạ

Sử dụng phân đơn bón cho lúa để tính toán lượng phân bón cân đối phù hợp theo nhu cầu của cây. Ngoài ra, hiện nay trên thị trường đã có nhiều loại phân bón chuyên dùng cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa có thể lựa chọn bổ sung cho phù hợp.

5. Quản lý nước

Áp dụng phương pháp tưới nước tiết kiệm "ướt khô xen kẽ". Trong đó:

- Giai đoạn cây con (0–7 NSS): Rút cạn nước trước khi sạ, đảm bảo ruộng đủ độ ẩm.

- Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (08 – 42 NSS): Giữ nước trên mặt ruộng ở mức 5 cm. Trong giai đoạn khoảng 30 – 35 NSS tùy theo thời gian sinh trưởng của giống, cần tháo cạn nước cho đất nứt nẻ chân chim, lá lúa hơi vàng, sau đó cho nước mới vào để bón phân lần 3.

- Giai đoạn sinh trưởng sinh thực (42 – 65 NSS): Giai đoạn này lúa cần nước nhiều, phải thường xuyên giữ nước trong ruộng ở mức 3–5 cm.

- Giai đoạn chín (65–95 NSS): Giữ nước trong ruộng ở mức 2–3 cm đến giai đoạn chín vàng (7–10 ngày trước khi thu hoạch) tháo cạn nước trong ruộng.

6. Phòng trừ cỏ dại:

- Sử dụng thuốc hóa học để phun trừ cỏ, gồm có 02 nhóm thuốc:

+ Thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm phun vào thời điểm từ 1–3 ngày sau sạ: Hoạt chất Pretilachlor, Pyrazosulfuron Ethyl, ...

+ Thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm phun vào thời điểm từ 5–10 ngày sau sạ: Cyhalofop-butyl, Quinclorac,...

* Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng thuốc hóa học để trừ cỏ:

- Chuẩn bị đất kỹ: ruộng cần phải bừa trục kỹ, mặt ruộng tương đối bằng phẳng để thuốc phân bố đều và tiếp xúc tốt với cỏ.

- Quản lý nước:

+ Rút cạn nước, đất phải đủ ẩm trước khi phun thuốc trừ cỏ.

+ Sau khi phun thuốc 2–3 ngày, lấy nước vào láng mặt ruộng, đất cần được giữ ẩm tốt trong vòng 3 – 5 ngày sau khi phun nhằm đảm bảo cho thuốc có đủ thời gian diệt cỏ hữu hiệu. Không nên để mặt ruộng bị khô, nứt nẻ.

- Thời điểm phun thuốc càng sớm càng hiệu quả, nhất là đối với thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm.

- Sử dụng đúng theo khuyến cáo của nhà sản xuất trên bao bì (nhãn  thuốc).

V. QUẢN LÝ SÂU BỆNH HẠI

Áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM). Thời kỳ trước 40 NSS không nên phun thuốc trừ sâu. Hạn chế tối đa sử dụng thuốc hóa học, nhất là các loại thuốc trừ  sâu phổ rộng để bảo tồn thiên địch tự nhiên trên ruộng, hạn chế bùng phát rầy nâu ở giai đoạn sau trổ.

Thăm đồng thường xuyên, theo dõi sự xuất hiện của sâu bệnh hại và đưa ra biện pháp phòng trị hiệu quả.

1. Ốc bươu vàng (Pomacea sp.)

Ốc bươu vàng là loại ốc sống ở nước ngọt, ăn tạp, có tính thích nghi cao, trong điều kiện  nước bẩn, nước phèn ,… chúng đều sống và phát triển được; kết hợp đặc tính sinh sản nhanh nên ốc bươu vàng đã lây lan và phát triển rộng khắp các vùng trồng lúa.

Trên lúa ốc bươu vàng gây hại từ khi mọc mầm đến hết tuổi mạ, làm mất cây, tốn công dặm và làm giảm năng suất. Khi mật số cao gây hại nặng phải gieo sạ lại.

Ốc đẻ tập trung từng cụm từ 25 – 500 trứng, thường đẻ vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối. Ốc có tập tính đẻ trứng lên các  cây, cọc và các vật cứng khác cách mặt nước 0,3 – 0,5 m. Từ khi đẻ đến lúc trứng nở 7 – 14 ngày. Trứng ốc mới đẻ có màu đỏ hồng, sau nhạt dần, khi gần nở trứng có màu hồng nhạt.


Ốc mới nở có vỏ mềm, rơi xuống nước thì nổi lập lờ trên mặt nước. Sau 2 ngày thì vỏ ốc cứng, có kích thước 2 – 5 mm. Ốc sống và phát triển mạnh ở dưới nước trong các ao, hồ, kênh, mương, sông ngòi, ruộng ngập nước, nhưng cũng sống được một thời gian trên cạn. Khi trời nóng thì ốc lặn sâu dưới mặt nước và thường tập trung ở nơi bóng râm. Khi ruộng, ao, hồ cạn nước, ốc chui sâu trong bùn, ngủ nghĩ. Thời gian ngủ nghĩ có thể kéo dài đến  6 tháng. Khi có nước ốc lại tiếp tục phát triển. Ruộng nào có nước quanh năm thì ốc cũng hiện diện quanh năm. Thời kỳ ốc non từ 15 – 25 ngày, thời kỳ ốc trưởng thành 26 – 59 ngày. Ốc trưởng thành bắt đầu giao phối và đẻ trứng. Ốc trưởng thành  có thể sống đến 3 năm.

Phòng trừ:

- Biện pháp canh tác:

+  Làm rãnh quanh ruộng cho ốc tập trung xuống rãnh để dễ thu lượm.

+  Bắt ốc vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối là lúc ốc hoạt động mạnh. Bắt ốc theo các rãnh, lưới chắn. Chú ý ốc thường ở nơi có mực nước sâu hơn so với mực nước chung trên mặt ruộng. Thường xuyên bắt ốc từ khi gieo sạ - thu hoạch.

+ Cắm cọc ven bờ khoảng cách 3 – 4 m/ cây ở những nơi có nước chảy và chổ rảnh sâu để dẩn dụ ốc đến đẻ trứng, dể thu lượm và diệt trứng ốc. Diệt trứng ốc bằng cách đập nát hoặc đánh rơi xuống nước và trứng sẽ thối.

- Biện pháp hóa học:

Thuốc hóa học trừ diệt ốc bươu vàng thường rất độc với người, động vật thủy sinh và môi trường, chỉ sử dụng khi cần thiết và theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Có thể sử dụng một số loại thuốc có hoạt chất như: Metaldehyde, Niclosamide, Pentacyclic triterpenoids alcaloid, Saponin, Cafein + Nicotine Sulfate + Azadirachtin,  hoặc hợp chất phối hợp có trong danh mục được phép sử dụng ở VN.

2. Bọ trĩ  (Baliothrips oryzae)

Bọ trĩ (bù lạch) thường gây hại khi lúa có 2 lá mầm đến đẻ nhánh. Ấu trùng và thành trùng chích vào mô lá để hút nhựa cây, chúng thường phá hại mạnh ở phiến lá của những lá non. Những lá bị hại có những đường sọc màu bạc, hai mép lá cuộn vào trong theo chiều dọc lá tạo thành nơi trú ẩn cho cả thành trùng và ấu trùng. Khi bị hại nặng,  mô diệp lục lá bị mất chỉ còn lại màng biểu bì trong suốt, lá bị vàng và cuốn từ chóp lá trở vào.

Bọ trĩ gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết nóng, khô; ruộng thiếu nước, thiếu phân.


Hình 2: Triệu chứng gây hại của bọ trĩ (sưu tầm)

Phòng trị:

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ quanh bờ nhất là nhóm cỏ họ hòa bản.

+ Khi ruộng bị gây hại, cho nước vào ruộng làm ngập đọt lúa khoảng 2 ngày để diệt bọ trĩ.

+ Bón phân sớm, đầy đủ, cân đối và cung cấp đủ nước tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng mạnh, tăng khả năng đền bù.

+ Khi phát hiện 15% tép, dảnh lúa bị hại, có thể sử dụng thuốc BVTV một trong số hoạt chất như: Abamectin, Dinotefuran, Clothianidin, Nitenpyram,  Imidacloprid..... Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

3. Sâu phao (Nymphula depunctatus Guenee)

Sâu phao thường gây hại ở chân ruộng ngập nước và tấn công trên lúa giai đoạn mạ đến đẻ nhánh, chúng cắn lá để cuốn lại thành bao làm lá bị đứt ngang giống như kéo cắt. Sâu non tuổi nhỏ nằm trong phao và ló đầu ra cạp mô diệp lục của lá, chỉ để lại lớp biểu bì mỏng xơ trắng, vết cạp của sâu nằm theo chiều ngang lá lúa. Sâu non tuổi lớn cắn cụt đầu lá, tạo thành các phao lá nổi trên mặt nước ruộng. Ruộng bị tấn công nặng có màu hơi trắng vì đầu lá bị hư. Thông thường sâu phao chỉ xuất hiện 1 đợt trong 1 vụ lúc lúa tuổi mạ đến cuối đẻ nhánh. Trong ruộng lúa, cùng có sự xuất hiện gây hại của ruồi đục lá và sâu đục thân thì tác hại càng lớn.


Hình 3: Sâu phao hại lúa (sưu tầm)

Phòng trị: Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại. Khi sâu phao xuất hiện nhiều, có mật số ≥ 20 con/m2 ,tháo cạn nước, thu gom các tổ sâu lại đem hủy; có thể dùng thuốc hóa học có hoạt chất sau để phun xịt như: Abamectin, Azadirachtin,  Chlorantraniliprole, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Lambda-cyhalothrin, Cypermethrin, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,…… Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

4. Sâu keo, sâu đàn   (Spodoptera mauritia)

Sâu keo có khả năng phát sinh thành dịch ở những vùng lúa sau vụ ngập lụt. Tùy theo tuổi sâu mà có triệu chứng gây hại khác nhau: Sâu non tuổi 1,2 ăn phần thịt lá, chỉ để lại biểu bì có vệt trắng dài. Tuổi 3: ăn khuyết lá. Từ tuổi 4, 5, 6 vết khuyết càng lớn hoặc cắn cụt lá, thân mạ. Khi thành dịch, sâu cắn cả 1 vạt lúa như trâu bò ăn.


Hình 4: Sâu keo và triệu chứng gây hại (sưu tầm)

Phòng trị: Khi phát hiện trên ruộng có mật số sâu ≥ 2 con/m2 , có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để phun xịt như: Abamectin, Chlorantraniliprole, Cartap, Azadirachtin, Emamectin benzoate, Indoxacarb, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam, Chlorantraniliprole + Lambda-cyhalothrin,… Lưu ý: Phun vào lúc chiều tối và liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

5. Sâu năn hại lúa (Orseolia oryzae)

Còn gọi là muỗi lá hành, sâu ống hành.

Triệu chứng điển hình là lá ngọn của lúa cuốn tròn lại như lá hành, có màu xanh nhạt, phía đầu lá hành được bịt kín bằng một nút cứng do mô lá tạo thành.          Khi sâu non mới xâm nhập vào đỉnh sinh trưởnglàm gốc dảnh lúa tròn và to lên. Khi lá hành chưa vươn ra ngoài còn ở trong thân lúa, làm thân lúa hoặc mạ phình lên rõ rệt. Ống hành thường xuất hiện trong khoảng thời gian 7 – 10 ngày sau khi sâu non xâm nhập vào đỉnh sinh trưởng. Dảnh lúa bị biến thành ống hành sẽ không trỗ bông được nhưng có thể mọc chồi mới để bù lại số chồi bị hại. Nếu ruộng bị hại sớm, khả năng đền bù cao sẽ ít ảnh hưởng đến năng suất.


Hình 5: Triệu chứng gây hại của sâu năn - muỗi hành (sưu tầm)

Sâu năn phát triển trong điều kiện thời tiết tương đối ẩm, có mưa và ít nắng. Sâu thường phát sinh mạnh trong điều kiện thời tiết âm u, mưa nhiều, nhiệt độ từ 22-250C, ẩm độ từ 80-90%. Ngoài cây lúa, sâu năn còn có thể sinh sống trên các ký chủ phụ như lúa chét, lúa ma, một số các loại cỏ hòa bản như cỏ lồng vực (Echinochloa colona, E. crusgalli), cỏ san nước (Paspalum distichum), cỏ mỡ (Ischaemum aristatum), cỏ bắc (Leersia hexandra), cỏ ống (Panicum repens), cỏ lông tây (Brachiaria mutica), … trong thời kỳ không có lúa trên đồng.

Phòng trị:

- Vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ lúa chét, cỏ dại và các ký chủ phụ của sâu năn. Gieo sạ đồng loạt trên từng cánh đồng. Dùng bẫy đèn để diệt muỗi và dự báo đợt sâu gây hại. Kịp thời tháo nước phơi ruộng hạn chế sự lây lan phát triển của sâu, nhất là khi phát hiện trên ruộng chớm có dảnh lúa bị hại. Bón phân cân đối giữa N – P – K, tránh bón thừa đạm; bón phân đúng lúc giúp lúa đẻ nhánh tập trung. Sâu năn có nhiều loại thiên địch, nhất là loài ong ký sinh trên sâu non. Thường sau một đợt sâu năn phát sinh rộ, mật độ ký sinh cũng tăng làm giảm hẳn mật độ sâu của lứa sau, do đó khi sử dụng thuốc phòng trừ cần chú ý đặc điểm này.

- Khi phát hiện trên ruộng ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh có tỷ lệ ≥ 20%; giai đoạn làm đòng – trổ có tỷ lệ ≥ 10% và sâu chưa hóa nhộng, muỗi thì có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để rải hoặc phun xịt như: Chlorantraniliprole, Cartap, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, … Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý: Không phun, rải thuốc khi sâu đã hóa nhộng, hóa muỗi.

6. Sâu đục thân

Gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của lúa (kể cả giai mạ). Ở giai đoạn mạ - làm đòng, sâu non đục lổ chui vào thân cắn đứt ngang đọt lúa làm đọt lúa bị héo, sau đó dảnh lúa này chết. Vào giai đoạn lúa trổ, sâu cắn đứt ngang cuốn bông làm bông lúa không kết hạt được, bị bạc trắng (hiện tượng bông bạc). Dảnh lúa bị héo và bông bạc do sâu đục thân có thể rút ra dễ dàng. Sâu có thể gây hại các vụ lúa trong năm và thường xuất hiện 2 đợt/vụ: lúc lúa đẻ nhánh và lúc lúa trổ,  giai đoạn lúa trổ bị hại nặng nhất.


Hình 6: Triệu chứng gây hại của sâu đục thân (sưu tầm)

Phòng trị:

+ Sau khi thu hoạch dọn hết rơm rạ, cày lật đất để tiêu diệt sâu non và nhộng.

+ Trong thời gian mạ ngắt bỏ ổ trứng ngăn ngừa lứa sâu non.

+ Bón phân cân đối đầy đủ, quản lý nước, làm sạch cỏ dại ,… tạo điều kiện lúa sinh trưởng tốt tăng khả năng đền bù.

+ Dùng bẫy đèn thu bắt bướm để dự báo lứa sâu non phát sinh gây hại.

+ Khi phát hiện mật độ ổ trứng từ 0,5 ổ/m2; 10 % tép, dảnh lúa bị héo ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh hoặc 0,3 ổ trứng/m2; 5% bông bạc ở giai đoạn làm đòng - trỗ thì có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất sau để rải hoặc phun xịt như: Chlorantraniliprole, Cartap, Fipronil, Carbosulfan, Dimethoate   + Fenobucarb, … Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm.

Lưu ý: Các dạng thuốc hạt dùng rải trên ruộng và giữ mực nước từ 3 – 5 cm.

7. Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis)

Sâu non gặm mô diệp lục chừa lại lớp biểu bì lá tạo thành những vệt trong và trắng theo chiều dọc của phiến lá. Sâu nhả tơ cuốn 2 mép lá lại  thành hình ống, sinh sống, gây hại và hóa nhộng bên trong. Ruộng lúa bị hại nặng, mỗi cây có nhiều lá bị cuốn trắng xơ xác và héo khô. Khi lúa ở giai đoạn đòng – trổ, sâu thường xuất hiện gây hại